www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 22

 

DỊCH-TƯỢNG-SỐ

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 159) 
 

Bài này gồm hai phần hỗ-bổ: Dịch-tượng và Dịch-số. Dich-tượng chúng ta đă duyệt qua, Dịch-số chúng ta sẽ nói tới. Cái học cuả Dịch chỉ là tượng-số mà thôi, mà nhu-cầu cuả tượng-số đều cậy vào huấn-hỗ. Cựu hỗ thời Tây-Hán không may qua Đông-Hán đă tiêu-vong. Dịch-tượng nhân đó di-thất mà lư-số cũng tối tăm lây. Nay ta chỉ c̣n trông vào Chu-Dịch Tập-giải cuả Lư Đỉnh-Tộ (234), mà những điều mà Tập-giải sao lục đều là thuyết thời Hán-Ngụy viết ra. Về sau, Tống-nho và Thanh-nho, tuy có bàn nhiều nhưng đại-suất đều là tổ-thuật Tuân-Sảng, Ngu-Phiên. Trung-gian, có Đoan-Mộc Quốc-Hồ một ḿnh sáng nghĩ ra thanh-ứng-quái và mệnh-quái, tuy có chỗ chưa ổn nhưng cũng trừu dịch thửa nghiă không ǵ là chẳng tức tức tương đồng với Thái-Huyền. Tôi vụng nghĩ là Chu Dịch Chỉ dung-hội được số-lư với Chu Dịch. Chỉ dùng Quái-khí-đồ cuả sách cũng đủ t́m lại được thời-huấn tượng-số cuả Chu-Công, khác hẳn ngoa-ngộ cuả các nhà trị Dịch khác.

Trong 'Dịch-học Tượng-số Luận' (463), Thanh-nho Hoàng Tông-Hy có bàn-luận cặn kẽ về Dịch Tượng-số. Sách gồm 6 quyển: nửa đầu cuả sách nói về tượng, nửa sau cuả sách nói về số.

 Ba quyển trước luận về Hà-đồ, Lạc-thư, phương-vị tiên-thiên, nạp-giáp, nạp-âm, nguyệt-kiến, quái-khí, quái-biến, hỗ-quái, phệ-pháp, chiêm-pháp, và phụ vào nguyên-tượng làm nội-thiên, toàn nói về tượng.

Ba quyển sau luận về Thái-Huyền, Kiền-tạc-độ, Nguyên-bao, Tiềm-hư, Đỗng-cực, Hồng-phạm-số, Hoàng-cực-số, cho chí lục-nhâm, thái-ất, độn-giáp, làm ngoại-thiên, đều nói về số.

Đại-chỉ bảo là thánh-nhân lấy tượng dạy bảo thế-nhân: có tượng cuả bát-quái, tượng cuả sáu hào, tượng tượng-h́nh, tượng cuả hào-vị, tượng phản-đối, tượng phương-vị, tượng hỗ-thể. Khi xét bẩy loại này, tượng được xét đến tận cùng. C̣n cái hậu-nho cho là ngụy-tượng gồm có: nạp-giáp, động-hào, quái-biến, tiên-thiên. Bốn loại sau bác-tạp mà bẩy loại truớc c̣n tối tăm. Cho nên biên sùng bẩy tượng mà bài-xích bốn tượng, hẳn  cầu cái nào hợp với cổ, mà biện ngoa-mậu cuả tượng-số-học.

Lại nữa, ba sách độn-giáp, thái-ất, lục-nhâm, đời gọi là tam-thức, đều chủ cửu-cung để tham-tường nhân-sự, sách cuả ta lấy thái-ất hành cửu-cung để pháp-chứng thái-ất, lấy phép bói cuả Ngô Việt Xuân Thu, lấy Quốc-ngữ Linh-châu-cưu mà đối-chứng lục-nhâm. Nói rằng hậu-thế không được truyền-thụ để đính-chính chỗ thất sách cuả số-học. Thửa tŕ-luận đều có y-cứ, nên Tông-Hy cứu-tâm tượng-số, nhất nhất hiểu thấu gốc ngọn mà chỉ rơ hà-t́.

 

DỊCH-TƯỢNG


 

Dùng bát-quái thủ tượng, tinh-nghĩa quả nhập-thần một cách bất khả tư ngh́. Hán-nho bàn về Dịch không bao giờ dời khỏi tượng-số. Chỉ tiếc rằng sách của họ ngày nay đă tán-dật, không sách nào c̣n nguyên. Người đời Đường tôn-sùng Vương Bật chủ-trương tảo-tượng triệt để, nên ít nói đến tượng. Về sau, đời Tống th́ có Thiệu-tử với Hoàng-Cực Kinh Tế (391,  392, 399, 400, 424, 425, 426), Chu Tử-phát, Lâm Hoàng Trung, Trịnh Cương Trung, Khương Phú Quốc, đời Nguyên th́ có Hồ Nhât Quế, Hùng Dữ Khả, Hùng Lương Phụ, Vương Thân Chi, Đổng Chân-Khanh, Long Nhân Phu, đời Minh th́ có Lai Tri Đức với Dịch Kinh Lai Chú Đồ Giải (271, 272), Tiền Nhất-Bản vói Chu Dịch Tượng-Tượng Quản Kiến (275), Ngố Quế-Sâm, đệ-tử của họ Tiền với Chu Dịch Tượng-tượng Thuật (275), Hoàng Đạo Chu với Dịch-Tượng-Chính và Tam-Dich Đỗng-Ky(277), đời Thanh th́ có Điêu Bao, tự Mông Cát, Lư Quang-Địa, tự Hậu-am, với Chu-Dịch Chiết-Trung (278) và Chu-Dịch Thông-Luận, Hồ-Vị, tự Hiểu-thương, với Dịch-đồ Minh-biện (233), Huệ Đống, tự Định-vũ, với Chu Dịch Thuật (279) và Dịch Hán-học (264 ), Vạn Đàn Phong, Tiêu-Tuần (1763-1820), tự Lư-đường, với Dịch Thông-Thích (296), chuyên-trị Hán-học, Kỷ Đại-Khuê với Dịch-Vấn và Quan Dịch Ngoại-biên, chuyên-trị Tống-học, đều có sáng tạo ra rất nhiều tượng. Riêng hai nhà trị Dịch Diêu Phối Trung với Chu Dịch Diêu-thị Học (348), và Đoan-Mộc Quốc-Hồ với Chu Dịch Chỉ (220), chuyên lấy tượng từ Bản-Kinh-truyện mà không dựa vào tượng của các đời trước, thật là trác-tuyệt, gây hứng-thú cho người học Dịch không ít. Thượng-bán Thế-kỷ thứ 20 lại có Dịch-gia Thượng Bính-Hoà (1870-1950), tự Tiết-chi, hiệu Từ-khê lăo-nhân và Thạch-yên Đạo-nhân, với ba tác-phẩm chính-yếu: 'Dịch-lâm Chú', 'Tiêu-thị Dịch-hỗ', và 'Chu Dịch Thượng-thị-học', đă chiếm điạ-vị thừa tiền khải hậu, kế văng khai lai trong Dịch-học-sử.

