www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 22

 

DỊCH-TƯỢNG-SỐ

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 162) 
 

Mai-Hoa Thi

梅 花 詩

(467, tr. 137-39)

 

Người Tầu có những phép bói cho quốc-vận cuả họ, tương-đương với Sấm Trạng Tŕnh cuả ta. Ta có thể kể: Suy Bối Đồ, Kiền Khôn Vạn Niên Ca, Mai hoa Thi Thập Chương cuả Thiệu-tử, Hoàng-Nghiệt Thiền-sư Thi, Tàng Đầu Thi và Thiêu Bính Ca. Ở đây ta chỉ đề-cập Mai Hoa Thi, v́ tính cách đặc-thù và ngoạn-mục cuả chúng. Xin  nhập đề bằng bài thơ đầy ư-nghiă này cuả Thiệu-tử: 

          洞徹先天學至深                         泊名外物性歸真
         Đỗng triệt tiên thiên học chí thâm   Bạc danh ngoại vật tính quy chân
           飄然來世飄然去
                        經世梅花天地春
         Phiêu nhiên lai thế phiêu nhiên khứ
   Kinh thế mai hoa thiên địa xuân

Xin tạm dịch là:

Cái học tiên-thiên quả chí thâm,

Mượn tên ngoại-vật tính quy chân.

Nhẹ nhàng lướt tới, nhẹ nhàng tếch,

Hoa mai kinh-thế một trời xuân.

Bài Thứ Nhất

         蕩蕩天門萬古開,Đảng-đăng thiên-môn vạn cổ khai,      

         幾人歸去幾人來。Kỷ nhân quy khứ, kỷ nhân lai.

         山河雖好非完璧,Sơn-hà tuy hảo phi hoàn-bích,

         不信黃金是禍胎。Bất tín hoàng-kim thị hoạ thai.


Giải-thích Tiên-đoán
:

Hai câu đầu tả nước Trung-hoa vua này ra đi th́ vua khác đến. Câu 3 bảo là sơn-hà tuy tốt đẹp nhưng không hoàn-bích. Câu 4 nói là: ai có ngờ đâu vàng bạc đẻ ra hoạ mất nước. Cả bài thơ tả cảnh rợ Kim xâm-lăng Trung-quốc năm Đinh-mùi (1127). Rợ Kim bắt được cả vua Huy-Tông và Thái-tử cùng là cầm tù 3000 người gồm có Hoàng-đế, Hoàng-thái-tử, cung-phi, thân-vương, và đại-thần toàn-triều, giải về nước Liêu. Bắc-sử mệnh-danh sử-kiện này là 'Mối nhục Tĩnh-khang (Tĩnh-Khang chi sỉ) 靖康之耻'. Quá nửa sơn-hà về tay rợ Kim. Vua Tống phải dời đô từ Khai-phong xuống Nam-kinh.

 

Bài Thứ Nh́

         湖山一夢事全非,Hồ-sơn nhất mộng sự toàn phi.

         再見雲龍向北飛。Tái kiến vân-long hướng bắc phi.

         三百年來終一日,Tam bách niên lai chung nhất nhật.

         長天碧水嘆瀰瀰。Trường thiên, bích-thủy thán di di.

 

Giải-thích Tiên-đoán:

Cuộc xâm-lăng tiếp-tục nam-tiến. Tống-triều một lần nữa lại phải thiên đô từ Nam-kinh xuống Lâm-an (nay là Hàng-châu). Câu 2 tả t́nh-h́nh năm Bính-tư (1276): Vua Nhà Nguyên (Mông-cổ) là Thành-cát Tư-Hăn, trước bắt vua Kim rồi sau bắt vua Tống ở Lâm-an. Câu 3 nói: 300 năm triều Tống kết-thúc trong một ngày khi Lâm-an thất-thủ. Câu 4 tả một màn kịch bi-hùng-tráng: Đại-thần Lục Tú-Phu cơng Nam-Tống Tiểu-hoàng-đế 9 tuổi nhẩy xuống biển tự-tử; Đại-tướng Trương Thế-Kiệt bảo-vệ Thái-phi đi trốn, nhưng rốt cuộc cũng bị một cơn gió lốc cuốn xuống biển cả.

