www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 22

 

DỊCH-TƯỢNG-SỐ

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 164) 
 

THẢO-LUẬN 

QUỐC-TỘ-SỐ TRIỀU TỐNG
 

          Tống-Thái-tổ khai-cơ ứng với hào lục-ngũ quẻ Khuê, mà hào này âm-hào cư dương-vị, nên không hợp, sở dĩ phải biến ly thành kiền. Như thế, kiền với hạ-quái  đoài là thiên-quái, lại không hợp nữa, ắt biến đoài thành cấn, được quẻ thiên-sơn Độn. Đại-tượng-truyện quẻ này nói: "Thiên-hạ hữu sơn, Độn, quân-tử dĩ viến tiểu-nhân, bất ố nhi nghiêm = Dưới trời có núi tuợng-trưng cho sự trốn tránh, người quân-tử coi đó xa lánh kẻ tiểu-nhân, không ghét nó mà vẫn nghiêm-nghị". Điều đó muốn nói là chư tướng tự-ư từ bỏ các đất được vua phong cho, binh lính về theo, mới hoàn-thành được đế-nghiệp. Đến như thế-quái cuả hội là Khổn, là Đoài, là dương-quái, t́nh-h́nh này là hào hơp mà quẻ không hợp, sở dĩ tất nên biến quẻ Đoài thành quẻ Cấn. Lúc đó, Cấn lục-ngũ là âm-hào cư dương-vị bất-hợp, tái biến lục-ngũ thành cửu-ngũ. Nhân đó, cấn biến thành tốn, lúc đó thượng-hạ-quái đều là điạ-quái, tức phong-thủy Hoán. Đem nội-quái cuả Hoán biến thành ly, ngoại-quái tốn biến thành chấn, tức thành lôi-hoả Phong. Đặt bên trái. 

          Tháng giêng năm canh-thân (960), Tống Thái-tổ đăng-quang, niên-quái cuả vận là Lâm, sơ-hào trị-sự. Hào tuy hợp mà quẻ chẳng hợp, nhân đó biến đoài ra cấn, nhất-biến như thế, sơ hào vốn dĩ là dương-hào biến thành âm-hào, mà không hợp, v́ thế phải biến cấn thành ly, hào mới hợp. Chúng ta được thiên-hoả Đồng-nhân, quẻ này nội-ngoại-quái đều là thiên-quái, nhân đó nên đem nội-ngoại-quái biến thành điạ-quái, tức thị biên thành điạ-thủy Sư. Đặt bên phải.  

An lục-thân (xem bài kỳ 58) kèm theo chi và hành ta được biểu-đồ sau đây:

 

H́nh   Hai Quẻ Biểu-đạt Tống-triều Quốc-tộ-số 

Ngoại-quái cuả hai quẻ kể trên hợp thanh lôi-điạ Dự, hai nội-quái hợp thành hoả-thủy Vị-tế. Căn-cứ vào ấy tra Kư-tế đồ, Dự và Vị-tế đều treo một quẻ Kư-tế. Đó là thời cuả Nghiêu-Thuấn thiền-nhượng, tiểu-vận-quái đều là Kư-tế, mà nơi đây Tống-Thái-tổ khai-cơ cũng được quẻ Kư-tế, sở dĩ Tống-triều phong-thịnh có thể so-sánh với thời Nghiêu-Thuấn.

Năm quư-dậu, vận được 10, tháng được 144, ngày được 5070, giờ được 8640, hào được 384, tổng cộng  thành 14248 là bản-thân-số, đó là số cuả tuế.

10 tuế là 142480, 100 tuế là 1424800, 1000 tuế là 14248000. Nhân đó được trị-số 350, trong đó trừ bớt đi 19 năm nhuận, được 331, sở dĩ quốc-tộ Triều Tống là 331 năm, mà trên thực-tế Triều Tống từ năm 960 đến năm 1279 chỉ là 320 năm quốc-vận, sai mất 11 năm. Tại sao vậy? Nếu ta kể cả yếu-tố tuế-sai, th́ quốc-tộ-số cuả Triều Tống là 331 năm. 
 

THIỆU-TỬ THIẾT-BẢN THẦN-SỐ
 

          Theo truyền-thuyết, TBTS khởi nguyên từ Triều Tống, do Thiệu Khang-Tiết sáng nghĩ, mà thịnh-hành trong Khoảng Càn-long (trị v́ 60 năm từ 1736 đến 1795)/Gia-khánh (trị v́ 25 năm từ  1796 đến 1820). Lưu-truyền đến nay, TBTS có rất nhiều chi-lưu. Hai chi-lưu chính là chi-lưu Thượng-Hải và chi-lưu Tứ-xuyên. Trong chi-lưu Tứ-xuyên, Triệu Đạo-Tử làm đại-biểu. Trong chi-lưu Thượng-Hải, tác-giả sách này làm đại-biểu. C̣n nếu như xét tỵ-tổ cuả TBTS, th́ chỉ c̣n lại chi-lưu Tứ-xuyên mà thôi.

          Kiểm-văn TBTS chỉ có hai phiên-bản là phiên-bản 12000 điều và phiên-bản 6000 điều, kỳ dư đều là giả-mạo viết ra cốt để lường gạt người nhẹ dạ.

          TBTS là một thuật-số thủ-bí và thủ đức rất lợi-hại. Nếu không có thầy truyền-thụ, chỉ là một chiêu nửa thức. Mà cái thầy bói chuyên-nghiệp dùng TBTS, đă không được sư truyền, lại dấu kín như bưng.

          Có người khảo-chứng cho rằng TBTS không phải là sản-phẩm cuả Triều Tống. Rồi dẫn-chứng ra vài kiểm-văn bảo đó là sản-phẩm cuả Triều Thanh. Một bằng-chứng cụ-thể là trong điều-văn 'Hoàng-tuyền vô khách điếm, Kim dạ túc thùy gia' là lấy cuả Kim Thánh-Thán (1608-1661). Mà ông này lại là một nhân-vật cuối Minh đầu Thanh. Nhưng không nên kết-luận ngay rằng TBTS phải xuất-hiện sau Kim Thánh-Thán, tức là dưới Triều Thanh. Lư-luận thoạt nghe tưởng chừng hữu-lư, nhưng kỳ thực là sai lầm. Nhân v́ bất kỳ loại thuật-số nào, sau nhiều năm lưu-truyền, chỉ nên đánh giá đương thời mà thôi. Như Đời Thanh khoa-cử khác học-chế đời nay, ông nghè đời xưa là PH. D. bây giờ. 

          Cái gọi là cổn là lợi-dụng bát-quái phối-số, mà chuyển-hoán bát-quái số-tự, lấy thượng-quái và hạ-quái tổ-hợp là có thể suy ra điều-văn số-tự.

          C̣n như bát-quái phối-hợp số-tự, ta có chia làm ba đơn-nguyên:

          Đơn-nguyên gốc dựa vào bài-liệt bát-quái để tính 64 biệt-quái, mỗi biệt-quái có một số-tự để tiện liên-kết với 2 tổ-hợp kia mà t́m ra điều-văn số-tự. Số-tự bài liệt bát-quái là:

kiền 1, đoài 2, ly 3, chấn 4, tốn 5, khảm 6, cấn 7, khôn 8.