 

Dật-Tượng

 

Thời Tam-đại, Quan Thái-bốc chấp-chưởng dịch-tượng, mà ngay giữa thời nhà Chu đă thất-tán nhiều, rồi sang thời Đông-Chu vẫn chưa t́m lại được cố-vật. Thuyết-quái-truyện do Khổng-tử truyền lại cũng chỉ là tác-phẩm thập-di. Hồi loạn Vĩnh-gia (304-311), các giản-thư (sách bằng thẻ tre) bị đốt cháy rụi. Sang thời Tây-Hán, Thuyết-quái-truyện cũng khuyết mất ba thiên. Khi Hà-nội Nữ-tử t́m được trong phế-ốc cổ-thư, đó chính là Thuyết-quái-truyện mà ta có được ngày nay. Do đó quái-tượng tàn khuyết là chuyện không thể tránh được.

Dật-tượng cũng như tượng-nghĩa rất có ích trong công cuộc cắt nghĩa Kinh Dịch. Bổ-tượng của Tuân cửu-gia gồm có kiền 4 điều, đoài 2 điều, ly 1 điều, chấn 3 điều, tốn 2 điều, khảm 8 điều, cấn 3 điều, khôn 8 điều, cả thẩy là 31 điều. Chu-tử thâu nhập các dật-tượng này vào Chu Dịch Bản Nghĩa; Mạnh Hỉ dật-tượng gia tăng gấp bội gồm có: kiền 61 điều, đoài 9 điều, ly 19 điều, chấn 49 điều, tốn 20 điều, khảm 47 điều, cấn 37 điều, khôn 81 điều, cả thẩy là 323 điều, trong đó có nhiều dật-tượng Ngu-Phiên thêm vào sau. Các hậu-nho như Hà-Ổn, Vu Linh-Thăng, Hầu-Quả, Chu-Chấn, Lai Tri-Đức, Mao Kỳ-Linh cũng đều có dật-tượng. Đại để là góp nhặt từ Thập-Dực. Dịch-đạo vỹ-đại, bao trùm tất cả, tượng đủ để tận vật, nhưng vật không đủ để tận quái. Chẳng qua chỉ là để giở một góc lên, c̣n giở ba góc kia lên là phần việc của thức-giả. Nay xin tuần-tự liệt-kê các dật-tượng chính góp nhặt được:  

Tuân Cửu-gia Dật-Tượng
 

Tuân-Sảng, tự Từ-minh, có viết ra Cửu-gia Dịch-giải (267, 10 Q.) như thuật lại trong Tiền-Hán-thư của Ban-Cố. Có hai thuyết về Tuân Củu-gia. Văn-hiến Thông-khảo của Mă Đoan-Lâm đời Nguyên, dẫn họ Trần th́ nói rằng: do Hoài-nam-vương Lưu-An sai chín nhà soạn ra. Nhưng, trong Thích-văn Tự Lục, Lục Đức-Minh lại nói rằng: chín nhà soạn ra sách là: Kinh-Pḥng, Mă-Dung, Trịnh-Huyền, Tống-Ai, Ngu-Phiên, Lục-Tục, Diêu-Tín, Trạc-Nguyên và Tuân-Sảng. Tuy nhiên, chín nhà không sống cùng thời, vả chăng dịch-thuyết của họ lại đối chọi, khó ḷng hợp-nhất lắm. Nay chép ra đây để duyệt-giả tham-khảo.

Trong 31 dật-tượng của Tuân-Sảng chỉ có hai dật-tượng không có trong Thoán-Tượng-Truyện là khôn là nước cốt và tốn là quán tức chim quán (giống con hạc mà đầu không đỏ, cổ dài, mỏ dài, suốt ḿnh mầu tro, đuôi và cánh đen, làm tổ trên cây cao). Các tượng khác là:

kiền (4 tượng) = rồng, thẳng, quần áo, lời nói;

khôn (8 tượng) = động-vật giống cái, mê-muội, vuông, túi, xiêm, mầu vàng, gấm vóc, nước cốt;

chấn (3 tượng) = ngọc, chim hộc (ngỗng trời), cái trống;

tốn (2 tượng) = cây dương, chim quán;

khảm (8 tượng) =  cung điện, luật, có thể, xà ngang (rui, vô h́nh chung tượng này tiềm ẩn nơi quẻ trạch-phong Đại-quá: hai hào âm tượng trưng hai đầu rui giấu vào nóc nhà), bụi gai,  con cáo, cây tật-lê, gông cùm;

ly (1 tượng) = con ḅ cái;

cấn (3 tượng) = cái mũi, con hổ, con cáo;

đoài (2 tượng) = thường, má và hai g̣ má.   

 

Mạnh-thị Dật-Tượng

 

Dật-tượng cuả Mạnh-Hỉ có thể lấy từ Dịch-truyện của Tiêu Diên-Thọ hay từ Dịch-truyện của Ngu-Phiên v́ kinh-sư thời Lưỡng-Hán thường lấy dịch-thuyết của thầy ḿnh. Các dật-tượng này đa-số lấy từ bản-kinh, tuy có vài chỗ khác. 

kiền = vua, tiên-vương, minh-quân, thần-nhân, con người, đại-nhân, thánh-nhân, hiền-nhân, quân-tử, vũ-nhân, hành-nhân, thay đổi, vật, đứng, thẳng, kính, sợ, oai, nghiêm, cứng cáp, đạo, đức, thịnh-đức, đi, tính, t́nh, lời nói, tín, thiện, tích-thiện, lương, ḷng nhân, yêu, giận, sinh, điềm lành, mừng, thiên-thể, vui mừng, tốt đẹp, phúc, lộc, phúc lớn, đầu tiên, bắt đầu, biết, lớn, đầy, tốt tươi, béo (mập), tốt, thi-hành, lợi, mầu xanh, trị, đại-mưu, cao, cất lên, tôn kính, cao-tông, họ-hàng, giáp, già, cũ, xưa, đại-minh, xa xôi, ngoại-ô, đồng quê, cửa, đạo-môn, một trăm, môt năm, đỉnh, son, quần áo, ngọc khuê, người già lục-tuần trở lên, quả dưa , rồng.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: kiền = cao, tú  Cang, quẻ kiền, khô, khô ráo, hiểu rơ, già, tổ, đầy tớ, liền, chức-tước, ơn-huệ, thịnh, xa, thể-chất, thật, chỗ cao nhất, khắp ṿng. 