 

Bài Thứ Ba

        天地相乘數一原,Thiên-điạ tương-thừa sổ nhất nguyên.

        逢甲子又興元。Hốt phùng giáp-tí hựu hưng nguyên.

        年華二八乾坤改,Niên hoa nhị bát kiền-khôn cải.

        看盡殘花總不言。Khan tận tàn-hoa tổng bất ngôn.

 

Giải-thích Tiên-đoán:

Câu đầu nói đến tổng-số cuả trời đất là 10 (Nhà Nguyên trải 10 đời vua). Chữ đầu câu 2 (hốt) ám-chỉ Hốt-tất-liệt (viễn chinh từ 1355 đến 1368, rồi mới lên ngôi Hoàng-đế).  Câu 3 'nhị bát' ám chỉ Nhà Nguyên  kéo dài được 88 năm từ năm Kỷ-măo(1279) Tống-triều bị diệt đến năm Mậu-thân (1368), nhà Nguyên bị diệt vong.

 

Bài Thứ Tư

         畢竟英雄起布衣,Tất cánh anh-hùng khởi bố-y.

         朱門不是舊黃畿。Chu-môn bất thị cựu hoàng-kỳ.

         飛來燕子尋常事,Phi lai yến-tử tầm-thường sự.

         開到李花春已非。Khai đáo hoa xuân dĩ phi.

 

Giải-thích Tiên-đoán:

Câu đầu tả cảnh Minh Thái-tổ Chu Nguyên Chương xuất thân bần hàn, bản thân là thường-dân áo vải, từng làm hoà-thượng trong nhiều năm trời. Về sau tham-gia hồng-cân-quân, là một đám nông-dân nổi dậy. Nhân nhờ kiêu-dũng thiện-chiến, có bản-sắc đại-nghiệp anh-hùng, từ hàng sĩ tốt vượt lên làm lănh-tụ. Đến năm Mậu-th́n (1368), xưng đế ở Nam-kinh. Câu 2 tả cảnh Nhà Minh thiên-đô từ Bắc-kinh cuả Nhà Nguyên xuống tân-kinh-đô Nam-kinh. Chu-môn ứng chỉ Vua Minh không c̣n là nông-dân hoàng-thổ (đất vàng) nữa. Vua Minh đầu tiên Minh Thái-tổ mất, nhân v́ Thái-tử mất sớm, mới truyền ngôi cho Hoàng Thái-tôn tức Minh Huệ-Đế. Nhưng khi đó, con Minh Thái-tổ đến Nam-kinh cướp ngôi cuả cháu và trở thành Hoàng-đế năm Nhâm-ngọ (1402) và dời Kinh-đô trở lại Bắc-kinh. Đuơng thời, có mười vị hoàng-tử được phong làm phiên-vương, trông giữ biên-tái. Trong số 10 người đó, có Yên-vương Chu-Lệ, tinh-thông binh-pháp, lập được nhiều chiến-công, thực-lực lớn mạnh, uy-vọng tối cao. Trong khi đó, Minh Huệ-Đế dáng dấp thư-sinh, nghe theo lời tâu cuả mưu-sĩ, băi miễn tước-vị các phiên-vương, Yên-vương giả vờ thành người bị bệnh cùi, nên mới thoát nạn, chẳng làm ǵ hơn được, là năm Kiến-văn nguyên-niên, dấy binh phản-kháng, bị khép tội phát-động 'Tĩnh nạn chi dịch'. Nhân v́ Yên-vương Chu-Lệ tài-đức xuất-chúng, trí dũng hơn người, cuối cùng bốn năm sau mới cả thắng, tấn-công vào Nam-kinh, chiếm đoạt ngôi báu, trở thành Minh Thái-Tông, sau lại đổi thành Minh Thành-Tổ, đế-hiệu Vĩnh-lạc. Yên-vương được thiên-hạ, ngẫm trong bụng chỉ là 'tầm-thường sự', thực t́nh công-nghiệp lại ngang ngửa với 'Huyền vũ môn chi biến' cuả Đường Thái-Tông. Dưới triều vua Minh Thành-Tổ Trung-quốc toàn-thịnh huy-hoàng. Chính Vĩnh-lạc Đại-điển được soạn ra dưới triều này. Tuy nhiên, cuối đời Minh, triều-đ́nh suy-bại, lại bị nạn nông dân nổi dậy, cho đến cơ-sự 'Khai đáo hoa xuân dĩ phi'. Lư hoa ở đây ứng-chỉ Sấm-vương Lư Tự-Thành. Muà xuân năm Giáp-thân (1644), Lư Tự-Thành suất-lĩnh nghiă-quân khởi nghiă, công chiếm Bắc-kinh, Sùng-trinh Hoàng-đế đương ở đằng sau Tử-cấm-thành, leo lên Cảnh-sơn treo cổ tự-tận. Minh-triều diệt-vong, chính là ứng với câu 'Khai đáo hoa xuân dĩ phi': muà xuân không c̣n nữa mất rồi.

