www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 21

 

DỊCH-THƯ TRƯỚC-LUẬN

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 157) 

 

Chu Dịch Truyền-tập-lục

9) Chu Dịch Truyền-tập-lục , Tuệ-phong Học-hội xb, Tân-văn-phong ảnh-ấn, nhi-bản nhị loát, Đài-bắc, tháng 4-1996.  

Tựa sách lấy chữ từ Luận-ngữ. Thầy Tăng-tử nói: "Truyền bất tập hồ? 習乎?"  (Thầy dạy mà ta chẳng học-tập chăng?) (Luận-ngữ, Học Nhi, 4).

Đây là bộ sách thứ 16 trong 22 bộ cuả Hán-văn Đại-hệ xuất-bản vào cuối đời Minh-trị Thiên-hoàng (Meiji). Sách này được chia thành 2 phần rơ-rệt: 

a) Phần I: Kinh-truyện (Shuekikyo yoku tsukai Chu-Dịch Kinh-dực Thông-giải)

Phần này do Ito Togai (Y Đằng Đông Nhai ) (1670-1736) chú--sớ và cháu nội ông Ito Zensho (Y Đằng Thiện Thiệu ) đề tựa.

Sách được bác-sĩ văn-học Tinh Dă Hằng dẫn-nhập bằng 2 bài:

I / Chu Dịch Phàm-lệ trong đó đáng chú ư nhất là thí-dụ về Hào Văng Lai, (Thăng Giáng): a) Hào Cửu-tứ quẻ Dự  P giáng xuống Hào Cửu-tam quẻ Khiêm  O;

b) Hào Sơ-cửu quẻ Tuỳ Q văng Hào Thượng-cửu quẻ Cổ R. Đồng thời 2 thí-dụ này cũng minh-hoạ tính phản-giao-hoán của phép di-hào trong quát xuyến dẹt.

          II/ Chu Dịch Giải-đề gồm 5 đề-mục: a) Tác-giả Chu Dịch; b) Danh-nghĩa Chu Dịch; c) Công-dụng của chiêm-phệ; d) Khổng-tử học Dịch; e) Truyền-thụ và chú-thích Chu Dịch. 

Chu-Dịch Kinh-dực Thông-giải tổng-hợp ba sách Chu Dịch Chiết-trung của nhóm Lư Quang Điạ, Dịch-lan Ngoại-thư của Tá-Đằng Nhất-Trai 一齋 (1772-1859) và Chu Dịch Chú của Vương-Bật. V́ sách chuộng Nho-giáo nên loại bỏ những chú thích của Họ Vương thiên về Lăo Trang và hay dùng Dịch-truyện của Tŕnh-tử và Chu Dịch Bản-nghĩa của Chu-tử. Trong toàn sách (18 Q.), sau mỗi lời Kinh, Truyện, đều có lời chú của Vương Bật và bên trên mỗi trang, thông-giải của tác-giả. 

b) Phần II: Truyền-tập-lục

Phần này do Tam-Luân Chấp-Trai    tiêu-chú.

Trong bài Giải-đề, An-tỉnh Tiểu-Thái-Lang có cắt nghĩa là đầu đời Minh sách Tứ-thư Ngũ-kinh Đại-toàn là cái học của Tống-nho “Liêm Lạc Thi Chúc Quan Mân”, hữu thể vô dụng. Kế đến ông tŕnh bầy tân-kiến của Dương-Minh Vương-tử đối chọi với cựu-thuyết của Chu-tử.

 Đầu sách Truyền-tập-lục có bài Tựa của Từ Ái là một đệ-tử của Vương-tử. Sách gồm 3 quyển Thượng, Trung, Hạ. Phần Phụ-lục gồm có: Bài Tựa Đại-học Cổ-bản, Đại Học Vấn , Dặn Từ Viết Nhân đi thi, Bốn điều dụ-tục, Khách-toạ tư chúc và Vương Văn Thành Công Niên-phổ Tiết-lược . Cuối sách là bài Bạt của B́nh-an thư-sinh Tam-Luân Hi-Hiền .

Cước-chú:  Quư vị nào rành Hán-văn mà chưa biết Kanbun (Hán-văn) xin tra chữ này trong Google hoặc xem Phụ-Lục bên dưới để làm quen với hơn 16 dấu đặc-biệt kèm quanh chữ Hán của Nhật-văn.