khôn = bầy tôi, thuận-thần, dân, muôn dân, họ, tiểu-nhân, ấp-nhân, quỷ, h́nh, thân, động-vật cái, người mẹ, thân ḿnh, ta, tự, đến, cái xe, an, khỏe mạnh, giầu, của cải, tích, tụ, họp lại, nặng, dầy, tới cùng, thể, dụng, bao, góa bụa, thong thả, dinh, dưới, bao dung, đầy đủ, trống không, sách, gần, bờ cơi, vô-tận, nghĩ, ghét, lẽ,  lễ, nghĩa, sự, công-nghiệp, đại-nghiệp, chính-trị của nhà nước đối với dân (thứ-chính), tục, độ, loại, đóng, cất giữ, dầy đặc, im lặng, xấu hổ, muốn, quá, hôi thối, xấu xa, tích ác, mê, giết, loạn, oán, hại, triệt ác, cuối cùng, vĩnh chung, rách nát, chết, chôn, tối tăm, đêm tối, chiều tối, buổi chiều, chiều và tối, ất, năm, mười năm, cửa, nghĩa-môn, đóng cửa, đóng cửa quan, sao chẳng? đất, tích-thổ, thềm bực, ruộng, ấp, nước, nước nhỏ, nước lớn, vạn-quốc, dị-bang, phương hướng, quỷ-phương, quần, dây thao đeo ấn, xe, nan hoa, đồ dùng, cái ṿ, cái túi, con cọp, con tê-giác cái, con ḅ vàng, con ḅ cái.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: khôn = mầu vàng, thường, tĩnh, ẩm ướt, quần áo, lụa dệt bằng tơ trần, than, yến tiệc, thây, mẹ xưa, một muôn, tiêu tan, thấp hèn, nghèo hèn, nhà, thiên-hạ, cung điện.  

chấn = Đế, chúa, chư-hầu, con người, kẻ sĩ, anh, người chồng, nguyên-phu, ngón chân, đi ra, đi, chinh-phục, làm, trốn tránh, kinh-tẩu, cảnh-bị, một trăm, bách-cốc, lời nói, giảng-nghĩa, hỏi, ăn nói, cáo, âm-hưởng, thanh, âm, kêu, hót, đêm, giao, trừng-phạt, phản, sau, đời sau, theo sau, giữ, bên trái (nam-diện th́ chấn đông nằm bên tả), sinh, nếm, thong thả, khoan nhân, vui, cười, vui cười, tiếng cười, đạo, g̣, tế, rượu nếp để cúng tế, gieo giống, cỏ rậm, cái trống, giỏ tre vuông, con ngựa, hươu nai.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: chấn = dùng, nhẩy, đánh nhau, giết người trên, phát, đă qua, đánh giặc, xây dựng, mấy? khu-trừ, tuổi, tiến vua, canh (can thứ 7), yêu thương, thuốc men, sờ, toại ḷng, trèo lên, đóng, ăn mừng, quư, yêu mến, hiền.  

tốn = mệnh, mệnh-lệnh, giáo-lệnh, báo cho biết, cửa hiệu, kêu gào, xử-nữ (con gái c̣n trinh), đàn bà, người vợ, thương-lữ, đi theo, nhập, nhập-phục, lợi, chỉnh-tề, cùng, qua lại, tiến, lui, múa, hang, khúc gỗ dài, cây cói, cây dương, cỏ mao trắng, cây lan, cây cỏ, cỏ rậm, cây kỷ, dây sắn và dây b́m, củi, há? sao?, rừng, thừng, gấm, thắt lưng, thắt buộc, rắn, cá, cá giếc.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: tốn = rừng, cây dâu, cái gối, ngưng chất độc, đánh phá, rễ mọc chằng chịt, xưng, đầy đủ, buộc lại, đủ, nạp, tích, quyền, cây búa hộ-thân (tư-phủ) như trong quẻ khảm. 

khảm = thánh, mây, mây đen, sông (xuyên), sông cái, sông ng̣i (hà), trái tim, chí, suy nghĩ, lo tính, lo âu, mưu, sợ hăi, ngờ, khó khăn, què quặt, sót thương, hối tiếc, đi xa ra, quên, tội, mệt mỏi, thấm ướt, nước mắt, nước mũi, tai hại, tật, tật bệnh,  dịch-lệ, nghi-tật, tai, phá, tội, trái lẽ, muốn, dâm, trộm cướp, nạo, độc, mương nước, phép, phạt, ngục, ắt, kinh, tập, nhập, trong, tụ, xương sống, lưng, đít, mỡ, thuốc cao, đêm tối, năm, ba năm, thây, rượu, bụi cây, bụi gai, cây tật-lê, cây, xe, ngựa, cung đạn, cung nỏ, trường học.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: khảm = sâu, xâm lấn, biến đổi, thông suốt, u tối, tà vậy, sinh sôi, chim cắt, luật, cái huyệt, mất, rửa tay, róc rách, trở về. 

ly = con gái, đàn bà, có mang, ác-nhân, trông thấy, bay, tước-vị, con mắt, sang, trước tiên, giáp, mầu vàng, mậu (can thứ năm), chặt đầu, con dao, cây búa, cây búa hộ-thân (tư-phủ), mũi tên, mũi tên bay, mũi tên bằng vàng.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: ly = nh́n, dẫn đường, thực-hành, tạo, nhóm người, phúc, mặt, thật, diệt, lỗi lầm, lộng lẫy, một chiếc, sắc đen, đốt, trống không. 

cấn = em trai, tiểu-tử, quân-tử, hiền-nhân, trẻ em, trẻ thơ, tiểu-đồng, viên quan, bạn bè, lính canh cửa, thời-gian, giầu có, sao, sao nhỏ, tiếng sét đánh, quả núi, trái cây, cẩn-thận, tiết, chờ, kiềm-chế, cầm, nhỏ, nhiều, dầy, lấy, bỏ, cầu, thật, đạo, ở lỗ, đá, thành, cung-thất, môn-khuyết (lầu canh ở cửa cung), cái nhà, cửa sổ, ở, cổng ngơ, tông-miếu, xă-tắc, cái mũi, cánh tay, cái lưng, bắp chân, da, lớp da dính với thịt, cây nhỏ, trái cây lớn, con báo, chó sói, con cáo, con chồn nhỏ, cái đuôi.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: cấn = loại, chắc chắn, nghiên-cứu, nhổ lên, thành, thành tâm, c̣n lại, thân ḿnh, cùng, mạnh dạn, ngôi, nơi, hầu hạ, bó lại, nghĩ, khắc, năng, dám, dốc núi, một ngàn, khó khăn, g̣, thừa cơ, lật ngược, địch, săn được, nuôi gia-súc, chuộng, nào, lặng lẽ, kiêm, dắt kéo, địch lại, hạn, bầy ra, khí, thịnh.   

đoài = em gái, diệu, người vợ, bạn bè, bạn thân, giảng-tập, h́nh phạt, tội-nhân, nhỏ, ít, dầy đặc, thông, thấy, bên phải, bên dưới, biết ít, giao kèo.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: g̣ má, lời nói, hỏi, cáo, bàn bạc, biện-luận, bầy, công-lao, cánh tay, chương, ngậm, hại, bói cỏ thi, sử, thương, dưỡng, nuôi, phạt, xấu hổ, buồn, đẹp, diệu, điềm lành, hiền lương, kẻ cướp, hèn, trộm cướp, bạo tàn. 

Biệt-bản c̣n chua thêm các tượng: quẻ khảm = trộm, tốn = buộc, đoài = ngó trộm. Trong ẩn lại có ẩn. Nhưng tượng luống vô-phương, ư động mà thành tượng. Được ư có thể quên tượng, ắt cũng có thể thành tượng. Dịch bao trùm đạo của thiên-hạ, lấy bát-quái tương-thác, âm-dương phản-phục, năng uốn nắn nên muôn vật mà không sót, chính là dùng tượng mà biến-hóa đến vô cùng, vô-tận, buông thả ứng khắp trời đất, chỉ c̣n lại muôn vật sinh sinh măi măi không ngừng. Muôn vật sinh sôi nẩy nở, mỗi ngày mỗi nhiều, số đông không kể siết. Cho nên Mao Kỳ-Linh dẫn tượng được 270 điều, ngọai-suy từ Dịch-truyện của Ngu-Phiên và sưu-tập biệt-lục dật-tượng của các nhà trị Dịch khác được 1471 dật-tượng! (266, tr. 145-329). 

