www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

3    |    4   |   5 

6   |    7   |   8

    9   |   10  |   11  

  12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 15)

 

IV  MƯỜI BA CON GIÁP

 

 Lịch Can Chi cũng như các Bộ-môn Nho Y  Lư Số viễn-đông khác, đều dùng 10 Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quư) và 12 Chi (Tư, Sửu, Dần, Măo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), ứng vối 12 con thú (Chuột, Trâu, Hổ, Thỏ/Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà/Chim, Chó, Heo), với điểm khác biệt, con Thỏ cố-hữu, Việt-Nam ta đổi thành con Mèo và con Gà cố-hữu, Tây-Tạng đổi ra con Chim (3AX, tr. 53). Đó chính là 12 Con Giáp.


Quy-thư Hán-Tạng

Tổng-thống Tôn Dật Tiên cũng như đại-đa-số các thức-giả Trung-quốc cổ kim (2AF, tr. 259) đều lấy năm Giáp-tí (2697 BC) tức thị năm Hoàng-đế nguyên-niên làm năm gốc cho lịch can-chi. Ông Trương Sùng Tuấn có lập một biểu liệt-kê các triều-đại Đế-vương Trung-quốc từ năm 2697 BC đến năm 2003, gồm năm DL, tuế-thứ can-chi, biệt-quái Hoàng-cực Kinh-thế tương-ứng, Đế-hiệu, niên-hiệu và kư-sự (2Q, tr. 273-390). Nguồn gốc t́m bằng luận-thức và liệt-kê chuỗi biệt-quái này sẽ được đề-cập kỹ-càng nơi CHƯƠNG 13:  HOÀNG-CỰC KINH THẾ

Mỗi chu-kỳ 60 năm can-chi được gọi là hoa-giáp 花甲. Theo truyền-thuyết Hoàng-đế trị v́ đúng 100 năm. Lấy 60 năm đầu của triều-đại Hoàng-đế làm hoa-giáp gốc. Gọi q 0 là số thứ tự của hoa-giáp đương-quan, r là số thứ-tự của năm can-chi trong mỗi hoa-giáp và D là năm dương lịch tương-ứng (D < 0 cho các năm BC, D > 0 cho các năm AD và D = 0 vô-nghĩa). Ta sẽ có hai cặp công-thức cho tất cả các năm kể từ năm 2697 BC trở đi:

q - 1 = (2698 + D) div 60 ; r = 2698 + D – [(2698 + D) div 60]   
(Cho các năm BC)

q - 1 = (D + 2697) div 60 ; r = D + 2697 – [(2698 + D) div 60]   
(Cho các năm AD)

Chúng ta có thể tính can κ và chi χ của năm xét như sau: đặt r = ab (2 chữ số), ta có: κ = b và  χ =  r amod12.

Vd1: Năm Đế Nghiêu lên ngôi là năm 2357 BC, q = 1 + (341 div 60) = 1 + 5 = 6 và r = 41    κ = 1 (giáp) và χ = 41 – 3x12 = 5 (th́n)  năm giáp-th́n, chu-kỳ thứ 6.

Vd2: Năm nay 2009, q = 1 + (4706 div 60) = 1 + 78 = 79 và r = 4706 – 4680 = 26    κ = 6 (kỷ) và χ = 26 – 2x12 = 2 (sửu)   năm kỷ-sửu, chu-kỳ thứ 79.           

Kinh Dịch có câu: 'Nhất âm, nhất dương chi vị Đạo’ 一陰一陽之謂道 ( Hệ-từ Thượng-truyện, Chương V, Tiết 1),  có nghĩa là : 'Một Âm và một Dương gọi là Đạo' tức Dịch-Đạo.  Có âm ắt có dương; có cha ắt có mẹ; có vợ ắt có chồng; có can ắt có chi. Cho nên ta mới có tiếng ghép 'Con Giáp' (con là con thú như con chuột, con trâu, con hổ, c̣n Giáp là Giáp, Ất, Bính, Đinh ...), để biểu đạt chân-lư đó, dù rằng toàn-thể Con Giáp đều là Chi. Chẳng hạn, khi một người nào đó nói là ḿnh tuổi Tư, chỉ cần nom mặt định tuổi, ta cũng biết ngay là tuổi Tư nào trong 6 Tư: Giáp-Tư (1924, 1984), Bính-Tư (1936, 1996), Mậu-Tư (1948, 2008), Canh-Tư (1900, 1960) hay Nhâm-Tư (1912, 1972).