Bên trên tú-tượng ta thêm 1 hào dương hay 1 hào âm là ta có 3 hào. Lúc đó ta có đủ tam-tài mà ta gọi là bát-quái. Vị-trí bát-quái là: kiền 1, đoài 2, ly 3, chấn 4, tốn 5, khảm 6, cấn 7, khôn 8.

Về mặt Hà-đồ, kiền khôn khảm ly phân-cư tứ-thực, đoài chấn tốn  cấn phân cư tứ-hư.

Về mặt Lạc-thư¸kiền khôn ly khảm, phân cư tứ-phương (đông-tây-nam-bắc), đoài chấn tốn cấn phân cư tứ-ngung (dần-thân-tỵ-hợi).

Số-tự cuả 64-quái đệ-nhất-tổ là lấy 64-quái dàn thành thượng-hạ-quái, lại đem thượng-hạ-quái thửa đối-ứng bát-quái bài-liệt số-tự tổ-hợp lại, thượng-quái là hàng chục, hạ-quái là hàng đơn-vị, hai số tổ-hợp lại thành số-tự, tức thị đệ-nhất-tổ số-tự cuả quẻ ấy. Bản thân số này không đại-biểu điều-văn số-tự, mà là dùng để thêm bớt ngọ hầu tính ra điều-văn số-tự.

Ngoài ra, ư-nghiă cuả bát-quái-cổn tạm thời chưa  luận tói, mà đợi đến giai-đoạn 6 cuả bát-quái-cổn trân-tuyệt. Sau đây là 64-quái đệ-nhất-tổ gia giảm  số-tự:

Kiền: Thượng-quái 10 + hạ-quái 1 = 11. Thiên-trạch Lư: Thượng kiền 10 + hạ đoài 2 = 12. Thiên-hoả Đồng-nhân: Thượng kiền 10 + hạ ly 3 = 13. Thiên-lôi Vô-vọng: Thượng kiền 10 + hạ chấn 4 = 14. Thiên-phong Cấu: Thượng kiền 10 + hạ tốn 5 = 15; thiên-thủy Tung: Thượng kiền 10 + hạ khảm 6 = 16; thiên-sơn Độn: Thượng kiền 10 + hạ cấn 7 = 17; thiên-điạ Bĩ: Thượng kiền 10 + hạ khôn 8 = 18.

Phương-pháp tính các quẻ khác cũng tương-tự:

Trạch-thiên Quyết 21, Hoả-thiên Đại-hữu 31, Lôi-thiên Đại-tráng 41, Đoài 22.

Hoả-trạch Khuể 32, Lôi-trạch Quy-muội 42, Trạch-hoả Cách 23, Ly 33.

Lôi-hoả Phong 43, Trạch-lôi Tùy 24, Hoả-lôi Phệ-hạp 34, Chấn 44.

Hoả-phong Đỉnh 35, Trạch-phong Đại-quá 25, Lôi-phong Hằng 45, Trạch-thủy Khốn 26.

Lôi-thủy Giải 46, Hoả-thủy Vị-tế 36, Trạch-sơn Hàm 27, Hoả-sơn Lữ 37.

Trạch-điạ Tụy 28, Lôi-sơn Tiểu-quá 47, Hoả-điạ Tấn 38, Lôi-điạ Dự 48.

Thủy-thiên Nhu 64, Phong-thiên Tiểu-súc 51, Sơn-thiên Đại-súc 71, Phong-trạch Trung-phu 52.

Thủy-trạch Tiết 62, Sơn-trạch Tổn 72, Phong-hoả Gia-nhân 53, Thủy-hoả Kư-tế 63.

Sơn-hoả Bí 73, Phong-lôi Ích 54, Thủy-lôi Truân 64, Sơn-lôi Di 74.

Tốn 55, Thủy-phong Tỉnh 65, Sơn-phong Cổ 75, Phong-thủy Hoán 5.

Khảm 66, Sơn-thủy Mông 76, Phong-sơn Tiệm 57, Thủy-sơn Kiển 67.

Cấn 77,  Phong-điạ Quan 58, Thủy-điạ Tỷ 68, Sơn-điạ Bác 78.

Điạ-thiên Thái 81, Điạ-lôi Phục 84, Điạ-sơn Khiêm 87, Điạ-trạch Lâm 82.

Điạ-phong Thăng 85, Khôn  88, Điạ-hoả Minh-di 83, Điạ-thủy Sư 86. 

Thảo-luận bản  đơn-nguyên đích thị lấy bài-liệt thuận-tự cuả thứ-tự lạc-thư cuả bát-quái tiên-thiên, lấy đó mà kế-toán số-tự cuả mỗi quẻ trong 64 biệt-quái, để tiện phối-hợp với đệ-nhị-tổ số-tự mà t́m ra điều-văn số-tự.

Kiền 9  đoài 4  ly 3  chấn 8

tốn 2  khảm 7  cấn 6  khôn  1

kiền 9  chấn 8  khảm 7  cấn 6  đoài 4  ly 3  tốn 2  khôn 1

Về mặt âm-thần, dương thượng âm hạ, nên số 9 là kiền , số 1 là khôn.

Về mặt kiền sinh tam dương mà nói, từ số 9 đếm đi ắt chấn 8, khảm 7, cấn 6, là kiền sinh tam dương vậy. 

Về mặt khôn sinh tam âm mà nói, từ 1 đếm thuận đi, ắt tốn 2, ly 3, đoài 4, là khôn sinh tam âm vậy. 

64-quái đệ-nhị-tổ số-tự, chính là đem 64 quẻ chia thành thượng-hạ-quái, lại lấy thượng-quái với hạ-quái tương-ứng với tiên-thiên bát-quái phối-hợp lạc-thư số-tự mà kết-hợp, thượng-quái là hàng chục, hạ-quái là hàng đơn-vị, hai số tổ-hợp lại cho ta đệ-nhị-tổ số-tự cuả quẻ đương-quan.

64-quái đệ-nhị-tổ số-tự, bản thân không phải là đại-biểu cuả điều-văn số-tự, mà là dùng để thêm bớt đệ-nhất bí-số và biểu, ngơ hầu t́m ra điều-văn số-tự.

Trong số-tự cuả 64-quái đệ-nhị-tổ, lớn nhất là quẻ kiền với số-tự 99, nhỏ nhất là quẻ khôn với số-tự 11, tức thị số-tự ở trong khoảng 11-99.

Cái gọi là bát-quái-cổn chính là đem phối-số bí-số cuả 64-quái đệ-tam-tổ số-tự, ra hỗ-tương tổ-hợp, tức có thể sản-sinh ra số-tự khác, có thể dùng để thêm bớt, ngơ hầu t́m ra điều-văn số-tự.

Ngoài ra, chúng ta tạm gác vấn-đề tằng-thứ cuả bát-quái-cổn. Sau này, sẽ có chương-tiết đặc-biệt liên-hệ.