 

 Ngu-thị Dật-Tượng

虞氏逸象

(464, tr. 1-20)

            Sách này hay ở chỗ cắt nghiă dật-tượng rạch ṛi, mạch-lạc, có đầu, có đuôi, có ngành, có ngọn.

KIỀN: là quốc-quân, ông vua, tiên-vương, minh-quân, tiêu ® thần, thánh-nhân, hiền-nhân, quân-tử, đại-nhân, thiện-nhân, vũ-nhân, hành-nhân, vật, kính, uy-nghiêm, đạo, đức, tính, tín, thiện-lương, phẫn (oán giận), sinh, khánh (phúc lành), tường (điềm lành), gia (tốt đẹp), phúc-lộc, tích-thiện, giới-phúc (phúc lớn ¬ Tấn lục-nhị), tiên (trước), thủy (mới bắt đầu), biết, đầy (đặn), béo tốt, tốt (Giả-Quỳ nói: tốt sinh nơi dương),thi (làm ra, thi-hành), lợi, trong sáng, trị, cao, tôn (tông), giáp, lăo, cũ, cổ, lâu (bền), sợ, đại-minh, ban ngày, xa, giao (ngoại-ô), dă (đồng quê), cửa, đại-mưu, đạo-môn, 100, tuế (năm tiết-khí), chu (mầu đỏ thẫm), đỉnh, ngọc, ngọc khuê (trên tṛn hoặc nhọn, dưới vuông), cỏ thi, biến dịch, lập (dựng nên), thẳng, kiên-cương, đức-hạnh, lời nói, dương thiện, đức nhân, thiên-hưu, xum xuê,tông-tộc, Cao-tông, quấn áo, con cáo, con rồng. 

KHÔN: là tỷ (tiếng con gọi mẹ đă mất), dân, họ mạc, h́nh-nhân (tội-nhân), tiểu-nhân, quỷ, thây, h́nh thù, tự, tôi (ta), cung (thân ḿnh), thân-thể, chí (đến), an, khang, phú (giầu), tài (tiền bạc), tích, tụ, trọng (nặng), hậu (dầy), cơ (nền), trí (rất, tới cùng), dụng, bao, quả (goá), thong dong, dưới, đầy đủ, sách, vĩnh (lâu dài), gần, mặc (lặng lẽ), ác, lễ, nghiă, sự, loại, bế (đóng), mật (đặc), sỉ (hổ ngươi), dục (muốn), quá (lỗi), xú (hôi thối), ác, oán, hại, chung (cuối), chết, chọn, giết, loạn, táng-kỳ, tích-ác, u tối, đêm, thử (nóng), ất, niên (năm tháng), mười năm, hạp (đóng), hộ (cửa một cánh), khép cửa, thứ-chính, đại-nghiệp, thổ (đất), điền (ruộng), ấp, quốc (nước), bang (nước nhỏ), đại-bang, quỷ-phương, khí (đồ dùng), phẫu (cái phủ, cái ṿ bằng đất ¬ Ly cửu-tam), phúc (cái căm bánh xe), con hổ, hoàng ngưu (con ḅ mầu vàng), bầy tôi, thuận thần, vạn dân, ấp-nhân, con thú cái, người mẹ, tụ họp, bao dong, cương vực, vô cương, lư, thể, nghiệp, tục, độ, tang, mê, át ác, vĩnh chung, che lấp, cùng khốn, buổi chiều, chiều tối, nghiă-môn, bế khuyết, vạn quốc, dị-bang, phương-sở, đại-dư (cỗ xe lớn), túi, hủy (tê-giác), ḅ cái.

CHẤN:  là đế, chuá, chư-hầu, con người, hành-nhân, kẻ sĩ, huynh (người anh), phu (người chồng), nguyên-phu, hành (đi), chinh (đánh, dẹp), xuất (đi ra ngoài), trục (đuổi), tác (làm), hưng (đứng dậy), bôn (chạy vội), bôn tẩu, 100, ngôn (lời nói), giảng, nhường, vấn (hỏi), ngữ (nói), cáo (báo cáo), hưởng (tiếng dội), giao, trừng, phản, hậu (sau), thế (đời), thủ (giữ), sinh, hoăn (chậm lại), khoan-nhân, lạc (vui mừng), tiếu (cười), đại-tiếu, lăng, cúng tế, sưởng (rượu nếp cúng), thảo măng, bách-cốc, mê lộc (hươu nai), khu-thế, thường, khuông (giỏ tre vuông), ngón chân, phu (phô bầy), phản sinh, kinh tẩu, định, giảng-luận, thanh, kêu, hậu-thế, vui cười, cười nói, con đường, gieo mạ, con ngựa.

TỐN: là mệnh, báo-cáo, hiệu-lệnh, mệnh-lệnh, thương (buôn bán), tùy, trán rộng,  dung (tường cao, thành đất), sàng (cái giường), cây dâu, con rắn, con cá, xử-nữ, tiến  lui, muá, nhập-phục, tề chỉnh, hang, cây, đài hoa, dương-liễu, cây ăn trái, cỏ mao, phong-lan, cát-lũy (dây sắn, dây b́m), dây nhợ, thắt lưng, dây thừng, quật (dây thừng buộc vào gầu múc nước), phụ (cá giếc).

KHẢM: là mây, nguyên-vân (đám mây lớn), đại-xuyên (sông cả), chí, mưu, sợ hăi, ngờ, âu sầu, hối-hận, tật bệnh, tai, phá, tội, bội (loạn-nghịch), muốn, dâm, ngục tù, bạo, độc, hội (vỡ đê, lộn xộn), phu (tin tưởng), b́nh (bằng phẳng), phép-tắc, kinh- điển, pháp-luật, bụi, tụ, tập, đẹp, sau, nhập, đồn (mông đít), yêu (lưng), nhuận, cao (cao dán, mỡ), đêm tối, ba năm, rượu, quỷ, hiệu (gông cùm), xuyên mộc (gông cùm), cung đạn, thánh, sông ng̣i, tâm, tư-lự (lo nghĩ),  kiển-nạn, lo âu, quên, mệt nhọc, thấm ướt, sảnh (lầm lỗi), giặc cướp, h́nh phạt, xương sống, tuế (năm tiết-khí), thây, bụi cây, bụi gai, cây tật-lê, cây, xe ngựa.

LY:  là mầu vàng, trông thấy, bay, sáng, giáp, có mang, nhung (binh-khí), dao, búa, tư-phủ (cái búa sắc bén ¬ Lữ cửu-tứ), mũi tên, mũi tên vàng, vơng (lưới), chim hạc, chim, chim bay, con gái, đàn bà, ác-nhân, tước-vị, mặt trời, gẫy cổ, tên bay, mắt lưới, chim cắt, chim đại-hồng.