Theo truyền-thuyết, sau khi Đức Phật-Tổ Thành-đạo, Ngài có gọi các muông thú lại dưới gốc Bồ-Đề (Bodhidruma), nhưng chỉ có 12 con thú tới đúng theo thứ-tự từ Chuột đến Heo.  Thập-nhị thú này được đề cập trong Đại-tập-kinh tức Đại-phương đẳng Đại-tập-kinh 大方等大集經 (Mahasamghata Sutra) [3AK, tr. 24-28]. Đó là: Di-xa, Tỳ-lị-sa, Di-luân-na, Yết-ca-trá-ca, Tỳ-a, Ca-nhă, Đâu-la, Tỳ-lị-chi-ca, Đàn-ni-tỳ, Ma-ca-la, Cưu-bàn và Di-na. Ta tự hỏi có thật vậy không? Chỉ cần nhớ rằng Phật-giáo được truyền sang Trung-Hoa sau thời Đổng Trọng-Thư 董仲舒 (179?-104? BC). Lúc đó Phật-giáo hẳn mới chỉ ở giai-đoạn truyền-đạo, chứ chưa đến giai-đoạn truyền luôn cả các  huyền-thoại. Hàng loạt cổ-tịch Trung-quốc viết rải rác từ thời Chiến-quốc (403-222 BC) cho tới đời Tùy (581-618), đă nói đến 36 con thú (Tam-thập-lục-thú 三十六獸 tức Tam-thập-lục cầm 三十六禽). Mà phiền một nỗi, 12 Con Giáp xuất-hiện đầy đủ trong danh-sách Tam-thập-lục-Cầm: một con thú cho mỗi buổi trong ngày (buổi sáng, buổi trưa và buổi tối), vi chi là: 12 x 3 = 22 x 32 = 62 = 36 muông thú. Sau đây là Biểu Nhất-lăm 36 con thú theo sát 'Thức-Kinh 式經' và 'Ngũ-hành Đại-nghiă' : 

Cung

Ban sáng (Qúy)

Ban trưa (Trọng)

Ban chiều (Mạnh)

Chim Én

Con Chuột

Con Phục-dực (con Dơi)

Sửu

Con Trâu

Con Cua

Con Ba ba (Cua đinh)

Dần

Con Cáo

Con Báo

Con Cọp (con Hổ)

Măo

Con Nhím

Con Thỏ

Con Lạc (con Cầy)

Th́n

Con Rồng

Con Thuồng-luồng

Con Cá

Tỵ

Con Lươn

Con Giun

Con Rắn

Ngọ

Con Hươu

Con Mang

Con Ngựa

Mùi

Con Dê

Chim Cắt

Con Ṃng (Con Nhạn)

Thân

Con Mèo

Con Vượn

Con Khỉ

Dậu

Chim Trĩ

Con Gà

Con Quạ

Tuất

Con Chó

Con Lang  (Con Chó Sói)

Con Sài (Chó Sói Lông xù)

Hợi

Con Heo (con Lợn)

Con Vượn Mẹ

Con Heo Con

Lư-thú nhất, là biểu đă dược b́nh-luận rạch ṛi trong sách 'Ngũ-hành Đại-nghĩa' (2AO, tr. 362-376) của Khai-quốc-công Tiêu-Cát, bào-huynh của Lương-Vũ-Đế Nhà Tùy, một ông Vua rất mộ Đạo Phật, nhưng đă từng mưu-sát hụt Bồ-đề Đạt-ma (Bhodi Dharma) bằng thuốc độc ngay tại Chùa Thiếu-lâm,  chỉ v́ Ngài đă cắt nghĩa phương-thức duy-nhất để thành Thánh  là KHUẾCH-NHIÊN  NHI THÁNH 廓然而聖 (Thành Thánh một cách trống rỗng), tương-tự như triết-thuyết 'Vô-tư, Vô-vi' (không nghĩ bậy, không làm càn) của Đạo Khổng hay vô-vi (không hành-động mà chỉ nương theo tự-nhiên) của Đạo Lăo. Vô h́nh trung, sách này tiềm-tàng phần nào thuyết 'Ngũ-hành H́nh-thượng-học' của Khổng-giáo (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh仁義禮智聖, thay v́ Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín 仁義禮智 thông-thường), thất-truyền từ 24 thế-kỷ nay và chỉ mới được xuất-thổ năm 1973 cho bản Bạch-thư Ngũ-Hành (3AN), tại Trường-sa (Mă Vương Đôi Hán-mộ) và năm 1993 cho bản Sở-giản tại Kinh-môn Quách-điếm, cả hai bao gồm cả Kinh, Thuyết lẫn Truyện. Tác-giả của bộ sách bất-hủ này không ai khác hơn là Thầy Tử-Tư, cháu đích-tôn Đức Khổng-phu-tử  và Thế-tử là một nhân-vật đời Chiến-quốc mà cho đến hôm nay cũng chưa ai biết được danh-tính và lai-lịch. 

