www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 21

 

DỊCH-THƯ TRƯỚC-LUẬN

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 156) 

 

Thần: Thượng-Hệ IV/4 nói: "Thần vô phương nhi Dịch vô thể = Thần không có phương-sở mà đạo Dịch không có h́nh-thể".

Lại nói: "Âm dương bất trắc chi vị thần = Âm dương chẳng lường được th́ gọi là thần" (Thượng-Hệ V/9), bởi chưng thần không có phương-sở nên chẳng lường được. Lại nói: "Tri biến-hoá chi đạo giả, kỳ tri thần chi sở vi hồ = Ai biết đạo biến-hoá th́ biết việc làm cuả thần chăng?" (Thượng-Hệ IX/9). Ngu-Phiên chú rằng: "Tại dương xưng Kiền đi sang Khôn, tại âm xưng hoá, Khôn nhị đi sang Kiền. Âm dương chẳng lường được th́ gọi là thần. Ai biết đạo biến-hoá th́ biết việc làm cuả thần chăng?".

Lại nói: "Dịch vô-vi dă, vô-tư dă = Đạo Dịch không nghĩ ngợi ǵ cả, không làm gi cả" (Thượng-Hệ X/4). Ngu-Phiên chú rằng: "Thiên-hạ hà tư, hà lự, thiên-hạ đồng-quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự, cố vô-vi, vị kỳ tĩnh dă chuyên = Thiên-hạ không lo ǵ, nghĩ ǵ, thiên-hạ cùng về mà khác lối, một sự đến mà trăm điều nghĩ, nên không làm gi cả, bởi v́ lúc tĩnh thi chuyên". "Tịch nhiên bất-động = Yên lặng chẳng động" (Thượng-Hệ IX/9). Bảo là ẩn-tàng, hào sơ quẻ Khôn cơ tức vậy, chuyên nên không dám động. "Cảm nhi toại thông thiên-hạ chi cố = Cảm-động mà biết ngay duyên cớ cuả thiên-hạ". Lấy dương biến âm, biết ngay duyên cớ cuả thiên-hạ, nghiă là phát-huy cương-nhu mà sinh ra hào. "Nếu không phải là cái thần tột bậc trong thiên-hạ th́ đâu có làm được như thế". Chí-thần có nghiă là Dịch ẩn sơ nhập vi, biết cái điềm trước là thần chăng?

Lại nói: "Duy thần dă, cố bất tật nhi tốc, bất hành nhi chí = Chỉ có thần-diệu, nên chẳng vội vàng mà lại nhanh chóng, chẳng cần đi mà lại đến nơi đến chốn được". Thần tức là Dịch. Bảo là tam-quang (nhật-nguyệt-đẩu) ở trên trời. Mặt trời đi một độ, mặt trăng đi 13 độ, tây chuyển trên trời, nên chẳng vội vàng mà lại hoá ra nhanh chóng. Là yên lặng chẳng động, tùy thiên hữu chu, cảm-động mà biết ngay duyên cớ cuả thiên-hạ, nên chẳng cần đi mà lại đến nơi đến chốn được.

Lại nói: "Lợi-dụng xuất-nhập, dân hàm dụng chi, vị chi thần = Bắt chước lợi-dụng ra vào, dân đều dùng được th́ gọi là thần".

Lại nói: "Cổ chi, vũ chi dĩ tận thần = Cổ vơ để khai-thác hết cái thần-diệu" (Thượng-Hệ XII/2). Ngu-Phiên chú rằng: "Thần chính là Dịch. Dương tức, chấn là cổ, âm tiêu, tốn là vơ nên cổ chi, vơ chi dĩ tận thần".

(Hạ-Hệ II/1) nói: "Ư thị thủy tác bát-quái dĩ thông thần minh chi đức = Rồi mới làm ra bát-quái để thông suốt đức cuả thần-minh". Hán-thư  tán rằng: "Dịch bắt rễ từ ẩn  để đi đến hiển". Trương-Ấp nói rằng: "Làm ra bát-quái để thông suốt đức cuả thần-minh vốn gốc ở ẩn. Có đạo trời, có đạo người, có đạo đất, để phân-loại t́nh cuả muôn loài, ấy là hiển vậy".