Kiền: thượng kiền  90 + hạ kiền 9 = 99; thiên-trạch Lư: thượng kiền 90 + hạ đoài 4 = 94.

Thiên-hoả Đồng-nhân: thượng kiền 90 + hạ ly 3 = 93;  thiên-lôi Vô-vọng: thượng kiền 90 + hạ chấn 8 = 98.

Thiên-phong Cấu: thượng kiền 90 + hạ tốn 2 = 92;  thiên-thủy Tụng: thượng kiền 90 + hạ khảm 7 = 97.

Thiên-sơn Độn: thượng kiền 90 + hạ cấn 6 = 96; thiên-điạ Bĩ: thượng kiền 90 + hạ khôn 1 = 91.

Phép tính các quẻ khác tương-tự.

Trạch-thiên Quyết 49, hoả-thiên Đại-hữủ 39, lôi-thiên Đại-tráng 89, Đoài 44.

Hoả-trạch Khuể 34, lôi-trạch Quy-muội 84, trạch-hoả Cách 43, Ly 33.

Lôi-hoả Phong 83, trạch-lôi Tùy 48, hoả-lôi Phệ-hạp 38, Chấn 88.

Hoả-phong Đỉnh 32, trạch-phong Đại-quá 42, lôi-phong Hằng 82, trạch-thủy Khốn 47.

Lôi-thủy Giải 87, hoả-thủy Vị-tế 37, trạch-sơn Hàm 46, hoả-sơn Lữ 36.

Trạch-điạ Tụy 41, lôi-sơn Tiểu-quá 86, hoả-điạ Tấn 31, lôi-điạ Dự 81.

Thủy-thiên Nhu 79, phong-thiên Tiểu-súc 29, sơn-thiên Đại-súc 69, phong-trạch Trung-phu 24.

Thủy-trạch Tiết 74, sơn-trạch Tổn 64, phong-hoả Gia-nhân 23, thủy-hoả Kư-tế 73.

Sơn-hoả Bí 63, phong-lôi Ích 28, thủy-lôi Truân 78, sơn-lôi Di 68.

Tốn 22, thủy-phong Tỉnh 72, sơn-phong Cổ 62, phong-thủy Hoán 27.

Khảm 77, sơn-thủy Mông 67, phong-sơn Tiệm 26, thủy-sơn Kiển 76.

Cấn 66, phong-điạ Quan 21, thủy-điạ Tỷ 71, sơn-điạ Bác 61.

Điạ-thiên Thái 19, điạ-lôi Phục 18, điạ-sơn Khiêm 16, điạ-trạch Lâm 14.

Điạ-phong Thăng 12, khôn 11, điạ-hoả Minh-di 13, điạ-thủy Sư 17.

Thảo-luận bản đơn-nguyên đích thị là lạc-thư-tự bài-liệt cuả hậu-thiên bát-quái, kế-toán số-tự đại-biểu cuả cuả mỗi quẻ trong 64 quẻ, để tiện tổ-hợp với đệ-nhị-tổ số-tự, ngơ hầu cầu t́m điều-văn số-tự.

Hậu-thiên bát-quái lạc-thư-tự bài-liệt số-tự là:

kiền 6, đoài 7, ly 9, chấn 3 , tốn 4, khảm 1, cấn 8, khôn 2.

ly 9, cấn 8, đoài 7, kiền 6, tốn 4, chấn 3, khôn 2, khảm 1.

Lấy thượng-hạ mà nói, hoả thượng thủy hạ, nên số 9 là ly, số 1 là khảm. Hoả sinh táo-thổ: sở dĩ 8 theo sau 9, mà cấn là 8.

Táo-thổ sinh kim: nhân đó 7, 6 theo sau 8, mà  phân-biệt là đoài 7, kiền 6.

Thủy sinh thấp-thổ: sở dĩ 2 theo sau 1, mà khôn là 2.

Thấp thổ sinh mộc: nhân đó 3, 4 theo sau 2, mà phân-biệt thành chấn 3, tốn 4. 64-quái đệ-tam-tổ số-tự, chính là lấy 64 quẻ chia thành thượng-hạ-quái, rồi lấy thượng-quái với hạ-quái tương-ứng với hậu-thiên bát-quái phối-trí với lạc-thư số-tự tổ-hợp lại, thượng-quái là hàng chục, hạ-quái là hàng đơn-vị, hai số-tự ấy kết-hợp lại là số-tự cuả đệ-tam-tổ cuả quẻ đương-quan.

Đệ-tam-tổ số-tự cuả 64 quẻ, bản thân không đại-biểu điều-văn số-tự, mà là dùng khi cầu t́m điều-văn số-tự, cùng là  khi thêm bớt bí-số và biểu cuả đệ-nhất-tổ, do thêm bớt mà có được, ngơ hầu t́m ra được điều-văn số-tự.

Trong đệ-tam-tổ số-tự cuả 64-quái, lớn nhất là quẻ kiền với số-tự 99, nhỏ nhất là quẻ khôn với số-tự 11. Sở dĩ tự-số cuả đệ-tam-tổ nằm trong khoảng 11-99.

Sở dĩ bát-quái-cổn chímh là lấy phối-số bí-số cuả 64-quái đệ-tam-tổ, gia dĩ tổ-hợp với nhau, ngơ hầu sinh-sản ra số-tự bất-đồng, có thể dùng vào việc thêm bớt, để tiện bề t́m ra điều-văn số-tự.

Ngoài ra, vấn-đề các tầng khác cuả bát-quái-cổn, nơi đây tạm gác việc thảo-luận, đợi sau này sẽ có chương-tiết chuyên-môn bàn đến.

Kiền: thượng kiền 60 + hạ kiền 6 = 66, thiên-trạch Lư: thượng kiền 60 + hạ đoài 7 = 67.

Thiên-hoả Đồng-nhân: thượng kiền 60 + hạ ly 9 = 69, thiên-lôi Vô-vọng: thượng kiền 60 + hạ chấn 3 = 63.

Thiên-phong Cấu: thượng kiền 60 + hạ tốn 4 = 64, thiên-thủy Tụng:  thượng kiền 60 + hạ khảm 1 = 61.

Thiên-sơn Độn: thượng kiền 60 + hạ cấn 8 = 68, thiên-điạ Bĩ: thượng kiền 60 + hạ khôn 2 = 62.

Phương-pháp tính số-tự các quẻ khác tương-tự.

Trạch-thiên Quyết 76, hoả-thiên Đại-hữu 96, lôi-thiên Đại-tráng 36, Đoài 77.

Hoả-trạch Khuể 97, lôi-trạch Quy-muội 37, trạch-hoả Cách 79, Ly 99.

Lôi-hoả Phong 39, trạch-lôi Tùy 73, hoả-lôi Phệ-hạp 93, Chấn 33.

Hoả-phong Đỉnh 94, trạch-phong Đại-quá 74, lôi-phong Hằng 34, trạch-thủy Khốn 71.

Lôi-thủy Giải 31, hoả-thủy Vị-tế 91, trạch-sơn Hàm 78, hoả-sơn Lữ 98.