CẤN: là đệ (em), tiểu-tử, hiền-nhân, trẻ con, tiểu-đồng, viên quan, bạn-bè, con đường, thời-gian, chồn con, chó sói, thạc (lớn, rộng), thạc quả (trái cây lớn ¬ Bác thượng-cửu), cẩn-thận, thuận, chờ đợi, cầm, nhiều, dầy, cầu, đốc-thực, huyệt-cư (ở lỗ), thành-tŕ, cung điện, đ́nh (sân trước nhà), lư (nhà), cửa khuyết, cư (ở), xá (nhà ở), tông-miếu, tinh (sao), đẩu (sao bắc-đẩu), mạt/muội (tinh-vân) ¬ Phong cửu-tam, quăng (cánh tay), bối (lưng), vỹ (đuôi), b́ (da), chỉ trỏ, con chó, quân-tử, đồng mông, gác chuông, sấm sét, quả-quyết, tiết-chế, nhỏ, lấy, đá, mũi, ph́ (bắp chuối, bắp quả), da (kiền là xương, khôn là thịt nên cấn là da), cây nhỏ, con báo.

ĐOÀI:  là bạn bè, bằng-hữu, nhỏ, mật (đặc), trông thấy, hữu (bên phải), thiểu tri (biết ít), con dê, dê con, chị, vợ, giảng-tập, trẻ con, thong, dưới, khế (giao kèo).

 

Dịch-Lâm Dật-Tượng

易 林 逸 象

(464, 465, 466)

            Dật-tượng này tối cần thiết để giải thích kinh Dịch. Dật-tượng này không những được dùng để giải kinh mà cũng được dùng để kiểu-chính những ngộ-giải. Rơ ràng nhất là "Tiêu-thị Dịch-hỗ" (466) cuả Thượng Bính-Hoà, sưu-tầm được hơn 170 dật-tượng, đấy là không kể cả ngàn tượng không dính dáng ǵ với Dịch. [] chỉ xuất-xứ cuả Dật-tượng tức thị từ Bản Kinh hay Thập Dực hoặc các dịch-thư khác. Bằng chứng này lấy từ 'Dịch-Lâm Dật-Tượng Nguyên-bản-khảo 易林逸象原本考'. Độc-đáo là các dật-tượng rất hữu ích trong Mai-Hoa Dịch-số.

          Tả-truyện có chép:

          Hàn-Tuyên-tử viếng thăm nước Lỗ, xem Dịch-tượng cùng Lỗ Xuân Thu, rồi nói rằng: "Ta bèn biết đức cuả Chu-Công cùng là tại sao Nhà Chu được ngôi Vua". Đức cuả Chu-Công có thể biết được từ Lỗ Xuân Thu. C̣n Nhà Chu được làm Vua, ắt nhờ tượng mà biết. Xưng là Dịch-tượng đủ chứng-thực là Kinh Dịch sở dĩ là Kinh là nhờ lấy tượng làm chủ-đích. Hệ-Hạ I/9 cũng nói: "Hào dă giả, tượng tượng thử giả dă = Tượng là phỏng theo điều ấy vậy". Nhân v́ từ do tượng sinh, nên Dịch không có từ nào là chẳng có tượng. Mỗi quái-từ, mỗi hào-từ, câu nào cũng có nội dung khác nhau. Giả sử không y-cứ tượng mà thích từ, ắt kỳ-quái, mê hoảng, mà chẳng biết thửa từ từ đâu ra, không biết thửa nghiă sinh từ đâu. Tượng cuả Thuyết-quái-truyện rất giản-lược, cốt giúp cho sơ-học-giả hiểu qua loa, biên-giả sẽ lục-tục trích-diễm dịch-tượng từ các chú-sớ cuả các nhà để làm tài-liệu tham-khảo. Đoạn văn này trích từ Tiêu-thị Dịch-Lâm Chú 焦氏易林注 cuả Thượng Bính-Hoà.

KIỀN: là nhật [Kiền cửu-tam: Quân-tử chung nhật kiền kiền = Người quân-tử phải suốt ngày mau mắn| Thoán: Đại minh chung thủy = Làm sáng tỏ cả sau và trước, v́ đại-minh = nhật| Tấn, Thoán-truyện: Thuận nhi lệ hồ đại minh = Thuận mà phụ vào ánh sáng lớn], sông biển [Đồng-nhân Thoán: Lợi thiệp đại xuyên = Vượt qua sông lớn th́ lợi], núi g̣ (sơn-lăng) [Đồng-nhân cửu-tam: Thăng kỳ cao lăng = Đi lên trên đồi cao], đá, ngọc [Thuyết-quái: Kiền vi ngọc], sông lớn (đại-xuyên) [Xem Đồng-nhân], phương nam [Đồng-nhân, Tuân-Sảng chú: Kiền trú nơi ly, nên đồng-cư], hổ [Văn-ngôn: Phong tùng hổ = Gió đi theo hổ| Lư Thoán, Lư cửu-tam: Lư hổ vỹ = Đạp lên đuôi hổ].

KHÔN: là nước (hành thủy) [Ích: Lợi thiệp đại-xuyên = Vượt qua sông lớn th́ lợi], cá [Bác cửu-ngũ: Quán ngư = Chăn cả một bầy cá], rắn [Hạ-Hệ V/3: Long  xà chi trập = Rồng rắn náu đi], vực sâu [Tụng, Thoán-truyện: Nhập vu uyên = Sẽ vào trong vực sâu], mây [Tiểu-quá lục-ngũ: Mật vân bất vũ = Mây dầy đặc mà chẳng mưa], g̣ đất [Thăng cửu-tam: Hư-ấp = Ấp không có người], cỏ mao [Bĩ: Bạt mao liên nhự], nghịch [Khôn nghịch-hành = Khôn đi ngược chiều| Kiền Tạc Độ: Khôn hữu hành, âm thời lục], phương bắc [Tiên thiên bát-quái], tâm [Ích cửu-ngũ: Hữu phu huệ tâm = Giữ ḷng tin để làm ơn], chí [Ích cửu-ngũ: Đại đắc chí [= Cả đắc chí], ưu-tư (âu lo) [Thái cửu-tam: Vật tuất = Đừng lo phiền| Thăng Thoán: Vật tuất], bệnh tật [Phục: Xuất nhập vô tật = Ra vào không bệnh-tật| Tổn lục-tứ: Tổn kỳ tật = Bớt bệnh-tật cuả ḿnh], độc [Sư: Dĩ thử độc thiên-hạ = Lấy điều ấy làm hại thiên-hạ], lao [Khôn dịch thiên-hạ, cố lao = Khôn nuôi dưỡng thiên-hạ, nên khó nhọc], gió [Văn-Ngôn: Phong tùng hổ = Gió theo con hổ| Nội-Kinh bảo: Phong, do thổ-khí sinh ra], đồng ruộng [Khôn thượng-lục: Long chiến vu dă = Rồng đánh  nhau ở đồng ruộng], ngoại-ô [Tiểu-súc: Tự ngă tây giao = Từ ngoại-ô phiá tây cuả ta ¬ giao dùng phục-khôn], lần đầu [Tỷ: Nguyên-phệ, nguyên vĩnh trinh = Bói lần thứ nh́ mà được như lần đầu, là có đức nguyên-thiện, lâu dài, chính bền].