Dịch
Tượng Sao 易像

10) Dịch Tượng Sao 易像 (18 Q.), Sơ-bản, Minh ● Hồ Cư-Nhân 居仁 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập IX, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.  

          Hồ Cư Nhân, tự Thúc-tâm, người đất Dư-can, suốt đời bố-y, sau được truy thụy Văn-Kính. Tiểu-truyện được chép đầy đủ trong Minh-sử, Nho-lâm Truyện. Sách bắt đầu bằng Tự-tự cuả tác-giả, xưng là đọc Dịch 20 năm, chép thành tập. Trước hết, lấy đồ-thuyết cuả Tiên-nho b́nh-luận rồi chép làm ba quyển, sau đó góp nhặt các bài luận Dịch với các người khác và tự-kư sở học, tóm tắt bằng ca-từ. Ông tuy học với Ngô Dữ Bật, nhưng sở học đốc-thực vượt xa thầy ḿnh. Cho nên tại Triều Minh, được xưng tụng là Nhà Nho thuần-cẩn, ngang hàng với Tào-Đoan, Tiết-Tuyên. Sách cuả ông được liệt vào hàng Đạo-học Chính-tông. Dịch-thuyết cuả ông giản-minh, xác-thiết, không xa vời diệu vợi. Năm Ất-dậu (1597), triều Vạn-lịch, ngự-sử Lư-Di cho ông được tùng-tự tại Khổng-miếu. Đ́nh sớ xưng Cư-Nhân có viết ra Dịch-truyện, Xuân Thu Truyện, nay đă thất-tán. Trong Kinh-nghiă Khảo, Chu Di-Tôn có ghi Cư-Nhân Dịch-Thông Giải Chú, nhưng chưa thấy mặt sách nên không chép vào. Nghi là Dịch Tượng Sao không phải là thủ-trước cuả Cư-nhân, mà là cuả người đời sau chép nên. Sách Dịch Tượng Sao này c̣n có tên là Dịch Thông-giải, nên rất có thể là sách này chăng? Sau đây là Phần đầu Nguyên-tự cuả Dịch Tượng Sao :

          Ta từ khi sang chơi Ngô Sính Quân mới biết rằng tụng từ-chương không đủ để học đạo tự-nhiệm. Bỏ ư-định làm quan nên rảnh rang đọc Dịch. Hai mươi năm được sở-đắc, vừa đọc, vừa sao chép, sợ mất mát nên tự tay đóng thành sách, đặt tên là Dịch Tượng Sao. Tiên-nho có câu : sách Dịch 'cùng thần tri hoá', không phải là chí-tinh cuả thiên-hạ th́ làm  sao được đến như thế ? Người đời giải Dịch thường nhầm lẫn, bởi chưng không chiụ châm biếm sơ-thất cuả Vương-Bật. 

          Tiếp theo đây là những đoạn đầy ư-nghiă nhất: 

          Thái-Cực :

          Khổng-tử nói : Dịch hữu Thái-cực. Chu Liêm-Khê nói : Vô-cực nhi Thái-cực. Thiệu-tử nói: Đạo là Thái-cực. Lại nói : Tâm là Thái-cực. Cũng nói: Năng tạo vạn-vật là thiên-điạ, là Thái-cực. Chu-tử nói: Thái-cực là tượng-số khi chưa có h́nh-thể mà thửa lư đă đầy đủ. H́nh-khí đă đầy đủ mà thửa lư như con  mắt không con ngươi. Sái Tây-sơn nói: Cái mà Thiệu-tử bảo là 'nhất động, nhất tĩnh chi gian' là phi-động, phi-tĩnh mà chủ nơi động-tĩnh, ấy là Thái-cực. 

          Thiên-đạo dựng nên, điạ-đạo dựng nên, nhân-đạo dựng nên, không chỉ riêng nhân-vật. Vật cũng có Thái-cực-đồ đó. Nên nói: mọi vật đều có Thái-cực. Chỉ có con người là trực-sinh (sinh thẳng đứng). Động-vật ắt hoành-sinh (sinh ngang), thực-vật bèn đảo-sinh (sinh ngược). Trực-sinh là chính. Hoành-sinh, đảo-sinh là thiên lệch. Chính là lư thông, thiên là lư tắc. Khác nhau ở chỗ linh-động, xuẩn-động. Người quân-tử sửa trị th́ cát, không đánh mất ngay thẳng. Nên nói: con người sinh ra thẳng đứng. Kẻ tiểu-nhân loạn-nghịch th́ hung, nên sinh ra hoặc ngang hoặc ngược. Nên nói: sinh ra bậy bạ chỉ nhờ may mắn mà được miễn.  