 

Bài Thứ Năm

            胡兒騎馬走長安,Hồ nhi kỵ mă tẩu Trường-an,

            開闢中原海境寬。Khai tịch Trung-nguyên hải-cảnh khoan.

            洪水乍平洪水起,Hồng-thủy tác b́nh hồng-thủy khởi,

            清光宜向漢中看。Thanh-quang nghi hướng Hán-trung khan.

 

Giải-thích Tiên-đoán:

Câu đầu chỉ Nhà Thanh (rợ Hồ): khi rợ Hồ tràn qua Vạn-lư Trường-thành, tiến chiếm Bắc-kinh (Trường-an) cuả Nhà Minh. Câu 2 chỉ Nhà Thanh giao-thương với ngoại-nhân, là chuyện chưa từng xẩy ra nơi các  triều trước. 'Hồng-thủy' ám chỉ cuộc nổi loạn cuả 'Thái-b́nh Thiên-quốc' năm canh-tuất (1850) do Hồng (chữ hồng thứ nhất) Tú-Toàn cầm đầu. Hồng Tú-Toàn thất-bại năm giáp-tư (1864) và tự-tử. Năm tân-hợi (1911), khi có cuộc khởi-nghiă ở Vũ-hán do Lê Nguyên-Hồng (chữ hồng thứ nh́) cầm đầu và được bầu làm Tổng-thống chính-phủ lâm-thời. Câu 4 tả cảnh Nhà Thanh thương-lượng với nghiă-quân. 'Hán-trung' ở đây ám-chỉ Vũ-hán.

 

Bài Thứ Sáu

             漢天一白漢江秋,Hán thiên nhất bạch, Hán-giang thu.

             憔悴黃花總帶愁。Tiều-tụy hoàng-hoa tổng đới sầu.

             吉曜半升箕斗隱,Cát diệu bán-thăng cơ-đẩu ẩn.

             金烏起滅海山頭。Kim-ô khởi diệt hải-sơn đầu.

 

Giải-thích Tiên-đoán:

Câu đầu tả cảnh nghiă-quân mặc quần áo trắng, cầm lá cờ 'thanh thiên bạch-nhật măn điạ hồng'. Câu 2 dự đoán sụp đổ cuả triều Măn-Thanh. Câu 3 tả cảnh Dân-quốc thay thế Thanh-triều. 'Cơ-đẩu' là danh-từ cổ tinh-tướng-học ẩn chỉ Cộng-sản-đảng (CSĐ) đă nắm lấy cơ-hội 'nội ưu ngoại-hoạn' cuả Quốc-dân-đảng (QDĐ) mà nḥm ngó chính-quyền.  Kim-ô ám chỉ nước Nhật-bản, mà quốc-kỳ có mặt trời ở chính giữa, sẽ hùng mạnh sau Trung-Nhật Chiến-tranh và Nga-Nhật Chiến-tranh.