CHẤN:  là vơ [Quốc-ngữ: Chấn, xa dă = Chấn là xe vậy| Xa hữu chấn vũ [ Xe có uy-vũ cuả chấn], lá cờ [Tả-thị 'Hoả phần kỳ kỳ' = Hoả đốt cháy thửa lá cờ, lấy chấn làm lá cờ], chim đại-hồng [Tiệm: phục-tượng], chim cắt [Giải thượng-lục: Công dụng xạ chuẩn = Ông dùng để bắn con chim cắt], bắn [Xem ở trên| Tả-truyện: Xạ kỳ nguyên, đều lấy chấn làm 'bắn'], phương nam [Thăng: Nam chinh cát = Tiến về phương nam th́ tốt| Tả-truyện: Nam quốc xúc = Nam-quốc bị bức-bách], tước [Trung-phu: Ngă hữu hảo tước = Ta có tước đẹp], chén đựng rượu [Khảm lục-tứ: Tôn tửu = Dâng chén rượu], nuôi ăn [Di: Tự cầu khẩu thực = Ḿnh tự nuôi ḿnh], chim hạc [Trung-phu: Hạc minh tại âm = Chim hạc kêu trong bóng mát], cô dâu, vợ cả [Quy-muội lục-ngũ: Kỳ quân chi duệ = Cái tay áo cuả nàng], chinh, phạt [Khiêm lục-ngũ: Lợi-dụng xâm-phạt = Lợi-dụng về việc xâm-phạt| Tiệm cửu-tam: Phu chinh bất phục = Chồng đi chinh-chiến không trở về], ṿng khắp (chu) [Văn-Ngôn: 'Phản-phục đạo dă = Trở đi, trở lại vậy'; 'Chu nhi phục thủy = Đi ṿng khắp rồi quay về khởi-điểm'], Cơ , là họ cuả Nhà Chu, cái ṿ, cái tĩn, cái hũ [Tỉnh cửu-nhị: Ủng tệ lậu = Ṿ bể, nước rỉ ra, phục-tượng], thai nghén [Truân lục-nhị: Thập niên bất tự = Mười năm chẳng có mang| Tự nghiă là có mang vậy, phục-tượng], con thuyền [Trung-phu Thoán-truyện: Thừa mộc châu hư = Cưỡi thuyền cây ở trong rỗng], phi-dực [Minh-di sơ-cửu: Minh-di vu phi, thùy kỳ dực = Chim bay bị bệnh, rũ cả cánh| Phi-dực đều chỉ ứng-hào chấn], lăo-phu [Đại-quá cửu-nhị, phục-tượng], con buôn [Phục Đại-tượng: Thương-lữ bất hành = Không ai đi buôn bán], tước công [Giải: Công dụng xạ chuẩn = Công dùng để bắn chim cắt], người cha [Cổ sơ-lục: Cán phụ chi cổ = sửa-trị việc đổ nát cuả cha, sơ hào dùng phục], miệng [Di: Tự cầu khẩu thực = Tự ḿnh nuôi ḿnh], con dê [Đại-tráng cửu-tam| Quy-muội thượng-luc, đều nói đến: 'dê'], thần [Thuyết-quái-truyện: Đế xuất hồ chấn = Đấng chủ-tể ra ở phương chấn (phương đông). Đế tức thần], áo lót [Kư-tế lục-tứ: Nhu hữu y như = Có giẻ để nhét cho nước khỏi vào thuyền| Chữ với chữ , thời cổ dùng thông nhau], cái ṿ [Tỷ sơ-lục: Hữu phu doanh phẫu = Có ḷng tin đầy ṿ| Bảo: dương lại ra, thành chấn], cái b́nh [Tỉnh Thoán: Luy kỳ b́nh = Đánh vỡ b́nh| Dùng phục], cung hoàng-đạo (Thiệu-tử lấy chấn làm thần, dựa vào đó thần là thời) [Tổn và Ích đều nói: Dữ thời giai hành = Cùng thời-gian cùng tiến đi| Bởi v́ đều lấy chấn], đáp xe [Giải lục-tam: Phụ thả thừa = vừa vác trên vai vừa đáp xe], đi tuần-thú [Minh-di cửu-tam: Minh-di vu nam thú = Áng sáng bị tổn-hại ở chỗ đi tuần thú về phương nam], lên cao [Minh-di thượng-lục: Sơ đăng vu thiên = Trước tiên th́ lên tận trời], sáng suả (hoa) [Thuyết-quái-truyện: Chấn vi phu = phô bầy| Can-Bửu bảo: là sáng suả vậy], tóc [Thuyết-quái-truyện XI/4:: Tốn: Quả vi quả phát = Tốn là ít tóc (hói, sói)| Tốn là phản chấn nên liên-quan đến lông tóc], tay áo [Quy-muội lục-ngũ: Kỳ quân  chi duệ = Cái tay áo cuả nàng], đông-bắc [Tiên-thiên vị], manh-nha [Giải Thoán-truyện: Bách quả thảo mộc giai giáp sách = Trăm thứ hoa quả, cỏ cây đều nứt vỏ| Cũng lại là phản-sinh], Cơ-tử [Minh-di lục-ngũ: Cơ-tử chi Minh-di = Cơ-tử bị Minh-di| Cơ-tử lấy Minh-di],  trẻ con [Tùy lục-nhị: Hệ tiểu-tử = Ràng buộc với trẻ con| Cơ-tử cuả Minh-di lục-ngũ chính là hài-tử vậy], ruộng [Sư lục-ngũ: Điền hữu cầm = Ruộng có chim], bóng núi (sơn-âm) [Trung-phu cửu-nhị: Minh hạc tại âm = Chim hạc kêu trong bóng mát| Chấn là phản-cấn nên là sơn-âm], tốt đẹp [Tùy cửu-ngũ: Phu vu gia = Tin  ở điều lành], láng giềng [Thái lục-tứ & Khiêm lục-ngũ: Bất phú dĩ kỳ lân = Không giầu mà cũng có láng giềng], bờ dậu [Đại-tráng cửu-tam: Đê dương xúc phiên = con dê cúi đầu xuống, húc vào dậu], sao bắc-đẩu [Phong củu-tứ: Nhật trung kiến đẩu = Giữa ban ngày thấy sao bắc-đẩu], phúc [Chấn Đại-tượng: Khủng trí phúc dă = Biết lo sợ th́ đem phúc lại vậy], hư [Quy-muội Tiểu-tượng thượng-lục: Thừa hư khuông dă = Không có thực là bưng cái giỏ không], tuế-niên (Là thần, là mộc-tinh mà chu-kỳ xoay vần quanh mặt trời đúng 12 tuế, nên là tuế-niên) [Đồng-nhân cửu-tam: Tam tuế bất hưng = Ba năm chẳng hưng-vượng được].