          Đại-Minh, Đại-Thủ :

          Điạ-trạch trí Lâm, lôi-trạch Quy-muội là đại-nghiă cuả trời đất. Trời đất không giao, muôn vật chẳng dấy lên, Quy-muội là chung thủy cuả con người. Điạ-thủy nhiệm-soái. Điạ-sơn lợi xâm-phạt. Điạ-lôi đôn-phục. Điạ-phong thăng giai. Duy điạ-hoả là Minh-di, bèn biết vua ghét bầy tôi trung-thực, ganh tị người chính-trực. Chưa từng có người diệt Trụ, ngăn không cho tiếp tục làm điều gian-ác mà cam tâm để kẻ ác phi-liêm cùng là chu diệt hào tam của Minh-di. Tuần thú phương nam, lại mừng được đại-thủ. Hào-từ hào thượng quẻ Tỷ : Tỷ chi vô thủ, hung. Tỷ cũng quư có đầu (thủ). Minh-di bảo là thủ với Tấn nói là : đại-minh. Ra khỏi đất bảo là đại-minh, nên minh nhập điạ trung, bảo là đại-thủ, làm rơ nghiă ánh sáng đă bị che tối rồi,

          Tam-thập-lục Cung :

            Bát-quái bất-dịch là 4 (Kiền, Khôn, Khảm, Ly), biến-dịch là 2 (Chấn, Cấn, Tốn, Đoài) : cộng thành 6 quẻ, 6 x 6 = 36. Biệt-quái bất-dịch là 8, biến-dịch là 28, hợp thành 36. Duy chỉ có bất-dịch là có thể đổi; duy chỉ có bất-biến là có thể biến. Sở dĩ nói là: Dịch có Thái-cực, sở dĩ gọi là : vô-cực mà thái-cực, thái-cực gốc nơi vô-cực. Kích-nhưỡng-tập cuả Thiệu-tử có bài thơ:

耳目通明男子身

洪釣賦子不為貧

須探月窟方知物

未躡天根豈識人

乾遇巽時觀月窟

地逄雷處見天根

天根月窟閒來往

三十六宮都是春 

 

Nhĩ mục thông-minh nam-tử thân

Hồng-quân phú dữ bất vi bần

Tu thám nguyệt-quật phương tri vật

Vị niếp thiên-căn khởi thức thân

Kiền ngộ Tốn thời quan nguyệt-quật

Điạ phùng lôi-xứ kiến thiên-căn

Thiên-căn, nguyệt-quật nhàn lai văng

Tam-thập-lục cung đô thị xuân 

 

Bài dịch cuả Cụ Lương Vĩnh Thuật:

Tai thông mắt sáng ấy thân trai

Phú bẩm thiên nhiên chẳng kém ai

Hang nguyệt phải thăm th́ biết vật

Gốc trời không tới há hay người

Khi Kiền ngộ Tốn xem hang nguyệt

Lúc điạ phùng lôi thấy gốc trời

Hang nguyệt gốc trời lui tới măi

Xuân cung băm sáu sắc hương tươi

 

Bài dịch cuả Việt Chi:

Thân tâm nam-tử thông minh

Đội trời đạp đất coi khinh sang giầu

Nên ṃ hang nguyệt cho làu

Gốc  trời chưa nắm làm sao biết người

Kiền, Tốn hang nguyệt bời bời

Điạ lôi gặp gỡ ngất trời thiên-căn

Gốc trời hang nguyệt xoay vần

Muà xuân trường-cửu bốn lần chín cung

 

và một bài dịch khác cuả Việt Chi:

 

Thông tai sáng mắt chí nam-nhi

Tạo hoá sinh ra chẳng nghèo chi

Hang nguyệt nên thăm cho biết vật

Gốc trời chẳng đoái có hay ǵ

Kiền đi với Tốn xem hang nguyệt

Điạ sánh cùng lôi thấy gốc ky

Hang nguyệt gốc trời qua lại măi

Ba mươi sáu quẻ rạng xuân th́

 

Kiền

 A

 