Trạch-điạ Tụy 72, lôi-sơn Tiểu-quá 38, hoả-điạ Tấn 92, lôi-điạ Dự 32. 

Thủy-thiên Nhu 16, phong-thiên Tiểu-súc 46, sơn-thiên Đại-súc 86, phong-trạch Trung-phu 47.

Thủy-trạch Tiết 17, sơn-trạch Tổn 87, phong-hoả Gia-nhân 49, thủy-hoả Kư-tế 19.

Sơn-hoả Bí 89, phong-lôi Ích 43, thủy-lôi Truân 13, sơn-lôi Di 83.

Tốn 44, thủy-phong Tỉnh 14, sơn-phong Cổ 84, phong-thủy Hoán 41.

Khảm 11, sơn-thủy Mông 81, phong-sơn Tiệm 48, thủy-sơn Kiển 18.

Cấn 88, phong-điạ Quan 42, thủy-điạ Tỷ 12, sơn-điạ Bác 82.

Điạ-thiên Thái 26, điạ-lôi Phục 23, điạ-sơn Khiêm 28, điạ-trạch Lâm 27.

Điạ-phong Thăng 24, Khôn 22, điạ-hoả Minh-di 29, điạ-thủy Sư 21. 

TBTS là một thuật-số rất cao-minh (? !). Ngoài suy-đoán phụ-mẫu, phối-ngẫu tuổi-tác, hoặc số anh chị em ra, c̣n khoa-trương nhiều bề nhờ số điều-văn to tát do giờ-khắc, song sinh và các khoa khác như Tử-vi, Tử-B́nh, Hà-lạc Lư-số v.v. phụ-lực. 

12 tháng x 60 giáp-tư x 64 quẻ x 10 can x 6 hào x 12 chi x 12 thời-thần x 8 khắc x 15 phân = 3981312000 mệnh-vận. Sao con số lại lớn thế? Bởi v́ hai người khác nhau, phải coí mệnh-vận khác nhau. Lại c̣n vấn-đề sinh đôi, sinh ba, sinh tư ... thời-khắc khác nhau nữa. 

Đem bí-số cuả đệ-tam-tổ 64-quái, tổ-hợp mà vận-dụng, là năng vận-dụng được cơ-bản tâm-pháp cuả bát-quái-cổn, để tiện bề tổng-quyết tâm-pháp, mà người học cũng không mấy khó nhọc dựa vào phép-tắc kế-toán, bí-số tam-tổ có thể phối thành 6 tổ bài-liệt số-tự khác nhau, với điều-kiện tiên-quyết là: trong cùng một tổ, bài-liệt số-tự không được xuất-hiện hai lần, nếu không, không thể nào t́m ra đáp-án số-tự.

Trong các thư-tịch về TBTS, khẩu-quyết trong Bát-quái Gia Lệ Tắc là: 'Biến tri lục bát chỉ'. Cái gọi là lục chính là luc-tổ nói bên trên; cái gọi là bát-chính là bát-quái.

Mỗi quẻ có thể lợi-dụng phương-thức hỗ-quái và biến-quái, để suy ra từ 6 đến 8 loại quẻ: đó chính là ư-nghiă khác cuả  'Biến tri lục bát chỉ'. Khi đó, lợi-dụng phép này, ta có thể t́m ra được từ 36 đến 48 TBTS điều-văn, đó chính là ư-nghiă chung-kết cuả 'Biến tri lục bát chỉ'.

T́m được cơ-bản-quái với cơ-bản số-tự rồi, ta có thể t́m quẻ thứ nhất cuả bát-quái-cổn.

Nội-quái lấy từ hào nhị đến hào tứ cuả cơ-bản-quái, ngoại-quái lấy từ hào tam đến hào ngũ cuả cơ-bản-quái, hợp hai quẻ đơn lại là ta được quẻ thứ nhất cuả bát-quái-cổn.

Nhân mỗi người niên-phận một khác, tuy cơ-bản-quái giống nhau, mà can chi cuả xuất sinh niên-phận khác, nên lúc muốn t́m quẻ thứ nh́ cuả bát-quái-cổn, tất nên giải-quyết quan-kiện này, cùng là thêm vào trong cơ-bản số-tự, mới t́m ra được thứ nh́ cuả bát-quái-cổn.

Đem can chi cuả xuất sinh niên-phận cuả đương-số, lợi-dụng Thái-huyền-số cuả Dương-Hùng mà suy toán ra số-tự.

Giáp, kỷ, tư, ngọ 9; ất, canh, sủu, mùi 8; bính, tân, dần, thân 7; điinh, nhâm, măo, dậu 6; mậu, quư, th́n, tuất 5; tỵ, hợi đơn-số 4. Xin nhớ can thu gọn = can amod 5; chi thu-gọn = chi amod 6.

Rồi sau mới t́m xem xuất sinh niên-phận cuả đương-số thuộc về thuộc về thượng, trung hay hạ-nguyên giáp-tư.

Thượng-nguyên giáp-tư: can năm nhân 10;

Hạ-nguyên giáp-tư: chi năm nhân 10;

Trung-nguyên giáp-tư: duơng-mam âm-nữ can năm nhân 100. chi năm nhân 10; âm-mam duơng-nữ chi năm nhân 100, can năm nhân 10.

Đem cơ-bản số-tự cộng vào can chi số vừa tính ở trên lại, chia cho 9, xem c̣n  dư bao nhiêu là có thể t́m ra quẻ thứ nh́.

Dư 1: biến sơ-hào cuả quẻ thứ nhất;

Dư 2: biến hào nhị cuả quẻ thứ nhất;

Dư 3: biến hào tam cuả quẻ thứ nhất;

Dư 4: biến hào tứ cuả quẻ thứ nhất;

Dư 5: biến hào ngũ cuả quẻ thứ nhất;

Dư 6: biến hào thượng cuả quẻ thứ nhất;

Dư 7: đồng thời biến sơ-hào và hào tứ cuả quẻ thứ nhất;

Dư 0: đồng thời biến hào tam và hào thượng cuả quẻ thứ nhất.

Đó chính là biến-quái cuả bát-quái-cổn thứ nhất, tức thị bát-quái-cổn thứ nh́. Đem bát-quái-cổn thứ nhất và thứ nh́, áp-dụng nguyên-lư hỗ-bổ, lại được 4 quẻ nữa, trong đó có hỗ-quái cuả quẻ thứ nhất và hỗ-quái cuả quẻ thứ nh́. Sau đó lại lôi thêm ra quẻ nữa.

Đem cơ-bản số-tự cộng với chuyển-hoá-số cuả can chi xuất-sinh-niên, chia kết-quả cho 6 để suy ra số dư.

Dư 1: nhất quái biến sơ-hào; dư 2: nhất quái biến nhị-hào.

Dư 3: nhất quái biến tam-hào; dư 4: nhất quái biến tứ-hào.

Dư 5: nhất quái biến ngũ-hào; dư 0: nhất quái biến thượng-hào.

Đem 4 quẻ kể trên, hào âm biến thành hào dương, hào dương biến thành hào âm. Sau đó, trong mỗi quẻ hỗ-tương đối-điệu (đảo-quái), tức thị, nội-quái biến thành ngoại-quái, ngoại-quái biến thành nội-quái, lại sản sinh được 4 quẻ nữa.