Lại nói: "Tinh nghiă nhập thần dĩ trí dụng dă = Tinh-ba nghiă-lư đi vào chỗ thần-diệu để đem lại sự tận-dụng vậy" (Hạ-Hệ V/3). Diêu-Tín nói: "Dương, nên gọi là thần. Biến thành Cấu, Phục, nên bảo là trí-dụng".

Thuyết-quái VI/1 nói: "Thần dă giả diệu vạn-vật nhi vi ngôn giả dă = Gọi là thần là v́ làm đẹp muôn vật mà nói". Thuyết-văn, bên dưới chữ thần chua rằng: Thiên-thần dẫn xuất là muôn vật vậy. Diệu muôn vật là dẫn  xuất muôn  vật vậy.

Mạnh-tử nói: "Lớn mà hoá đấy, gọi là thánh. Thánh mà không biết được th́ gọi là thần". Trang-tử Ngoại-Vật Thiên nói: "Thánh-nhân sở dĩ làm chấn-động thiên-hạ, thần-nhân chưa từng hỏi qua". Quách Phác chú rằng: "Thần-nhân tức thánh-nhân. Thánh-nhân ở ngoài, thần-nhân ở trong".

Lại nói: "Cái c̣n giữ lại là thần".

Trong Đại-Đới-Lễ, Ai-Công hỏi Khổng-tử: Người gọi là thánh-nhân biết thấu suốt cả đại-đạo, mà ứng-biến khôn cùng, năng đo lường được tính-t́nh cuả muôn vật. Sở dĩ đại-đạo biến-hoá mà ngưng thành muôn vật. Theo lẽ phải, tính t́nh sở dĩ không lấy, không bỏ.

Lă Lăm Quân-thủ nói: "Chí-thần tiêu-dao điều-hốt mà không thấy dung-nhan. Chí-thánh biến-tập di­-tục mà chẳng biết xuất-phát từ đâu ?".

Đại-Đới-Lễ, Khuyến-học nói: "Không thần nào lớn bằng hoá-đạo".

Sử-kư Luật-thư nói: "Khí bắt đầu từ đông-chí, đi giáp ṿng rồi quay về nơi sinh. Thần sinh từ vô-h́nh (tinh-vi nên vô-h́nh), thành nơi hữu-h́nh. Rồi sau số, h́nh mới thành thinh. Nên nói: thần khiến khí, khí thành-tựu h́nh, h́nh lư-luận loại có thể là loại hoặc giả chưa là h́nh, chưa là loại, hoặc giả đồng-h́nh mà đồng loại, loại có thể phân-biệt được, loại có thể hiểu biết được. Thánh-nhân biết trời đất biết phân-biệt, nên từ h́nh-chất muôn vật chưa có đi đến trời đất chưa thành h́nh".

Nội-nghiệp nói: "Một vật có thể hoá vật khác được th́ gọi là thần, một sự việc có thể biến-hoá được th́ gọi là trí. Hoá không đổi được khí, biến không đổi được trí".

Tuân-tử Bất-cẩu nói: "Thành-tín sinh thần". Chú: "Trung-Dung nói: chí-thành như thần".

Hoài-nam Thái-thốc nói: "Đại-nhân là người hợp-đức với trời đất, hợp-minh với nhật-nguyệt, hợp-linh với quỷ-thần, hợp-tín với bốn muà. Nên thánh-nhân chứa thiên-khí, ôm ấp thiên-tâm, chấp-trung, hàm-hoà, không hạ miếu-đường mà diễn-hành tứ-hải-biến, tập-dịch tục, dân hoá mà thiên-thiện, như tính trong ta năng thần-hoá". Trong Hậu-Hán-Thư, Lư-Cố dâng sớ rằng: "Thần nghe thấy: Thanh cuả khí làm nên thần, thanh cuả người làm nên người hiền".

 

U Tán: Nhạc-kư nói: "Sáng suả ắt có Lễ Nhạc, tối-tăm ắt có quỷ-thần. Thánh-nhân làm ra Dịch là khởi đầu. U-tán nơi thần minh là kết liễu vậy. Minh-tán nơi trời đất, u-tán là một vậy. Tán hoá dục cuả trời đất, là tham nhất quán tam vậy".