TỐN: là người mẹ [Tiểu-quá lục-nhị: Ngộ kỳ tỷ = Gặp bà tổ-mẫu| Cổ cửu-nhị: Cán mẫu chi cổ = Sửa việc đổ nát cuả người mẹ], tề-chỉnh [Thuyết-quái-truyện V/1 : Tề hồ tốn Chỉnh-tề nơi tốn (đông-nam)], họ Khương, một họ cuả nước Tề [Chấn là Chu nên họ Cơ| Tả-truyện: Nếu khác nước ắt là họ Khương, lấy tốn làm họ Khương], Tiểu-Khương, tiểu-Tề [Đại-quá cửu-nhị: Lăo-phu đắc kỳ nữ thê = Người chồng già lấy được người vợ trẻ, lấy tốn làm thiếu(-phụ)], rớt xuống (vẩn-lạc) [Cấu cửu-ngũ: Hữu vẩn tự thiên = Có mệnh từ trời rơi xuống|| Tả-truyên nói: Phù tùng phong, phong vẩn =  || Lại nói: Ngă lạc kỳ thực = Ta vui thấy nó ăn], con heo [Cấu sơ-lục: Luy thỉ phu trịch--trục = Heo c̣m tin nhẩy nhót|| Trung-phu Thoán: Đồn ngư = Cá heo = Cá ông], Đồn = Heo con (Xem ở trên), côn-trùng [Tả-truyện nói: Ba chữ trùng thành ra chữ cổ . Nên tốn là trùng], tàm (con tầm) [Đại-quá Thoán: Đống nạo = Rui cong yếu, bởi chưng có trùng, mọt ở bên dưới], mục nát [Tạp-quái-truyện: Bác là mục nát], tệ lậu [Tỉnh cửu-nhị: Úng tệ lậu = B́nh vỡ, nước rỉ ra], khe hở [Ở dưới đứt đoạn, sở dĩ nước rỉ ra vậy].

giặc cướp [Đồng-nhân cửu-tam: Phục nhung vu măng = Nấp quân ở chốn rừng rậm], bệnh-hoạn là luy [Thuyết-văn: Luy là lậu], khô héo [Đại-quá cửu-ngũ: Khô dương sinh hoa = Cây dương khô héo sinh hoa], thức ăn [Mă Dung nói: là con nai vậy|| Vô-vơng cuả Vị-tế: Cầu mi canh điền = Lấy nai cầy ruộng, bởi chưng Vô-vơng hỗ Tốn là con nai], nghi ngờ [Phong lục-nhị: Văng đắc nghi tật = Tiến đi th́ bị nghi ngờ, bởi chưng Tốn sơ-lục Tiểu-tượng bảo: Tiến thoái, chí nghi dă = Tiến lui không quả-quyết là chí hẵng c̣n ngờ vậy].

KHẢM: là cái đầu [Thuyết-quái-truyện: Khảm chém đầu|| Minh-di củu-tam: Đắc kỳ đại thủ = Bắt được kẻ lớn đầu], Đầu lớn [Xem ỏ trên], thịt, nem (có lẫn xương) [Phệ-hạp Lục-tam: Phệ tích nhục = Cắn thịt lẫn xương||Phệ-hạp cửu-tứ: Phệ can tỷ = Cắn miếng thịt xương||Phệ-hạp Lục-ngũ: Phệ can nhục = Cắn miếng thịt xương], người chồng [Tả-truyện: Phu tùng phong = Người chồng cuốn theo chiều gió], mũi tên [Phệ-hạp cửu-tứ: Đắc kim thỉ = Được cái tên vàng], con quỷ [Kư-tế cửu-tam: Cao Tông phạt quỷ-phương = Vua Cao-tông đánh Quỷ-phuơng], lẻ loi [Khuê Cửu-tứ: Một ḿnh ḿnh không ứng-hợp với ai], phương tây [Tiên-thiên-vị|| Kư-tế cửu-ngũ: Bất như tây-lân chi thược-tế = Chẳng bằng hàng xóm bên tây tế mọn], bùn [Nhu cửu-tam: Nhu vu nê = Đợi nơi đất bùn|| Chấn cửu-tứ: Chấn toại nệ = Bèn bị lún trong bùn], ăn uống [Nhu cửu-ngũ: Chờ đợi ăn cơm, uống rượu|| Tụng lục-tam: Thực cựu đức = Hưởng đức xưa], bói cỏ thi [Mông Thoán: Sơ phệ cốc = Mới bói một lần th́ bảo|| Tỷ Thoán: Nguyên phệ, nguyên = Bói lần thứ nh́ mà được nguyên như kỳ đầu].

LY:  là ngôi sao [Phong lục-nhị: Nhật trung kiến đẩu = Ban ngày thấy sao bắc-đẩu
|| Phong cửu-tam: Nhật trung kiến mạt = Giữa ban ngày thấy vân-tinh], phương đông [Kư-tế cửu-ngũ: Đông lân sát ngưu = Hàng xóm bên đông giết trâu], kim-loại hoặc vàng [Đỉnh lục-ngũ: Kim huyễn, nghiă của cứng cáp bên ngoài], ngơ hẻm [Khuê cửu nhị: Ngô chủ vu hạng = Gặp chủ nơi ngơ hẹp], da [Khuê lục-ngũ: Quyết tông phệ phu = Cùng gịng họ, cắn da để kết-hợp].