Khôn

B

Truân

C

Mông

Nhu

E

Tụng

G

Tỷ

Tiểu-súc

I

 

Thái

K

Đồng-nhân

M

Đại-hữu

Khiêm

O

Dự

 

Tùy

Q

Cổ

Lâm

S

Quan

Phệ-hạp

 U

Bác

W

Phục

Vô-vơng

Y

Đại-súc

Di

[

 

Đại-quá

\

Khảm

]

Ly

^

Hàm

_

Hằng

 

Độn

a

Đại-tráng

Tấn

c

Minh-di

Gia-nhân

e

Khuê

Kiển

g

Giải

Tổn

i

Ích

Quyết

k

Cấu

Tụy

m

Thăng

Khổn

 o

Tỉnh

Cách

q

Đỉnh

Chấn

s

Cấn

Tiệm

u

Quy-muội

Phong

w

Lữ

Tốn

y

Đoái

Hoán

{

Tiết

Trung-phu

}

Tiểu-quá

~

Kư-tế

%,

Vị-tế

Bảng 21.01 Tam-thập-luc Cung

Nửa trên cuả bảng ứng với Thượng-kinh (Trời); nửa dưói cuả bảng ứng với Hạ-kinh (Đất). Trong 36 quẻ này có 8 quẻ bất-dịch (Kiền, Khôn, Di, Đại-quá, Khảm, Ly, Trung-phu, Tiểu-quá) và 28 quẻ phản-dịch. Bất-dịch là lật qua lật lại quẻ vẫn không đổi, c̣n phản-dịch là lật ngược quẻ này sẽ được quẻ kia trong cặp.
 

Kiền

Khôn

Tỷ

 

Lâm

 

Quan

Truân

 

 Mông

Chấn

 

Cấn

 

 

Tổn

 

Ích

Đại-súc

 

Vô-vơng

Tụy

 

Thăng

Khiêm

 

Dự

Phệ-hạp

 

Đoái

 

Tốn

 

 

Tùy

 

Cổ

Bác

 

Phục

Tấn

 

Minh-di

Thăng

 

Tụy

Hàm

 

Hằng

Hoán

 

Tiết

 

 

Giải

 

Kiển

Khuể

 

Gia-nhân

 

Thái

Đại-tráng

 

Độn

Đại-hữu

(Kiền+Ly)

 

Đồng-nhân

Cách

 

 

Đỉnh

 

 

Tiểu-quá

Trung-phu

Phong

 

Lữ

Ly

 

Khảm

Tiểu-súc

 

Nhu

(Kiền

+Khảm)

Tụng

 

Đại-quá

Cấu

Tiệm

Di

Kư-tế

Quy-muội

Vị-tế

Quyết

Bảng 21.02  64  Biệt-Quái cuả Tạp-Quái-Truyện
 

Dương-Giản

          Dương-Giản, cao-đồ cuả Lục Tượng-sơn, nói : "Tay thăm ḍ, chân đeo đuổi, hằng ngày dùng không dời một giây phút, là tay chân có việc ǵ để làm, bằng không tay chân không có ǵ để làm. Chân để biết người, biết vật, mà được xưng là nam-tử chăng?

          Nhân-tâm là chân-ky cuả Phục-Cấu, thuần-thiện, vô-ác, điạ gặp lôi, thái-cực chớm động mà sinh dương-ky. Một khi đă động th́ là thiên-căn. Kiền gặp Tốn, thái-cực tĩnh mà sinh âm-ky, một khi đă tĩnh, nguyệt-quật thung thăng tới lui, động mà không động, tĩnh mà không tĩnh, điều đó chẳng phải là ngôn-ngữ, tư-lự tự dưng có thể đạt được sao? Thiên-căn, nguyệt-quật, mọi người dùng hằng ngày, tầm thường thân tâm. 

Kinh thế thông-biến Kinh Thượng (30 quẻ), Kinh Hạ (34 quẻ) cuả Kinh Dịch. Xem đó, sấp ngửa mỗi bề 18 quẻ. Nếu mỗi mỗi là một quẻ, ắt đất trời mỗi đằng dùng 30 quẻ, đất hơn 4 quẻ để làm thể vậy. 