Sau mấy bước vận-toán nêu trên, ta lại được 8 quẻ nữa, đem 8 quẻ này, biến-hoán thành số-tự, là được từ 36 đến 48 TBTS điều-văn.

Điạ-chuyển-giảng đích thị là đem thiên-tuyền bát-quái chuyển-hoán thành số-tự, cầu được từ 36 đến 48 TBTS điều-văn. Sau khi suy-toán ra được 8 quẻ, đem tam-tổ số-tự ra, rồi sau mới kết-hợp từng 2 tổ lại, là được 6 tổ số-tự, tức:

Đệ-nhất-tổ số-tự x 100, đệ-nhị-tổ số-tự x 1, rồi mới cộng 2 số lại, kết-quả là số-tự điều-văn cuả nhất-tổ (số thứ nhất).

Đệ-nhất-tổ số-tự x 100; đệ-tam-tổ số-tự x 1, rồi mới cộng 2 số lại, kết-quả là số-tự điều-văn cuả nhất-tổ (số thứ nh́).

Đệ-nhị-tổ số-tự x 100; đệ-nhất-tổ số-tự x 1, rồi mới cộng 2 số lại, kết-quả là nhất-tổ điều-văn (số thứ ba).

Đệ-nhị-tổ số-tự x 100; đệ-tam-tổ số-tự x 1, rồi mới cộng 2 số lại, kết-quả là nhất-tổ điều-văn số-tự (số thứ tư).

Đệ-tam-tổ số-tự x 100; đệ-nhất-tổ số-tự x 1, rồi mới cộng 2 số lại, kết-quả là nhất-tổ điều-văn số-tự (số thứ năm).

Đệ-tam-tổ số-tự x 100; đệ-tam-tổ số-tự x 1, rồi mới cộng 2 số lại, kết-quả là nhất-tổ điều-văn số-tự (số thứ sáu).

Dùng phương-pháp nêu trên, mỗi quẻ cầu được 6 cái TBTS điều-văn số-tự, tổng-kết được 6 x 8 = 48 TBTS điều-văn số-tự.

Cơ-bản-quái: thiên-điạ Bĩ

Cơ-bản số-tự, 4410.

Xuất-sinh-niên can chi, thượng-nguyên, ất-sửu niên.

Do 3 điều-kiện nêu trên, tức có thể cầu được TBTS điều-văn số-tự, ước chừng từ 36 đến 48 điều.

Lấy hào nhị đến hào tứ làm nội-quái, cấn, lấy hào tam đến hào ngũ làm ngoại-quái, tốn. Ta được quẻ phong-sơn Tiệm, tức là bát-quái-cổn đệ-nhất-quái

Kết-toán:

Bằng vào Dương-tử Thái-huyền phối-số, xuất-sinh-niên ất-sửu, ất là 8, sửu là 8.

Xuất-sinh-niên là hạ-nguyên giáp-tư, niên chi x 10 là 80, niên can x 1 là 8, ta có:

8 x 10 + 8 x 1 = 88.

Đem cơ-bản số-tự cộng với 88 tức: 4410+ 88 = 4498, đem chia cho 9: 4498 ¸ 9 = 449 c̣n dư 7. Do đó biết được hào sơ và hào tứ cuả đệ-nhất-quái đồng-thời biến, tức âm hào biến ra dương hào, dương hào biến ra âm-hào, phong-sơn Tiệm biến ra thiên-hoả Đồng-nhân. Quẻ này là quẻ thứ nh́ cuả bát-quái-cổn.

Hỗ-quái:

Hỗ-quái cuả sơn-phong Tiệm là hoả-thủy Vị-tế, quẻ này là quẻ thứ ba cuả bát-quái-cổn.

Hỗ-quái cuả thiên-hoả Đồng-nhân là thiên-phong Cấu, quẻ này là quẻ thứ tư cuả bát-quái-cổn.

Kết-toán:

Đem 4498 chia cho 6: 4498 ¸ 6 = 749 c̣n dư 4. Do đó biết được bát-quái-cổn thứ nhất đến bát-quái-cổn thứ tư, đều là đều là âm hào biến ra dương hào, dương hào biến ra âm-hào. Rồi sau mới đem 4 biến-quái thượng hạ hỗ-tương đối-điệu (đảo-quái), tức là biết được bát-quái-cổn thứ năm đến bát-quái-cổn thứ tám.

Thượng hạ hỗ-tương đối-điệu:

Phong-sơn Tiệm Sơn-thiên Đại-súc, Sơn-thiên Đại-súc tức là bát-quái-cổn thứ năm.

Thiên-hoả Đồng-nhân hoả-phong Đỉnh, hoả-phong Đỉnh tức là bát-quái-cổn thứ sáu.

Lôi-trạch Quy-muội trạch-điạ Tụy, trạch-điạ Tụy tức là bát-quái-cổn thứ bẩy.

Điạ-thủy Sư thủy-lôi Truân, thủy-lôi Truân tức là bát-quái-cổn thứ tám.

8 bát-quái-cổn là:

Đệ-nhất-quái là Phong-sơn Tiệm, đệ-nhị-quái là Thiên-hoả Đồng-nhân, đệ-tam-quái là Lôi-trạch Quy-muội, đệ-tứ-quái là Điạ-thủy Sư, đệ-ngũ-quái là Sơn-thiên Đại-súc, đệ-lục-quái là hoả-phong Đỉnh, đệ-thất-quái là trạch-điạ Tụy, đệ-bát-quái là thủy-lôi Truân.

Đem 8 quẻ này phân-biệt hoán-toán thành TBTS điều-văn tự-số, một quẻ sinh-sản được 6 TBTS điều-văn tự-số, vị chi cầu được 48 TBTS điều-văn tự-số.

Quẻ thứ nhất phong-sơn Tiệm, bát-quái bài-liệt số-tự là 57, tiên–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 26, hậu–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 48.

Quẻ thứ nh́ Thiên-hoả Đồng-nhân, bát-quái bài-liệt số-tự là 13, tiên–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 93, hậu–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 69.

Quẻ thứ ba Lôi-trạch Quy-muội, bát-quái bài-liệt số-tự là 42, tiên–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 84, hậu–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 27.

Quẻ thứ tư Điạ-thủy Sư, bát-quái bài-liệt số-tự là 86, tiên–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 17, hậu–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 21.

Quẻ thứ năm Sơn-thiên Đại-súc, bát-quái bài-liệt số-tự là 71, tiên–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 69, hậu–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 86.

Quẻ thứ sáu hoả-phong Đỉnh, bát-quái bài-liệt số-tự là 35, tiên–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 32, hậu–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 94.

Quẻ thứ bẩy trạch điạ Tụy, bát-quái bài-liệt số-tự là 28, tiên–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 41, hậu–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 72.

Quẻ thứ tám thủy-lôi Truân, bát-quái bài-liệt số-tự là 64, tiên–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 78, hậu–thiên bát-quái lạc-thư số-tự là 13.