Tất cả các Bộ 12 Con Giáp của Đông-Á kể cả Mông-cổ, Măn-châu, Tây-tạng, Hàn-quốc lẫn Nhật-bản, duy chỉ có hệ-thống Việt-Nam là hoàn-chỉnh nhất về cả ba phương-diện Âm-Dương, Ngũ-hành và khoa-học, tuy rằng mang tiếng hoàn-toàn mượn của Tầu. Cần nhắc lại, số lẻ là dương, số chẵn là âm, cho nên, vạch lẻ >(liền)   là dương, vạch đứt ?(chẵn) là âm; ban ngày (từ giờ Măo đến giờ Thân) là dương, ứng với mầu nhạt; ban đêm (từ giờ Dậu đến giờ Dần) là âm và ứng với mầu xẫm; hai mùa đầu năm (Xuân, Hạ) là dương, hai muà cuối năm (Thu, Đông) là âm. Do đó các chi ở vị-trí lẻ (Tư, Dần, Th́n, Ngọ, Thân, Tuất) là chi dương, c̣n các chi ở vị-trí chẵn (Sửu, Măo Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi)  là chi âm.

Trước nhất, chúng ta nên để ư là 12 Con Giáp, phân nửa là gia-súc (dương), phân nửa là dă-thú (Âm). Riêng Việt-Nam ta có 4000 năm Văn-hiến theo chế-độ phụ-hệ, nên dương mới thịnh hơn âm một chút và có đến 7 gia-súc, thay v́ 6. Thật vậy, con Thỏ (thú rừng) của Tầu đă biến thành con Mèo (gia-súc) khi 12 Con Giáp du-nhập Việt-Nam.

Sau nữa, những Con Giáp dương (Chuột, Hổ, Rồng, Ngựa, Khỉ, Chó) đều có số móng chân lẻ là một số dương (1, 3 hay 5); c̣n những Con Giáp âm (Trâu, Mèo, Rắn, Dê, Gà, Heo)  đều có số móng chân chẵn là một số  âm (0, 2, hay 4). Về mặt thuần-toán,  con số không (0) hiển-nhiên là một số chẵn v́ con số 1 tiếp liền sau nó là một số lẻ. Con Rắn không chân nghĩa là có 0 móng nên tiếng Ta mới có thành-ngữ 'Vẽ rắn thêm chân'.  Lại thêm, con Rắn thường có lưỡi chẻ hai. Trong mỗi cặp âm-dương, hai con thú  đều có đặc-tính tương-tự:  Chuột/Trâu đều sắc đen và cùng thích lội hoặc dầm nước; Hổ/Mèo đều có vằn và đều biết cào; Rồng/Rắn đều thuộc thủy-tộc và có thân ḿnh uốn khúc; Ngựa/Dê đều có móng lớn, đều là gia-súc, đều biết cười và có tiếng kêu khá đặc-biệt; Khỉ/Gà đều khác các chim muông kia ở chỗ là chỉ có hai chân; Chó/Heo thượng-hảo-hạng đều sắc đen mun (Chó th́ Nhất mực, nh́ vàng, tam khoang, tứ đốm, c̣n Nem Huế thời tiền-chiến phải làm bằng thịt heo đen sữa, nuôi bằng rong ṃ từ đáy sông Hương!) và đều là gia-súc . Riêng con Chuột, dẫn đầu 12 Con Giáp, có một đặc-điểm khác thường: chân truớc 4 móng, c̣n chân sau 3 móng. Sao lại lạ vậy? Số là mỗi giờ Can Chi là 2 tiếng đồng-hồ: từ 11 đến 12 giờ đêm được gọi là Dạ-tư, thuộc về đêm hôm trước, c̣n 12 giờ khuya đến 1 giờ đêm thuộc về sáng hôm sau. Cho nên trời sinh ra con chuột chân truớc có 4 móng (số chẵn nghĩa là âm),  c̣n chân sau 3 móng! (Dạ-Tư thuộc đêm hôm trước nên là âm và mang số chẵn; Chính-Tư thuộc sáng hôm sau, thuộc dương nên mang số lẻ).  Không tin, quư-độc-giả thử bẫy chuột hay vào pḥng thí-nghiệm nào có chuột bạch, giở chân trước, chân sau con chuột ra xem th́ biết liền. Kỳ t́nh, chân trước chuột cần nhiều móng để cầm hay nhón đồ ăn. Khảo-cứu Sinh-học Di-truyền mới đây cho biết rằng, 75 triệu năm trước đây, Kho Cơ-nhân (genes) Nhiễm-sắc-thể (chromosomes) của loài người (Genome) tương-tự như Kho Cơ-nhân Nhiễm-sắc-thể của loài chuột. Trước đây, ta chỉ mới biết là loài người tiến-hoá từ loài khỉ (Cung Thân), bây giờ ta mới biết chuyện cung Tư là  Cung mà tiền nhân nói đến trong câu: 'Thiên khai ư Tư 天開於子' (Trời mở tại Hội Tư).  