  

U Minh: Thượng-Hệ IV/5 nói: "Biết cái cớ về tối sáng". Tối là phương bắc vậy, quẻ khảm vậy. Sáng là phương nam vậy, quẻ ly vậy. Tiết Trạch Nam-giao trong Thiên  Nghiêu-điển cuả Kinh Thư nói: "Sáng đều an-định tại sóc-phương, tối đều là đàn-cung, chôn nơi phương bắc, bắc là cái cớ cuả đầu mối vậy".

Thuyết-quái-truyện V/2 nói: "Ly dă giả minh dă, vạn-vật giai tương-kiến,nam-phương chi quái dă = Ly là sáng, muôn vật đều cùng thấy nhau, là quẻ phương nam".

Đó là cái cớ cuả tối sáng vậy.

 

Diệu: Lẽ huyền-vi gọi là diệu. Diệu cũng như diểu (Tinh-vi). Từ khi Quảng-nhă huấn diểu là tốt, chữ này mới thành tối-nghiă.

Hệ-Hạ V/12 nói: "Đức Khổng-tử nói rằng: người con họ Nhan, có lẽ gần đạo ư? Có điều chẳng lành, chưa từng chẳng biết, đă biết th́ chưa từng làm trở lại. Kinh Dịch nói rằng: chẳng đi xa mà trở lại, không yên ở điều hối-hận, rất tốt". Ngu-Phiên chú rằng: "Đạo là thần-diệu vậy". Con nhà họ Nhan gần đạo nên biết đạo. Án: cổ-văn diểu là nhỏ, hầu như là vi. Trong Thân-giám, Tuân-Duyệt nói: "Lư vi gọi là diệu".

Hậu-Hán-thư huấn diệu là mỹ là tục-huấn.

Thuyết-quái-truyện VI/1 nói: "Thần dă giả, diệu vạn-vật nhi vi ngôn giả dă = Gọi là thần là v́ làm đẹp muôn vật mà nói". Bản cuả Đổng-Ngộ chữ 'diệu' viết thành chữ 'diểu' nghiă là nhỏ. Hệ-Thượng X/4 nói: "Phi thiên-hạ chi chí thần kỳ thục năng dữ ư thử? = Nếu không phải là cái thần tột bực trong thiên-hạ th́ đâu có được dự vào điều ấy". Hệ-Hạ V/11 nói: "Tri cơ kỳ thần hồ? = Biết cái điềm báo trước là thần ru?". Ngu-Phiên chú rằng: "Chí thần là bảo Dịch ẩn sơ nhập vi". Lại nói: "Dương tại hào sơ quẻ Phục xưng là cơ, ẩn sơ nhập vi, âm dương khôn lường, nên gọi là thần v́ làm đẹp muôn vật mà nói". Trong Tiền-Hán-Thư, Chiêu-Đế-kỷ, Sư Cổ chú rằng: "Diểu là vi".

Trung-Dung (Chương XII) nói: "Cố quân-tử ngữ đại, thiên-hạ mạc năng tải yên; ngữ tiểu, thiên-hạ mạc năng phá yên. = Cho nên cái đạo cuả người quân-tử, nếu nói rộng lớn ra, th́ trong thiên-hạ không có cái ǵ chở nổi; nếu nói thu nhỏ lại, th́ trong thiên-hạ không có ai khám-phá được.

 

Thành: Văn-Ngôn 5 quẻ Kiền nói: "Nhàn tà tồn kỳ thành = Ngăn cấm tà bậy để giữ ḷng thành". Văn-Ngôn 6 quẻ Kiền lại nói: "Tu từ lập kỳ thành = Sửa lời nói, dựng ḷng thành". Ngu-Phiên chú rằng: "Kiền là thành".