 

Bài Thứ Bẩy

            雲霧蒼茫各一天,Vân-vụ thương mang các nhất thiên.

            可憐西北起烽煙。Khả lân tây-bắc khởi phong yên.

            東來暴客西來盜,Đông lai bạo khách, tây  lai đạo

            還有胡兒在眼前。Hoàn hữu hồ nhi tại nhăn tiền.

 

Giải-thích Tiên-đoán:

Câu 1, 'Vân-vụ thương mang các nhất thiên', tả t́nh-trạng Trung-quốc phân-liệt thành bốn phần: một phần Măn-Thanh, có Nhật-bản hỗ-trợ, chiếm, một phần CS chiếm, một phần QDĐ chiếm. Từ năm 1930 đến năm 1940 t́nh cảnh Trung-Hoa hỗn-loạn. Câu 2 'Khả lân tây-bắc khởi phong yên', chỉ cuộc nội-chiến Quốc-Cộng, bùng nổ ở tây-bắc. Câu 3, 'Đông lai bạo khách, tây lai đạo', hẳn ám-chỉ Nhật-quân xâm lăng từ phiá đông với một số ít du-kích tiến đánh từ phiá tây. Hồ ở đây ám-chỉ Măn-Thanh. Người Nhật trả lại ngai vàng cho Phổ-Nghi, vị Hoàng-đế cuối cùng cuả triều Măn-Thanh, và lập ra Măn-châu-quốc.


Một Giải-thích khác hợp-lư hơn
:

Sau cuộc nội-chiến Quốc-Cộng, Đại-lục Trung-quốc trải qua một cục-diện đối-lập phân-trị. Câu 1 nói: CSĐ và QDĐ mỗi bên cát cứ một phương. Ba câu sau tả cảnh-trí Đại-lục cuả CSĐ trải qua một số cục-diện biến-động bất-an. Câu 2 'Khả lân tây-bắc khởi phong yên', chỉ công-cuộc b́nh-định Tân-cương và việc cưỡng-chiếm Tây-tạng. Câu 3, 'Đông lai bạo khách, tây lai đạo', hẳn ám-chỉ cuộc chiến-tranh Triều-tiên (1950) giữa Trung-quốc và Mỹ-quốc, từ phương đông lại. Câu chót 'Hoàn hữu hồ nhi tại nhăn tiền' ẩn-chỉ việc xích-mích giữa Nga-Sô và Trung-Cộng từ thập-niên 1950. 'Hồ nhi' trong câu chót hẳn chỉ Nga-Sô, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa.

 

Bài Thứ Tám

            如棋世事局初殘,Như kỳ thế-sự cục sơ tàn.

            共濟和衷卻大難。Cộng tế hoà ai khước đại-nan.

            豹死猶留皮一襲,Báo tử do lưu b́ nhất tập,

            最佳秋色在長安。Tối giai thu-sắc tại Trường-an.

 

Giải-thích Tiên-đoán:

Đại-ư hai câu đầu chỉ cục-diện thế-giới in hệt một bàn cờ (ở đây là cuộc chiến-tranh lạnh giữa cộng-sản quốc-tế và thế-giới tự-do), nay đă đến lúc cờ tàn: Liên-minh Varsovie tan ră, Cộng-sản Quốc-tế đă giải-thể hoàn-toàn. Các nước Đông-Âu, ngoại trừ Nga-Sô, đă bỏ chế-độ CS. Bốn chữ 'Cộng tế hoà ai' miêu-tả đại-kiếp-nạn. Câu 3, 'Báo tử do lưu b́ nhất tập' hẳn chỉ Liên-Bang Cộng-hoà Xă-hội Sô-Viết, gồm nhiều cộng-hoà, mà trên bản đồ lốm đốm như da con báo. Nay báo đă chết, chỉ c̣n lại tấm da. Trong khi đó, Trung-Cộng nhẩn nha củng-cố chế-độ. Trong câu 4, 'Tối giai thu-sắc tại Trường-an', Trường-an chỉ Bắc-kinh và theo nghiă rộng chỉ Trung-quốc. Trung-cộng nhờ Hoa-kiều toàn-cầu gửi mỹ-kim về nên kinh-tế dần dà phát-đạt, nhưng chưa chắc ǵ đă lâu bền,  bởi v́ muà thu tuy đẹp đấy, nhưng lại sát-phạt, và c̣n đông tàng nữa nên không biết tương-lai sẽ ra sao?

 

Bài Thứ Chín

          火龍蟄起燕門秋,Hoả long trập khởi yến-môn thu,

             原壁應難趙氏收。Nguyên-bích ưng nan Triệu-thị thâu.

             一院奇花春有主,Nhất viện kỳ hoa xuân hữu chủ,

             連宵風雨不須愁。Liên tiêu phong-vũ bất tu sầu.

 

Giải-thích Tiên-đoán:

Câu đầu, Hoả long trập khởi yến-môn thu: Hoả-long trong câu đầu là ác-long sắc đỏ, ám-chỉ CSĐ Trung-quốc. Trập khởi là sau đông miên (hibernation) bừng tỉnh giậy. Yến-môn, cũng đọc là Yên môn, ngầm chỉ 'Thiên-an-môn' ở Bắc-kinh. Câu đầu này ẩn-dụ năm 1989, cách-mệnh Trung-quốc khai-phóng từ Trung-nam-hải 'Thiên-an-môn'. Con rồng đỏ sực tỉnh làm chấn-động hoàn-cầu. Trong câu 2, Nguyên-bích ưng nan Triệu-thị thâu, 'nguyên bích' phiếm chỉ Trung-quốc có 5000 năm lịch-sử liên-tục, 'ưng  nan' là nói đến thời-điểm đó. 'Triệu-thị thâu' ám-chỉ Triệu Tử-Dương, đương-kim Tổng-thư-kư Hội-nghị thứ 13 cuả Trung-quốc CSĐ, người đứng ra bênh vực đám biểu-t́nh chống đối, bị thâu hồi hết quyền hành, và bị giảm lỏng cho đến lúc chết (17.01.2005). Trong câu 3, Nhất viện kỳ hoa xuân hữu chủ, 'kỳ hoa' là h́nh pháp-luân-công, 'xuân hữu chủ', ngầm chỉ phong-trào đă có người lănh-đạo là Lư Hồng-Chí 李洪志. Câu chót, Liên tiêu phong-vũ bất tu sầu, bảo là dù sóng gió phũ-phàng cũng đừng buồn, v́ thầy tṛ sẽ có ngày đoàn-tụ trong tương-lai tươi sáng hơn.

Luận-giả Án: Giải-thích hai câu cuối, giải-thích khá gượng gạo. Chẳng qua là phong-trào Pháp-luân-công muốn nhận suưt để làm công-cụ tuyên-truyền.

 

Bài Thứ Mười

             數點梅花天地春,Số điểm mai hoa thiên-điạ xuân.

             欲將剝復問前因。Dục tương lục phục vấn tiền-nhân.

             寰中自有承平日,Hoàn trung tự hữu thừa b́nh nhật,

              四海為家孰主賓。Tứ hải vi gia thục chủ tân?

 

Giải-thích Dự-đoán:

 

Luận-giả Án: Sự việc này chưa xẩy ra, chứ không phải như phong-trào Pháp-luân-công và Thời-báo Đại-kỷ-nguyên đă cố-t́nh nhận vơ để tuyên-truyền.

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 164

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com