Mười quyển sách vô-giá này cuả Trung-Hoa và Nhật-bản, hẳn kiến-hiệu trong công cuộc t́m lại Triết-thuyết "Tam-giáo đồng-tông" lấy Dịch làm căn-bản cuả "Ông Tổ Học-đường Việt-Nam" là Đại-Việt-nho Chu An, tác-giả "Tứ-thư Thuyết-ước" mà số đông trong chúng ta có vinh hạnh theo học trường mang tên Người (Xin xem CHƯƠNG 18 : TOÀN VIỆT DỊCH). 

Dấu tích "Tam-giáo đồng-tông" này đă hằn in trong văn-chương b́nh-dân như ta thấy trong bài ca-dao sau đây trích từ "Việt-Nam Phật-điển Tùng-san" do Bắc-kỳ Phật-giáo Tổng-hội phát-hành: 

Trong nơi danh-giáo có ba,

NHO hay giúp nước, sửa nhà, trị dân.

ĐẠO thời dưỡng-khí an thần,

Thuốc trừ tà bệnh chuyên cần luyện đan.

THÍCH độ nhân miễn tam đồ khổ,

Thoát cửu-huyền thất-tổ chiêu phương.

NHO dùng tam-cương ngũ-thường,

ĐẠO ǵn ngũ-khí giữ giàng ba nguyên.

THÍCH giáo nhân tam quy ngũ-giới,

Thể một đường, xe phải dụng ba.

Luận chung Thánh-tổ NHO-gia,

Trong đời trị-thế người là nhân-sư.

Sao bằng đâu-xuất vị-cư,

Lăo-quân Thiên-chủ đại-trù được phương.

PHẬT là vạn-pháp trưng vương,

Làm thầy ba giới ĐẠO-tràng nhân thiên.

Những Thánh-hiền nguồn nhân bể quả,

Xưa tu-hành trí đă rộng cao.

Trong nơi ba giới ra vào,

Mười phương trí-thức ai nào khả nghi.

Dịch là Gốc cuả Thần. Thần là Dụng cuả Dịch. Nguyên là Nguồn "Các Chính Tính Mệnh" cuả Dịch. Trinh là vị-thế trinh-chính, trinh-cố, trinh-bốc, trinh-cát, trinh-lận cuả Dịch. Dịch, Thần, Trinh, Nguyên, đều cùng một Lư mà khác Thời. Thế mới biết: “ 理。 一。一 理。Tận tín ư lư bất như vô lư. Lư trung hữu nhất, nhất trung hữu lư.” (Cả tin vào Lư th́ cầm bằng chẳng có lư c̣n hơn. Trong Lư có Một; trong Một có Lư). Sau khi phát-biểu câu thô-thiển này, Đàm-quân có tặng cho tôi mỹ-hiệu Túc-lư Tiên-sinh. 

Dịch tự-sinh, tự-tức, tự-cường, tự-tại, tự-biến, tự-cảm, tự-ứng, tự-giác, tự-thông, tự-giao-hoán, tự-thăng-giáng, tự-động, tự-hợp, tự-dung, tự-giao, tự-dụng, tự-trị, tự-nạp, tự-thuật, tự-diễn, tự-truy, tự-nhất-thiết. Cho nên, Thánh-nhân học Dịch, hiểu theo nghiă cổ gồm cả HỌC, GIÁC và GIÁO, Hiền-nhân, Quân-tử đọc, chua và trị-Dịch, c̣n thứ-nhân xem Dịch. Thành thử ra, theo Đại-tượng-truyện, Kinh Dịch là Đạo cuả Đế-vương (Tiên-vương, Hậu), Đại-nhân, Quân-tử, Thượng, Hạ (sĩ). Vô-h́nh-trung, Kinh Dịch dạy ta Đạo Làm Người, đúng như lời thầy Tượng-sơn nói: " 如此 闊,吾 間,須 人。Vũ-trụ chi gian như thử quảng khoát, ngô thân lập vu kỳ gian, tu đại tố nhất cá nhân." (Không-gian cuả vũ-trụ rộng lớn như thế kia, thân ta đứng trong đó, nên mạnh bạo làm nên một con người). 

Mọi chân-tượng, chân-số, chân-ư, chân-thức, chân-lư, chân-chỉ của Dịch đă được Thánh-hiền xưa chân-hàm trong chân-kinh, chân-truyện. Không một ai khác có quyền chân chỉ hạt bột thiện-tiện thêm thắt vào. 