1. 57 x 100 + 26 = 5726  57 x 100 + 48 = 5748  26 x 100 + 57 = 2657

26 x 100 + 48 = 2648  48 x 100 + 57 = 4857  48 x 100 + 26 = 4826

2. 13 x100 + 93 = 1393  13 x 100 + 69 = 1369  93 x 100 + 13 = 9313

93 x 100 + 69 = 9369  69 x 100 + 13 = 6913  69 x 100 + 93  = 6993

3. 42 x 100 + 84 = 4284  42 x 100 + 37 = 4237  84 x 100 + 42 = 8442

84 x 100 + 37 = 8437  37 x 100 + 42 = 3742  37 x 100 + 84 = 3784 

4. 86 x 100 + 17 = 8617  86 x 100 + 21 = 8621  17 x 100 + 86 = 1786

17 x 100 + 21 = 1721  21 x 100 + 86 = 2186  21 x 100 + 17 = 2117

5. 71 x 100 + 69 = 7169  71 x 100 + 86 = 7186  69 x 100 + 71 = 6971

69 x 100 + 86 = 6986  86 x 100 + 71 = 8671  86 x 100 + 69 = 8669

6. 35 x 100 + 32 = 3532  35 x 100 +  94 = 3594  32 x 100 + 35 = 3235

32 x 100 + 94 = 3294  94 x 100 + 35 = 9435  94 x 100 + 32 = 9432

7. 28 x 100 + 41 = 2841  28 x 100 + 72 = 2872  41 x 100 + 28 = 4128

41 x 100 + 72 = 4172  72 x 100 + 28 = 7228  72 x 100 + 41 = 7241

8. 64 x 100 + 78 = 6478  64 x 100 + 13 = 6413  78 x 100 + 64 = 7864

78 x 100 + 13 = 7813  13 x 100 + 64 = 1364  13 x 100 + 78 = 1378

48 điều số-tự tính trên đây, chỉ cần cộng với  cơ-bản số-tự là có được TBTS điều-văn số-tự.

Như quả thửa kế-toán điều-văn số-tự vượt quá 13000, tất nên khấu trừ 12000, như quả thửa kế-toán điều-văn số-tự nhỏ hơn 1000, tất nên thêm vào 1200, nhân v́ trị-số-tự cuả TBTS số-tự nằm trong khoảng từ 1001 đến 13000 điều, tổng cộng là 12000 điều-văn. 

Ngoài nắm vững bát-quái-cổn tâm-pháp ra, làm sao vận-dụng được tứ-môn biến-hoá-quyết, là linh-hoạt vận-dụng lánh nhất loại cơ-bản tâm-pháp. Phương-pháp này đương lúc suy-toán TBTS, cầu được càng nhiều TBTS điều-văn càng tốt. Sau này, lúc công-bố tối-cao-đoan tứ-môn biến-hoá-quyết, năng học hiểu được cao-đoan chính-tông TBTS vô-thượng tâm-pháp.

Thám-thảo bản đơn-nguyên là lần theo sơ-cấp tứ-môn biến-hoá-quyết mà nhập-môn, đến lúc đă học được cái mà nhiều người khác chưa học được: bí-quyết TBTS, cùng là năng phê-toán điều-văn TBTS.

Tứ-môn biến-hoá-quyết có thể thực-hiện lúc phê-toán TBTS điều-văn, lần lượt năng phê-đoán một cách chuẩn-xác mệnh-vận cuả một cá-nhân.

Cái gọi là tứ-môn tức là 4 quẻ, đó là tứ-môn biến-hoá-quyết sơ-cấp nhập-môn.  Có rất nhiều phương-pháp vận-dụng tứ-môn biến-hoá-quyết, bản đơn-nguyên chỉ xét tối cơ-bản nhập-môn khẩu-quyết, nhất nhất thảo-luận, ngơ hầu lúc sau này học-tập tứ-môn biến-hoá-quyết, năng học hiểu được cao-đoan chính-tông TBTS bí-quyết.

Cái gọi là tứ-quái chính là cơ-bản-quái dẫn đạo ra 4 quẻ, tứ-biến-hoá cuả 4 quẻ ấy, tức có thể cầu xuất mệnh-vận biến-hoá cuả một người, phối-hợp với một bộ bí-pháp gia-giảm vận-thế, tức có thể cầu được TBTS điều-văn liên-quan đến vận-thế cuả người đó. Phương-pháp suy-đạo tứ-môn biến-hoá, đại-loại giống như phương-pháp tự-thuật cuả bát-quái-cổn, lúc đó có thể tự-thuật ba lần, để tiện việc so-sánh cơ-bản-quái và cơ-bản số-tự, có thể y-chiếu phưong-pháp tiền-thuật mà t́m ra, bản đơn-nguyên không trùng-phục tự-thuật.

Đệ-nhất-quái cuả tứ-môn biến-hoá-quyết là dùng cơ-bản-quái mà đạo-dẫn ra, phương-pháp như sau:

Nội-quái là lấy từ hào nhị đến hào tứ cuả cơ-bản-quái, tự thành một quẻ, tức là nội-quái.

Ngoại-quái là lấy từ hào tam đến hào ngũ cuả cơ-bản-quái, tự thành một quẻ, tức là ngoại-quái.

Đem nội-ngoại-quái kết-hợp lại, tứ là đệ-nhất-quái dùng trong tứ-môn biến-hoá-quyết. Phép thủ số này cũng là nên phối-trí với nhóm Dương-tử Thái-huyền phối-số, bát-tự thiên-can phối-quái, điạ-chi thủ số định-cục, nhật-chủ phối-quái, bốn loại phối-trí. Rồi sau mới cầu xuất xuất-sinh niên-phận cuả một người, là thuộc thượng-nguyên giáp-tư, trung-nguyên giáp-tư hay hạ-nguyên giáp-tư.

Thượng-nguyên giáp-tư: can cuả năm là Thái-huyền-số cuả x 10, chi cuả năm là Thái-huyền-số  x 1.

Hạ-nguyên giáp-tư: chi cuả năm là Thái-huyền-số cuả x 10, can cuả năm là Thái-huyền-số x 1.

Trung-nguyên giáp-tư: dương-nam âm-nữ chi cuả năm là Thái-huyền-số cuả x 100, can cuả năm là Thái-huyền-số  x 10; dương-nữ âm-nam, chi cuả năm là Thái-huyền-số x 100, can cuả năm là Thái-huyền-số x 10.

Cơ-bản số-tự với phép thượng-thuật cầu được can chi cuả năm, hai số cộng lại đem chia cho 9, t́m dư-số, tức có thể t́m ra quẻ thứ nh́.

Dư 1, sơ-hào cuả quẻ thứ nhất biến, dư 2, nhị-hào cuả quẻ thứ nhất biến.

Dư 3, tam-hào cuả quẻ thứ nhất biến, dư 4, tứ-hào cuả quẻ thứ nhất biến.

Dư 5, hào ngũ cuả quẻ thứ nhất biến, dư 6, hào thượng cuả quẻ thứ nhất biến.