Sau đây là Biểu Nhất-lăm vài tín-kiện căn-bản liên-quan đến 12 Con Giáp: 

Cung

Ṿng

Hoàng đạo

Con

 Giáp

Tháng

 Ta

Tên

 Phạn

Ngũ-

Hành

Mộc-tinh-thứ

(Jupiterstations)

Bảo-B́nh
寶瓶

Aquarius

Chuột

Một

Di-xa

Thủy

Huyền-hiêu玄枵

 

Sửu

Ma-yết

Capricorn

Trâu

Chạp

Tỳ- lị
sa 
        

Thổ

Tinh-kỷ
星紀

Dần

Nhân-mă
人馬
Sagittarius

Hổ/        Cọp

Giêng

Di-luân
na           

Mộc

Tích-mộc
析木

Măo

Thiên-hiết

Scorpio

Mèo

Hai

Yết-ca-
trá-ca

Mộc

Đại-hoả
大火
 

Th́n

Thiên-xứng
天秤

Libra

Rồng

Ba

Tỳ-a

Thổ

Thọ-tinh
壽星

Tỵ

Song-Nữ
雙女

Virgo

Rắn

Ca-nhă

Hoả

Thuần-vỹ
鶉尾

Ngọ

Sư-tử
獅子

Leo

Ngựa

Năm

Đâu-la 

Hoả

Thuần-hoả
鶉火

Mùi

Cự-giải
巨蟹

Cancer

  Dê

Sáu

Tỳ-lị-

  chi ca  

Thổ

Thuần-thủ
鶉首

Thân

Vân-dương
雲陽

Gemini

Khỉ

Bảy

Đàn-ni-tỳ   

Kim

Thực-trầm
實沈

Dậu

Kim-ngưu
金牛
Taurus

Tám

Ma-

ca-la

Kim

Đại-lương
大梁

Tuất

BạchDương
白羊

Aries

Chó

Chín

Cưu-bàn

Thổ

Giáng-lâu
降婁

Hợi

Song-ngư
雙魚

Pisces

Heo

Mười

Di-na

Thủy

Tưu-tí

 Cột 7 ghi mộc-tinh-thứ tức là cung nhật-nguyệt hội với mộc-tinh mỗi tháng: nói khác đi, khi tụ-hội ba thiên-thể này có cùng hoàng-kinh (celestial longitudes) hay, nếu độc-giả ưng, lúc đó chúng có cùng xích-kinh (right ascension) đă nói bên trên. Chữ Nho ghi trong cột 2 là lấy từ tr. 25 sách Nôm Tử-vi Đẩu-số của Tạ Tiên-sinh, đời Vua Tự-Đức. 