Xin chọn "Tiên-thiên Âm-dương Hỗn-thành-đồ" (H́nh 21.03) và "Nghịch-vận Tiên-thiên Kết-đan-đồ" (H́nh 21.04) của Lưu Nhất Minh để làm kim chỉ-nam cho quư vị nào c̣n giữ vững niềm tin vào DỊCH-ĐẠO:  

Trong Hỗn-thành-đồ (H́nh 21.03) nói về Huyền-tẫn, bên trái là dương, bên phải là âm (Nam tả, nữ hữu). Hai câu tả-phù hữu-bật đều trích từ Lăo-tử cả:

Câu bên trái nghĩa là: "Có vật trộn lẫn mà nên, sinh trước trời đất. Ta không biết tên ǵ, gọi ép là ĐẠO." (Đạo-đức-kinh, Chương XXV) ( 生,吾 Hữu vật hỗn-thành, tiên thiên điạ sinh, ngô bất tri kỳ danh, cưỡng danh viết Đạo. )

Câu bên phải nghĩa là: "Thần hang không chết, ấy gọi là Mẹ nhiệm-mầu. Cửa ngơ Mẹ nhiệm-mầu, ấy gọi là cỗi rễ Trời Đất. Nối liền dằng dặc dường như c̣n hoài. Dùng không cực nhọc." (Đạo-đức-kinh, Chương VI) ( 牝。玄 根。綿 綿 存,用 Cốc-thần bất-tử, thị vị huyền-tẫn. Huyền-tẫn chi môn, thị vị thiên-điạ-căn. Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần.)

Phần trái, dương-khí kiện-động mà ḥa-minh. Trong dương có âm, âm nuôi dưỡng dương. Mệnh và Tính hợp: Mệnh tức là Tính.

Phần phải, âm-khí thuận-phục mà hăm cùng ngừng. Trong âm có dương, dương thanh lọc âm. Tính và Mệnh hợp: Tính tức là Mệnh.

Kiền là dương kiện, mệnh nghĩa; Đoài là âm ḥa, t́nh nghĩa; Ly là âm minh thần lễ; Chấn là dương động tính nhân. Tốn là âm phục, tính nhân; Khảm là dương hăm tính trí; Cấn là dương chỉ, tính trí; Khôn là âm thuận, tính lễ.

Kiện Thuận hợp-nhất; Nguyên-Tẫn tương-giao; lương-tri, lương-năng hỗn-thành vô-ngại. Kim-đan ngưng-kết, gọi tên là Cốc-thần tức Thánh-thai: đó chính là “Mong được Cốc-thần trường-bất-tử, Nên nương Nguyên-tẫn lập căn-cơ. 

Để thích nghĩa Cốc-thần, tác-giả có bài thơ

死。  Yếu đắc cốc-thần trường bất tử,    

基。  Tu bằng nguyên-tẫn lập căn-ky.

屋。  Chân-tinh kư phản hoàng-kim-ốc,

離。  Nhất loả linh-quang vĩnh bất ly.

 

                                     Cốc-thần khá được sống đời đời,

Nguyên-tẫn nên nhờ dựng gốc trời.

     Chân-tinh đă đạt hoàng-kim-ốc,

Một hạt linh-quang măi chẳng dời.
 

 

          H́nh 21.03  Tiên-thiên Âm-dương Hỗn-thành-đồ

H́nh 21.04 Nghịch-vận Tiên-thiên Kết-đan-đồ

            Chân-tinh, linh-quang chỉ là tên khác của cốc-thần. Tại viên-đồ 64 quẻ chính là chỗ hai quẻ Kiền Khôn giao đổi. Tại phương-đồ 64 quẻ chính là giao-điểm của chữ thập. Trong thân người là chỗ tứ-tượng động tĩnh. Có cốc ắt c̣n thần. Mất cốc ắt thần chết. Sống tại đó mà chết cũng tại đó. Âm sinh tại đó; dương trưởng tại đó. Người xưa bảo đó là Sinh-môn, Tử-hộ , là Tạo-hoá-lư , Âm-dương-hộ . Nho bảo đó là Cửa ngơ đạo nghĩa ”. Phật gọi là: Pháp-môn Bất-nhị (Advaya) mà tiếng Anh là The universal Buddha-nature. C̣n Đạo gọi là Chúng diệu chi môn .

 

*

* *

 

 

Xem Kỳ 159

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com