Dư 7, sơ-hào và tứ-hào cuả quẻ thứ nhất đồng-thời biến, dư 8, hào nhị và hào ngũ cuả quẻ thứ nhất đồng-thời biến.

Dư 0, tam-hào và thượng-hào cuả quẻ thứ nhất đồng-thời biến.

Cái gọi là biến là t́m hào sở-quan, dương-hào biến ra âm-hào, âm-hào biến ra dương-hào, đó chính là quẻ thứ nh́ cuả tứ-môn biến-hoá-quyết. Đến như quẻ thứ ba và quẻ thứ tư, dùng nguyên-lư hỗ-bổ, cầu t́m hỗ-quái cuả quẻ thứ nhất và quẻ thứ nh́, hai quẻ có được chính là quẻ thứ ba và quẻ thứ tư cuả tứ-môn biến-hoá-quyết. Loại phương-thức t́m 4 quẻ với bát-quái-cổn tâm-pháp chân-quyết tương-đồng, nên không lặp lại.

          Sau khi t́m được 4 quẻ cuả tứ-môn biến-hoá-quyết, không tiếp-tục t́m 4 quẻ khác, đó là chỗ khác nhau giữa  tứ-môn biến-hoá-quyết và bát-quái-cổn tâm-pháp. Tứ-môn biến-hoá-quyết là đem quẻ biến  thành số, rồi sau mới y thứ gia giảm nhau, để tiện t́m số-tự. Phương-pháp chuyển-biến ra số, đă lợi-dụng bát-tự thiên can phối-quái với nhật-chủ phối-quái, hai loại can chi với quẻ hỗ-hoán, đem quẻ trực-tiếp chuyển-hoán thành can chi. Trước tiên, đem mỗi quẻ phân thành thượng-hạ-quái, lại đem thượng-quái dùng hai phép bát-tự thiên-can phối-quái và nhật-chủ phối-quái chuyển-hoán thành điạ-chi.

Bây giờ, 4 quẻ đă chuyển thành 4 cặp can chi, c̣n như làm sao vận-dụng, tiết sau đây sẽ bàn đến:

Tại sao thượng-quái phải hoán toán thành thiên-can mà hạ-quái phải hoàn-toán thành điạ-chi? Nhân v́ thiên-can thuộc dương, thuộc động, điạ-chi thuộc âm, thuộc tĩnh. Thượng-quái làm ngoại-quái, động, hạ-quái làm nội-quái, tĩnh. Nhân đó, thượng-quái tất nên hoán-toán thành thiên-can, hạ-quái tất nên hoán-toán thành điạ-chi.

Như quả gặp phải quẻ Kiền, y-cứ vào Bát-quái thiên-can phối-quái lệ quyết 'Nhâm giáp tùng Kiền số', quẻ Kiền phải chuyển-hoán thành nhâm hay giáp? Phải xem niên-trụ thuộc âm hay dương? : thuộc dương ắt chuyển Kiền thành nhâm, thuộc âm ắt chuyển Kiền thành giáp.

          Như quả gặp phải quẻ Khôn, y-cứ quyết 'Ất quư hướng Khôn cầu' trong Bát-tự thiên-can phối-quái-lệ, quẻ Khôn phải chuyển-hoán thành quư hay thành ất? Phải xem niên-trụ thuộc âm hay dương? : thuộc dương ắt lấy quẻ Khôn  thành quư, thuộc âm ắt chuyển Khôn thành ất.

          V́ sao khi niên-trụ thuộc dương, lại lấy quẻ Kiền chuyển hoán thành nhâm, lấy quẻ Khôn chuyển-hoán thành quư? Nhân v́, ngoại-quái quẻ Kiền phối nhâm, ngoại-quái quẻ Khôn phối quư mà nội-quái quẻ Kiền phối giáp, nội-quái quẻ Khôn phối ất. Nhân đó, lúc niên-trụ thuộc dương, tất nên đem quẻ Kiền phối nhâm, quẻ Khôn phối quư; lúc niên-trụ thuộc âm, tất nên đem quẻ Kiền phối giáp, quẻ Khôn phối ất.

Bây giờ, đem quẻ bên trên chuyển-hoán thành thành thiên-can, ngơ hầu điều-chỉnh, để tiện bề sử-dụng.

Thượng-quái phối thiên-can:

Kiền-giáp, niên-trụ thuộc âm; ly-kỷ, khôn ất, niên-trụ thuộc âm: chấn canh, cấn bính.

Khôn-quư, niên-trụ thuộc dương; tốn-tân, kiền-nhâm, niên-trụ thuộc dương; khảm-mậu, đoài-đinh.

Trong nhật-trụ phối-quái-lệ, có trường-hợp 1 quẻ phối với 2 điạ-chi, làm sao đem quẻ thuận-lợi chuyển-hoán thành đia-chi? Kỳ thực, phương-pháp rất đơn-giản, chỉ cần xem niên-trụ thuộc dương hay thuộc âm, là giải-quyết xong.

Bây giờ, đem quẻ chuyển thành điạ-chi, điều-chỉnh như sau, để tiện ứng-dụng:

Khảm-tư, niên-trụ thuộc dương; ly-ngọ niên-trụ thuộc dương; kiền-dậu, niên-trụ thuộc âm; khôn-sửu, niên-trụ thuộc âm.

Chấn-dần, niên-trụ thuộc dương; kiền-thân niên-trụ thuộc dương; chấn-măo, niên-trụ thuộc âm; cấn-mùi, niên-trụ thuộc âm; đoài-chấn, tốn-tuất.

Làm sao đem tứ-tổ can chi chuyển-hoán thành số-tự? Suy toán ra tứ tổ can chi xong rồi, lợi-dụng Dương-tử Thái-huyền-số, đem tứ tổ can chi chuyển-hoán thành số-tự.

Dương-tử Thái-huyền-số:

  1. Thiên-can  

Quẻ thiên-can phối-số điều-kiện

kiền giáp 9 niên can thuộc âm; khôn ất niên can thuộc âm;

cấn bính 7;  đoài đinh 6;

khảm mậu  5; ly   kỷ 9;

chấn canh 8; tốn tân 7;

kiền nhâm 6 niên can thuộc dương; quư 5 niên can thuộc dương. 

  1. Điạ-chi

Quẻ điạ-chi  phối-số điều-kiện

khảm 9 niên can thuộc dương; khôn sửu 8 niên can thuộc âm;

chấn dần 7 niên chi thuộc dương;

chấn măo 6 niên chi thuộc âm; đoài th́n 5;

ly kỷ 4 niên chi thuộc âm;

ly ngọ 9 niên chi thuộc dương; cấn mùi 8; kiền khôn 7 niên chi thuộc dương;

kiền dậu 6 niên chi thuộc âm; tốn tuất 5; khảm hợi 4 niên chi thuộc âm. 

Ba chương-tiết kể trên, đă bàn-luận đến làm sao suy-toán mệnh-quái biến thành can chi, tái do can chi chuyển-hoán thành số. Nhị-tổ phối-quái-số thượng-thuật làm sao vận-dụng? Kỳ thực điều đó không khó-khăn ǵ, chỉ cần chiếu bản đơn-nguyên thửa tự-thuật điều-kiện cùng là thực-lệ thủ số, là năng linh-hoạt vận-dụng bộ bí-số ấy: xem nhật can thuộc dương hay thuộc âm?