Nhân tiện nói chuyện Nhà Phật xin ghi vào đây công-thức của Cụ Hăn đặt ra để đổi Công-lịch C ra Phật-lịch P (2AG, tr. 108):        

P = C + 544      (cho các năm AD)

          P = C + 545      (cho các năm BC ở sau kỷ-nguyên Phật-lịch)

          P = C – 544      (cho các năm BC ở trước kỷ-nguyên Phật-lịch) 

Khi xem số, dù là Tử-Vi (3AY, 3AZ), Tử-B́nh (3AR, 3AS), Tinh-b́nh Hội-hải (3AQ), Quả-lăo Tiên-tông (3AP), Thiết-bản Thần-số (3AT, 3AU) hay Hà-Lạc Lư-số (3AV) v.v. ta thường hỏi giờ sinh, tháng đẻ của đương-số, v́ hai yếu-tố này thay đổi nhanh hơn hai yếu-tố Năm và Ngày. Nên khi xét đặc-tính 12 Con Giáp, ta nên chú-trọng đến giờ là yếu-tố thời-gian thay đổi nhanh nhất trong 4 yếu-tố Năm, Tháng, Ngày, Giờ.  Xin nhắc lại là theo đúng định-nghĩa Mùng Một Tết là ngày trăng mới, dù là Thiểu hay Nục, gần sơ-khí Lập-xuân nhất.

Điều này rất quan-trọng khi xem số Tử-vi Khí-tiết (sinh trong thời-khoảng giáp Giao-Thừa) . Một người sinh giờ Dạ-tư ngay trước Giao-thừa, phải kể là ngày niên-tận năm trước (30 tháng Chạp nếu là tháng đủ, hoặc 29 tháng Chạp nếu là tháng thiếu); c̣n sinh giờ Chính-Tư ngay sau Giao-thừa phải kể là giờ Tư Mùng Một Tết năm sau. 

Nhân tiện nói chuyện lịch-pháp và lư-số, tôi xin giải đáp một thắc-mắc chung cho Người Việt ḿnh hiện nay đă sinh và sống trên toàn-cầu kể cả Nam-bán-cầu, tại các nước như Tân-Tây-Lan (New Zealand) hay Úc-châu (Australia), có bốn muà trái ngược với Bắc-bán-cầu. Để thích-ứng và thích-dụng với thời-đại, tôi đặt ra khoa "Tử-vi Lịch-số Toàn-sinh 紫微歷數全生", dùng Âm-Lịch phổ-quát bên dưới, phối-hợp sở trường của cả hai khoa Tử-vi và Tử-B́nh. Ta vẫn lấy lá số như thường-lệ, nhưng khi xem hạn (Đại-hạn, Tiểu-hạn, Lưu-niên Tiểu-hạn, Nguyệt-hạn, Nhật-hạn và Thời-hạn), mỗi cung của Địa-bàn hay Tuế-bàn lại mang tên của cung xuyên-tâm-đối cho thích-hợp với mùa của nam-bán-cầu

Lịch Tàu Đời Nhà Thanh (Lịch Th́-Hiến) cũng như lịch đời nay tại Đài-Loan, Hương-Cảng, Đại-Hàn và Trung-Hoa Lục-điạ (Múi giờ 8) và Lịch Ta suốt thời Chính-phủ Quốc-gia Việt-Nam của Quốc-trưởng Bảo-Đại hoặc thời Việt-Nam Cộng-hoà tại Miền Nam từ 1955 trở đi cho đến năm 1975, cũng như tại Miền Bắc cho đến ngày 8.8.1967 (Đinh-mùi) (Múi giờ 7), đều dùng Lịch tương-tự như Lịch Th́-Hiến/Hiệp-kỷ và đều lấy Kinh Đông 1050 hoặc 1200 làm chuẩn v́, đối với người Tầu, kinh-độ 1200 này gần Lạc-Dương (Lo Yang) nhất, mà ta biết thị-trấn này hay được các  Vua Tàu chọn làm Kinh-đô: Đông-Chu (Lạc-Ấp), Lưỡng Hán, Tào Ngụy, Tân (Vương Măng), Nguyên Ngụy, Tùy, Đường, Lương, Hậu Đường và Tống. Như ta đă biết, các Lịch-pháp này đều dựa vào ba quy-tắc căn-bản :

Quy-tắc 1 :  Mùng một Tết nhằm ngày Trăng mới (New Moon) thứ hai sau trung-khí (major solar term) Đông-chí (khoảng ngày 22-12 dương-lịch). Điều này sai mỗi khi nhuận Tháng Một hay Tháng Chạp và sẽ sai lần đầu tiên năm 2033 (Quư-Sửu), sau cuộc cải-biến Lịch Thụ-th́/Đại-thống thành Lịch Th́-Hiến năm Long-Vũ nguyên-niên (Ất-Dậu, 1645). 