CẤN: là lửa (hành hoả) [Lữ cửu-tam: Phần kỳ thứ = Xa quê nhà, đốt mất quán trọ], con chim [Tiểu-quá sơ-lục: Phi điểu dĩ hung = Chim bay lên bị xấu|| Tả-truyện: ly đi sang cấn thích-hợp với con chim], chim đại-hồng [Tiệm sơ-lục: Hồng-tiệm vu can = Chim Hồng nhẩy bên bờ nước], chim cắt [Thuyết-quái-truyện XI/7: Cấn vi kiềm hối chi thuộc = Cấn là loài mỏ đen], mặt [Cách thượng-lục: Tiểu-nhân cách diện = Kẻ tiểu-nhân biến đổi ngoài mặt], trâm cài đầu [Dự cửu-tứ: Bằng hạp trâm = Bầu bạn đến tụ họp đông đủ như răng cây trâm], cần phải [Quy-muội lục-tam: Quy muội dĩ tu = Con gái cần phải về nhà chồng], ông tổ [Tiểu-quá lục-nhị: Quá kỳ tổ = Đi qua ông tổ], Thần (bầy tôi) [Kiển lục-nhị: Vương thần kiển kiển = Kẻ vương thần kiển nạn lại rồi kiển nạn, hết nạn ấy d8ến nạn kia], thần-thiếp [Độn cửu-tam: Súc thần-thiếp cát = Nuôi thần-thiếp th́ tốt], sừng [Phàm Dịch nói đến sừng là chỉ hào ở bên dưới dương||
Như Đại-tráng cửu tam: Luy kỳ giác = Bị khốn cái sừng, v́ cửu-tam dương, sau lưng cửu-nhị cũng dương], mơm [Thuyết-quái-truyện XI/7: Cấn vi kiềm hối = Cấn là loài mỏ đen], vác [Đại-súc thượng-cửu: Hà thiên chi cù = Sao mà giống con đường ở trên trời thế?|| Giải lục-tam: Phụ thả thừa = Vừa vác trên lưng, vừa cưỡi xe], thọ [Thuyết-quái-truyện XI/7: Kỳ ư mộc dă vi kiên đa tiết = Ở cây là nhiều đốt và cứng dắn], quư [Tùy sơ-cửu: Quan hữu du = Chủ-ư có thay đổi, bởi chưng quan là quư], ấp, nước [Vô-vơng lục-tam: Ấp-nhân chi tai = Người trong ấp phải vạ|| Khảm Thoán-truyện: Vương-công thiết hiểm dĩ thủ kỳ quốc = Đấng Vương-công đặt ra cái hiểm để giữ nước|| Trung-phu Thoán-truyện: Năi hoá bang dă = Để hoá nước nhà vậy, đều lấy cấn làm ấp, làm nước], cái giường [Bác sơ-lục: Bác sàng dĩ túc = Cắt giường lấy chân], làm việc vặt [Lữ sơ-lục: Tư kỳ sở = Làm việc vặt], ṣ, ngao, hến, vật quư [Chấn lục-nhị: Ức táng bối = Mất cuả|| Sở dĩ ṣ, ngao, hến bởi là vật quư, bởi v́ ngày xưa chưa có tiền, lấy ṣ, ngao, hến  làm tiền], vàng [Mông lục-tam: Kiến kim phu = Thấy người có vàng bạc], quan-sát [Di Thoán: Quan Di = Quan-sát cách nuôi], nh́n [Di lục-tứ: Hổ thị đam đam = Mắt hổ nh́n chăm chăm], quang-minh [Khiêm Thoán: Thiên-đạo hạ tế nhi quang-minh = Đạo trời đi xuống chỗ thấp mà sáng tỏ], con ruà [Ích lục-nhị: Hoặc ích chi thập bằng chi quy = Được ích chăng, bói ruà được mười bằng], tây-bắc [Tiên-thiên-vị], trời [Đại-súc thượng-cửu: Hà thiên chi cù = Sao mà giống con đường ở trên trời thế?], đao kiếm [Tụy Đại-tượng: Quân-tử dĩ trừ nhung-khí = Người quân tử coi đó chứa sẵn đồ binh-khí], xương đầu [Khảm lục-tam: Hiểm thả chẩm = Hiểm và càng hiểm], con trâu [Vô-vơng lục-tam: Hoặc hệ chi ngưu = Ví như thuộc về con trâu], con heo [Vô-vơng lục-ngũ: Phần thỉ chi nha = Răng heo hoạn], Ai, kẻ, người nào [Mông lục-tam: Kiến kim-phu= Thấy ai có vàng bạc|| Tỷ Thoán: Hậu phu hung = Kẻ nào đến sau th́ xấu], tổ chim [Lữ thượng-cửu: Điểu phần kỳ sào = Con chim đốt mất tổ], tiểu-đồng [Lữ lục-nhị: Đắc đồng-bộc = Được tiểu-đồng], suốt ngày [Dự lục-nhị: Bất chung nhật = Chưa hết ngày], hang hốc [Tỉnh cửu-nhị: Tỉnh cốc xạ phụ = Giếng có hang, bắn xuống cá giếc].

ĐOÀI: là tháng [Tiểu-súc thượng-cửu: Nguyệt cơ vọng = tháng sắp đến ngày rằm], hoa [Đại-quá cửu-ngũ: Khô dương sinh hoa = Cây dương khô héo sinh hoa], Lăo-phụ [Đại-quá cửu-ngũ: Lăo-phụ đắc kỳ sĩ-phu = Người đàn–bà già lấy được người đàn ông cường-tráng], lỗ măng [Thuyết-quái-truyện XI/7: Vi cương lỗ = là cứng rắn, lỗ măng, v́ thời cổ hai chữ   (muối) (đụt, lừ đừ, ngu độn) dùng thông lẫn nhau], răng cỏ [Đại-súc lục-ngũ: Phần thỉ chi nha = răng con heo hoạn], con gà [Ở cung dậu], chim én [Trung phu sơ cửu: Hữu tha bất yên = Có ḷng nghĩ khác th́ chẳng yên], tai [Đỉnh lục-ngũ: Hoàng nhĩ = Có tai sắc vàng|| Đỉnh Thoán-truyện: Tốn nhi nhĩ mục thông-minh = Tốn thuận mà tai mắt thông-minh], rượu [Đoài là nước nên cùng tượng với Khảm], huyệt [Nhu lục-tứ: Xuất tự huyệt = Mà lại ra khỏi chỗ hăm], binh-khí [Tụy Đại-tượng: Quân-tử dĩ trừ nhung-khí, giới bất ngu = Ngựi quân-tử coi đó chứa sẵn binh-khí ở một nơi để đề-pḥng bất-trắc], mưa [Khuê Thượng-cửu: Văng ngộ vũ = Đi gặp mưa].

          Già 170 dật-tượng kể trên đều thất-truyền. V́ các dịch-gia Đông-Hán không hề biết đến các dật-tượng này, nên họ phạm phải nhiều sai lầm khi giải dịch. Ngày nay, khi chú Dịch, gặp chỗ nào ngờ ngợ, ta nên duyệt lại các dật-tượng kể trên.

         

Kết-Luận

Dịch có tượng rồi sau mới có số, có số rồi sau mới có lư. Bàng bạc giữa tượng-số lại có khí. Khí là 12 quái-hậu của 12 khí tiêu-tức thành 64 biệt-quái văng lai. Cho nên Dịch của Ngu-Phiên đề-cập khí là nói đến 12 quẻ: Cấu, Phục, Độn, Lâm, Bĩ, Thái v.v. Đó đều là quái-hậu. Mười hai tích-quái, chủ-quái tiêu-tức từ Trung-phu đến Di mà thành tiêu-tức-quái. Khí-hậu của trời đất, âm dương trên dưới, đầu đuôi, lấy các quẻ Trung-phu, Di mà minh-họa là nghĩa sáng sủa, không cần phải xem vạch âm dương trên dưới của quẻ, mà nghĩa đă lọn trong 12 tích-quái rồi. Hậu-nhân vũ-đoán vạch trên dưới 64 quẻ để tiêu-tức chúng: trong Dịch không nên làm như thế. Mười hai tích-quái Trung-phu, Di v.v. xuất-xứ từ Thông-quái-nghiệm để nghiệm quái-khí có nghĩa là 64 biệt-quái của Dịch nói về tượng tức thị nói về khí để nói đến số, nói đến lư, như thế không c̣n là dịch-lư nữa. Cho nên Dịch chỉ là trời luân-lưu nơi tượng của nhật-nguyệt, của bắc-đẩu cùng khí của ngày đêm nóng lạnh, cùng là độ-số của trời đất muôn vật. Các quẻ văng lai, Kiền "thiên hành kiện", cốt để thể-nghiệm tiêu-tức doanh-hư mà hiểu nhân-sự mà thôi. Hành-trang của người học Dịch vỏn vẹn chỉ gồm văng-lai-quái, thế-vị bát-quái, 12 quái-hậu tức tích-quái, và các dật-tượng thượng-dẫn (220, Quyển VIII, tr. 319-326).

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 161

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com