Như quả nhật can thuộc dương can:

  1. Quẻ hoán-chuyển thành Thái-huyền-số thiên can x 10;
  2. Quẻ hoán-chuyển thành Thái-huyền-số điạ-chi x 1;

Cộng hai số lại với nhau.

Như quả nhật can thuộc âm can

  1. Quẻ hoán-chuyển thành Thái-huyền-số cuả điạ-chi x 10;
  2. Quẻ hoán-chuyển thành Thái-huyền-số cuả thiên can x 1;

Cộng hai số lại với nhau.

Vd: Cơ-bản-quái là thiên-điạ Bĩ

Cơ-bản số-tự là 4410

Đem bát-quái-cổn  trân-tuyệt 64-quái cơ-bản phối-số cầu được 4410.

Xuất sinh niên can chi: hạ-nguyên ất-sửu niên;

Nhật nguyên: giáp

Từ 4 dữ-kiện này, kế-toán  bí-số

Cơ-bản-quái là thiên-điạ Bĩ L

Lấy từ hào nhị đến hào tứ làm nội-quái  cấn -; lấy từ hào tam đến hào ngũ làm ngoại-quái  tốn ). Kết hợp hai đơn-quái thành biệt-quái phong-sơn Tiệm u, quẻ này là quẻ thứ nhất cuả tứ-môn biến-hoá-quyết.

Kế-toán:

Y-cứ Dương-tử Thái-huyền phối-số và xuất-sinh-niên ất-sửu, ất là 8, sửu là 8 (hỗ-bổ 10)

Xuất-sinh niên là hạ-nguyên giáp-tư-luân, nên biết rằng niên chi x 10 là 8 x 10, niên  can x 1 là 8 x 1, ta có: 80 + 8 = 88.

Sau khi cộng cơ-bản số-tự với 88, ta được: 4410 + 88 = 4498. Đem 4498 chia cho 9 ta được thương-số 4498 ¸ 9 = 499, dư-số = 7. Do đó, hào sơ và hào tứ cuả quẻ thứ nhất đồng-thời biến, u M , phong-sơn Tiệm biến thành thiên-hoả Đồng-nhân. Quẻ này là thứ nh́ cuả tứ-môn biến-hoá-quyết.

Hỗ đối-điệu-quái (hđđq):

Hđđq cuả phong-sơn Tiệm là lôi-trạch Quy-muội, hđđq cuả thiên-hoả Đồng-nhân là điạ-thuỷ Sư.

Được biết rằng: quẻ thứ ba là lôi-trạch Quy-muội v, quẻ thứ tư là điạ-thuỷ Sư G.

Bây giờ, ta biết được 4 quẻ: phong-sơn Tiệm, thiên-hoả Đồng-nhân, lôi-trạch Quy-muội và điạ-thuỷ Sư.

Phong-sơn Tiệm: tốn  trên, cấn dưới; thiên-hoả Đồng-nhân: kiền trên, ly dưới; lôi-trạch Quy-muội: chấn trên, đoài dưới; điạ-thủy Sư: khôn trên, khảm dưới.

Thuợng-quái, hạ-quái chuyển-hoán thành thiên-can:

Quẻ thượng-hạ:

Phong-sơn Tiệm: tốn tân, cấn mùi;

Thiên-hoả Đồng-nhân: kiền giáp niên-trụ ất-sửu thuộc âm, ly kỷ niên-trụ ất-sửu thuộc âm;

Lôi-trạch Quy-muội: chấn canh, đoài chấn;

Điạ-thủy Sư: khôn ất, khảm hợi niên-trụ ất-sửu thuộc âm.

Đem thiên-can, điạ-chi, y-cứ Dương-tử Thái-huyền phối-số chuyển-hoán thành số-tự.

Quái thiên-can, điạ-chi:

Phong-sơn Tiệm: tốn  7  tốn, mùi  8  cấn;

Thiên-hoả Đồng-nhân: giáp  9 kiền  niên-trụ ất sửu thuộc âm, ly  kỷ  niên-trụ ất sửu thuộc âm;

Lôi-trạch Quy-muội:  canh 8 chấn, chấn đoài;

Điạ-thủy Sư:  ất 8 khôn niên-trụ ất sửu thuộc âm, hợi 4 khảm niên-trụ ất-sửu thuộc âm.

Kế-toán:

Chuyển-hoán thành Thái-huyền-số cuả thiên-can x 10;

Chuyển-hoán thành Thái-huyền-số cuả điạ-chi x 1;

được 4 con bí-số.

Phong-sơn Tiệm: 7 x 10 + 8 x 1 = 78;

Thiên-hoả Đồng-nhân: 9 x 10 + 4 x 1 = 94;

Lôi-trạch Quy-muội: 8 x 10 + 5 x 1 = 85;

Điạ-thủy Sư: 8 x 10 + 4 x 1 = 84.

Phép dùng 4 con bí-số này, sẽ đem giới-thiệu tại mục 'Phi thiên toản điạ đại-quy-bí' bên dưới.

Mẫu-số 8 thuộc mộc, mộc sinh hoả, tử-số 1 thuộc hoả;

Mẫu-số 7 thuộc hoả, hoả sinh thổ, tử-số 2 thuộc thổ;

Mẫu-số 6 thuộc thủy, thủy sinh mộc, tử-số 3 thuộc mộc;

Mẫu-số 5 thuộc thổ, thổ sinh kim, tử-số 4 thuộc kim;

Mẫu-số 4 thuộc kim, kim sinh thủy, tử-số 5 thuộc thủy.

Phương-pháp kế-toán  TBTS thập phần độc-đáo, có thành-phần tương-đối lớn, lấy lại làm phép khấu-nhập sau khi tra được 8 khắc cuả một giờ, thành việc lợi-dụng phép khấu-nhập thủ số, mà cái phép khấu-nhập đó là vĩnh-hằng bất-biến.

Vd:

Một người 20 tuổi đến xem bói TBTS, lúc đó chỉ mới có 2 anh em, mà bói ra kết-quả tất-định là 2 anh em mới hợp điều-văn khắc ấy. Bất đồ 10 năm sau, ông thân-sinh tục-huyền, sinh được một con trai, mà anh ta lại xem bói TBTS, ra kết-quả điều-văn 3 anh em cùng cha khác mẹ.

Lại như, một người mới cưới vợ, đi bói TBTS, điều-văn bảo vợ cầm tinh con ngựa. Đến lúc anh chàng ấy có khắc thê, thầy bói ăn gian nói dối, lấp liếm bảo là người ngọc hữu h́nh, tái thú bính-thân.

TBTS dùng phép khấu nhập, thực-tại thập phần vi-diệu, như quả không được sư-truyền, không bao giờ biết được áo-diệu cuả TBTS.

Sau khi đă đại-thám-bí thướng thiên nhập điạ rồi, tái tường-tế thảo-luận vận-dụng điều-văn 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 166

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com