Quy-tắc 2 :  Mùng một Tết nhằm ngày Trăng Mới  gần sơ-khí (minor solar term) Lập-xuân nhất (khoảng mùng 4 tháng 2 dương-lịch). Quy-tắc này đă sai năm 1985 (Ất-Sửu) và sẽ sai năm 2015 (Ất-Mùi).  

Quy-tắc 3 :  Mùng một Tết nhằm ngày Trăng mới (New Moon) đầu tiên  sau trung-khí Đại-Hàn (khoảng 20 tháng Giêng dương-lịch). Quy-tắc này đă sai năm 1985 (Ất-Sửu) và sẽ sai năm 2053 (Quư-Dậu). 

Hiện nay, tất cả các nhà làm Âm-Dương Hợp-lịch trên toàn-cầu, kể cả Trung-hoa Đại-lục, Đài-loan, Đại-Hàn, Hongkong, Ma-cao, Nam-dương, Mă-lai, Tân-gia-ba, Lào, Brunei, Việt-Nam Hải-ngoại và Mauritius đều nghiêm-chỉnh tuân theo bốn quy-tắc sau đây:

Quy-tắc 1 :  Phép tính lịch lấy Kinh Đông 1200 làm chuẩn ; 

Quy-tắc 2 : Ngày Trăng Non (Nục hay Thiểu) được chọn làm ngày đầu tháng; 

Quy-tắc 3 :  Tiết Đông-chí (Winster Solstice)  luôn luôn ở vào tháng Một (11) tức tháng Tư. Một Tuế tức năm Tiết-khí (Tropic year) sẽ nhuận mỗi khi có trọn 12 tháng giữa hai tháng Một (11) liên-tiếp, ở đầu và cuối Tuế; nói khác đi, thời-đoạn này phải chứa đúng 13 ngày sóc ; 

Quy-tắc 4 :  Trong một Tuế nhuận, tháng nhuận sẽ là tháng chỉ có một tiết-khí, thông thường là sơ-tiết, nhưng đôi khi lại chỉ có Trung-khí. Vd : năm Bính-thân (1956) có trung-khí Đại-thử vào tháng 6 nhuận; năm Đinh-mùi (1967) có trung-khí Hạ chí vào tháng 5 nhuận ;Tháng nhuận này mang tên của tháng trước.  Chẳng hạn như năm nay, Kỷ-sửu (2009) sẽ nhuận bởi v́ trong Tuế sở-quan (corresponding Sú), giữa hai Đông-chí đầu  (21-12-2008) và cuối Tuế (22-12-2009) có trọn 12 tháng. Tháng Năm Nhuận tại v́ chỉ có sơ-khí Tiểu-thử (bắt đầu từ giờ Th́n ngày rằm tức 8 giờ 24 phút múi giờ 8, ngày 07-07-2009). 

Luận-Giả Án về Tiết-khí duy-nhất tháng Nhuần:  

Nhật-kinh 日經 s là kinh-độ mặt trời trên thiên-cầu. Ngày phân-chí (xuân-phân, thu-phân, hạ-chí, đông-chí), trị-số nhật-kinh là một bội-số của 900 như trong bảng:
 


Tên


Tên Anh-ngữ

Nhật-

Kinh

Ngày DL

phỏng chừng

Số ngày

Trong mùa

Xuân-phân

Spring Equinox

     00

20.03

72.76 ngày

Hạ-chí

Summer Solstice

   900

21.06

93.65 ngày

Thu-phân

Fall Equinox

 1800

22-23.09

89.84 ngày

Đông-chí

Winter Solstice

 2700

21-22.12

88.99 ngày


Tháng tiết-khí
節氣gồm nửa trước, sơ-tiết 初節 (minor solar term), và nửa sau, trung-khí 中氣 (major solar term). Vậy một năm có 2x12 = 24 tiết-khí như bảng sau: 
 

Tháng

Tiết-khí


Tiết-khí

Hán

ngữ


Tên Anh-ngữ

Nhật

kinh

Ngày DL

phỏng chừng

Giêng

Lập-xuân

立春

Spring begins

3150

04.02

 

Vũ-thuỷ

雨水

Rain Water

3300

19.02

Hai

Kinh-trập

驚蟄

Excited Insects

3450

06.03

 

Xuân-phân

春分

Vernal Equinox

   00

21.03

Ba

Thanh-minh

清明

Pure Brightness

 150

05.04

 

Cốc-vũ

穀雨

Grain Rain

 300

20.04

Lập-hạ

立夏

Summer Begins

 450

06.05

 

Tiểu-măn

小滿

Grain Fills

 600

21.05

Năm

Mang-chủng

芒種

Grain in Ear

 750

06.06

 

Hạ-chí

夏至

Summer Solstice

  900

21.06

Sáu

Tiểu-thử

小暑

Slight Heat

1050

07.07

 

Đại-thử

大暑

Great Heat

1200

23.07

Bẩy

Lập-thu

立秋

Autumn Begins

1350

08.08

 

Xử-thử

處暑

Heat Retreats

1500

23.08

Tám

Bạch-lộ

白露

White Dew

1650

08.09

 

Thu-phân

秋分

Autumnal Equinox

1800

23.09

Chín

Hàn-lộ

寒露

Cold Dew

1950

08.10

 

Sương-giáng

霜降

Frost Descends

2100

24.10

Mười

Lập-đông

立冬

Winter Begins

2250

08.11

 

Tiểu-tuyết

小雪

Little Snow

2400

22.11

Một

Đại-tuyết

大雪

Heavy Snow

2550

07.12

 

Đông-chí

冬至

Winter Solstice

2700

22.12

Chạp

Tiểu-hàn

小寒

Little Cold

2950

06.01

 

Đại-hàn

大寒

Severe Cold

3000

20.01


V́ tính phỏng chừng với giả-thiết là trái đất chuyện-động đều trên Hoàng-đạo (b́nh-nhật), nên ngảy cho trong cột 6 có thể chệch một ngày. Trên thực-tế, v́ vectơ gia-tốc của trái đất hướng-tiêu (hướng về tiêu-điểm chuyển-động là mặt trời), nên vận-tốc diện tích (areolar speed) mới đều theo đúng định-luật Kepler thứ nh́. Ngày chệch này thường được điều-chỉnh tự-nhiên bằng ngày nhuận năm DL.

Tương-tự vectơ gia-tốc của mặt trăng cũng hướng-tiêu về phía trọng-tâm trái đất nên vận-tốc diện-tích của mặt trăng mới đều. Giao-tuyến của măt phẳng hoàng-đạo với mặt phẳng bạch-đạo được gọi là đường nút. Giao-điểm đường này với bạch-đạo được gọi là nút lên L (ascending node), tại đó vỹ-độ mặt trăng chuyển từ âm sang dương, và nút xuống K (descending node), tại đó vỹ-độ mặt trăng chuyển từ dương về âm. Ngoài ra, điểm bạch-đạo gần trái đất nhất mang tên điểm cận-địa (perigee). Nếu ta đọc kỹ sách thiên-văn Ấn-độ Indian Atronomy (2AQ, tr. 151-2), Quả-Lăo Tinh Tông (2AR, Tập Hạ, Q8, tr. 43-60) của Trương Quả Lăo, một trong Bát Tiên, và sách Tinh B́nh Hội Hải Toàn-thư (2AS, Quyển Thủ, tr.19) của Hà Dương Thủy Trung Long, ta sẽ thấy nút lên chính là La-hầu 羅侯 (Phạn ngữ: Rahu = Dragon’s head) và nút xuống chính là Kế-đô 計都(Phạn ngữ: Ketu = Dragon’s tail). Mặt trăng chuyển-động theo chiều lượng-giác với chu-kỳ cân-địa-giác bằng 27.212220817 ngày, nghĩa là sẽ trở lại cùng một nút lên hoặc nút xuống sau chu-kỳ này.

Trong bảng 24 tiết-khí, ta có thể tính ngày khởi đầu sơ-tiết S và trung-khí T bằng cách dùng trị-số nhật-kinh s trong các công-thức sau:

S = [3 + ((s -15) div 300)]   amod 12   (1)   và   T = [2 + (s div 300)]   amod 12  (2)

Tiết-khí duy-nhất tháng ta nhuận luôn luôn là một ngày rằm hay chệch một ngày (14 hoặc 16). 

Hệ-luận Tử-vi: Người nào sinh tháng nhuận nhưng ở trước khoảng tiết-khí duy nhất được coi là sinh tháng trước cùng tên với tháng nhuận; ngược lại, nếu sinh bên trong khoảng này, th́ lại được coi như sinh tháng sau.

Xem số cho người sinh năm nhuận thú-vị ở chỗ dùng phép nhị-hợp ta biết được người nào ra trước, người nào ra sau, rồi nh́n cung Huynh-đệ ta lại biết thêm là đương-số có em trai hay em gái không. 

Ta có: chương-tuế = 19 năm tiết-khí = 19 x 365.2421875 = 6939.601563 ngày và chương-nguyệt @  235 tháng, sóc-thực = 235 x 29.530588853 = 6939.68838 ngày. Do đó  cứ mỗi chương-tuế, hai chu-kỳ này lai sai nhau 0.086817 ngày, sau mỗi bộ bốn chương-tuế chúng sai nhau 4 x 0.086817 = 0.347268 và sau mỗi thế-kỷ chúng sai nhau 0.3617375 ngày. Trung b́nh

mỗi bộ 4 chương-tuế, hai ngày cùng tên (Vd Mùng 8 tháng 2) trong hai chương-tuế đầu sẽ có ngày can-chi lệch nhau 40 vị; trong hai chương-tuế 2 và 3, chúng sẽ lệch nhau 19 vị; trong hai chương-tuế 3 và 4, chúng sẽ lệch nhau 59 vị; trong hai chương-tuế 4 và chương-tuế 1 bộ kế, chúng sẽ lệch nhau 39 vị v.v. Nói khác đi trong mỗi cặp chương-tuế liên-tiếp, chuỗi sóc vọng, tháng đủ, tháng đủ, tháng thiếu, tháng nhuận  được lập lại một cách trung-thực.

Ta hăy lập bảng năm nhuận cho thế-kỷ 20:

Can-chi

Tết DL

Th.

Nh.

Ng.

Nh.

Tiết-khi

Th. Nh.

Can-chi

Tết DL

Th.

Nh.

Ng.

Nh.

Tiết-khi

Th. Nh.

1900  1B

8

16

Hàn-lộ

1966  79

3

16

Lập-hạ

1903  62

5

14

Tiểu-thử

1968  77

7

15

Bạch-lộ

1906  26

4

15

Mang-chủng

1971  3B

5

16

Tiểu-thử

1909  8A

2

15

Thanh-minh

1974  93

4

16

Mang-chủng

1911  88

6

15

Lập-thu

1976  91

8

15

Hàn-lộ

1914  4C

5

16

Tiểu-thử

1979  55

6

16

Lập-thu

1917  A4

2

14

Thanh-minh

1982  19

4

15

Mang-chủng

1919  A2

7

16

Bạch-lộ

1985  71

1

14

Kinh-trập

1922  66

5

14

Tiểu-thử

1987  7B

6

14

Lập-thu

1925  2A

4

16

Mang-chủng

1990  33

5

15

Tiểu-thử

1928  71

2

15

Thanh-minh

1993  97

3

14

Lập-hạ

1930  8C

6

14

Lập-thu

1995  95

8

15

Hàn-lộ

1933  44

5

15

Tiểu-thử

1998  59

5

14

Tiểu-thử

1936  97

3

16

Lập-hạ

2001  11

4

14

Mang-chủng

1938  A6

7

15

Bạch-lộ

2004  64

2

15

Thanh-minh

1941  6A

6

16

Lập-thu

2006  73

7

16

Bạch-lộ

1944  11

4

16

Mang-chủng

2009  37

5

15

Tiểu-thử

1947  75

2

14

Thanh-minh

2012  8A

4

16

Mang-chủng

1949  84

7

16

Bạch-lộ

2014  99

9

15

Lập-đông

1952  37

5

16

Tiểu-thử

2017  51

6

16

Lập-thu

1955  9B

3

15

Lập-hạ

2020  A4

4

14

Mang-chủng

1957  AA

8

15

Hàn-lộ

2025  77

6

14

Lập-thu

1960  51

6

15

Lập-thu

2028  2A

5

14

Tiểu-thử

1963  15

4

15

Mang-chủng

2031  82

3

15

Lập-hạ

 
Trong cột 1, số đầu cho năm DL và số thứ nh́ cho ngày can chi của Tết DL.

 

 

 

    Xem tiếp Kỳ 17

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com