Đại-học nói: "Muốn Chính tâm truớc phải thành-ư". Lại nói: "Cái gọi là thành-ư, là chớ tự khi, như ghét mùi hôi tanh, như ưa hiếu-sắc. Điều đó gọi là tự-khi. Người quân-tử tầt cẩn thận khi ở một ḿnh (thận-độc). Kẻ tiểu-nhân, ăn không ngồi rồi, làm chuyện bất-thiện, thấy người quân-tử th́ thu ḿnh lại, che dấu cái xấu xa, mà phô-trương cái đẹp đẽ. Người ngoại-cuộc nh́n vào, thấy hết ḷng dạ, che dấu phỏng có ích ǵ? Điều đó chính là thành ở trong ḷng, h́nh hiển hiện ra ngoài. Cho nên người quân-tử tất thận-độc".

Trong Trung-Dung (Chương XVI) Đức Khổng-tử nói rằng: "Quỷ-thần chi vi đức, kỳ thịnh hỹ. Hồ thị chi nhi bất kiến, thính chi nhi bất văn, thể vật nhi bất khả di, sử thiên-hạ chi nhân tề minh thịnh phục dĩ thừa tế-tự, dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu = Đức cuả quỷ-thần thiêng liêng to lớn lắm thay! Người ta trông mà không thấy, lắng nghe mà không nghe được. Nhưng ở đâu cũng có, quỷ-thần thể-sát hết mọi vật mà không bỏ sót vật nào. Nếu mọi người trong thiên-hạ đều chay kính, ăn mặc trang-nghiêm chỉnh tề, để tế-tự quỷ-thần, th́ lồng lộng thay, như quỷ-thần đang ở bên trên, như ở bên tả và bên hữu chúng ta". Kinh Thi nói rằng: "Quỷ-thần soi xét, người ta biết đâu mà lường. Chớ nên thờ-ơ coi thường".

Trung-Dung (Chương XX) lại nói rằng: "Thành giả thiên chi đạo dă. Thành chi giả nhân chi đạo dă. Thành giả bất miễn nhi trúng, bất tư nhi đắc, thung-dung trúng đạo: Thánh-nhân dă. Thành chi giả trạch thiện nhi cố-chấp chi giả dă = Thành-thực là đạo cuả trời (tức là đạo cuả tự nhiên), mà làm cho đạo được thành thực là đạo cuả người (tức là đạo cuả xă-hội loài người). Đối với đạo thành-thực tức thiên-đạo, người ta không phải khó nhọc mà làm trúng, không phải nghĩ-ngợi mà làm được. C̣n như cứ thung-dung, tự nhiên là làm trúng đạo, th́ đó là Thánh-nhân vậy".

Trung-Dung (Chương XXI) lại nói rằng: "Tự thành minh, vị chi tính. tự minh thành, vị chi giáo. Thành tắc minh hỹ. Minh tắc thành hỹ = Bởi ḷng thành-thực mà sáng tỏ, gọi là tính. Bởi sáng tỏ mà trở nên thành-thực, gọi là giáo. Có ḷng thành-ghực mới sáng tỏ. Có sáng tỏ mới có ḷng thành-thực".

Trung-Dung (Chương XXII) lại nói rằng: "Duy thiên-hạ chí thành vi năng tận kỳ tính. Năng tận kỳ tính tắc năng tận nhân tính. Năng tận nhân chi tính, tắc năng tận vật chi tính. Năng tận vật chi tính, tắc khả dĩ tận thiên-điạ chi hoá-dục. Khả dĩ tận thiên-điạ chi hoá-dục, tắc khả dĩ dữ thiên-điạ tham hỹ. = Trong thiên-hạ, chỉ có bậc chí-thành mới hiểu biết tường-tận thiên-tính. Có hiểu biết tường-tận thiên-tính mới hiểu biết hết nhân-tính. Đă hiểu biết thấu-đáo nhân-tính th́ mới hiểu biết thấu-đáo vật-tính. Đă hiểu biết kỹ-lưỡng vật-tính th́ có thể giúp trời đất trong việc biến-hoá sinh-dục. Đă có thể giúp trời đất trong công việc biến-hoá sinh-dục th́ có thể sánh cùng trời đất vậy".

Trung-Dung (Chương XXVI) lại nói rằng: "Cố chí thành vô-tức. Bất tức tắc cửu, cửu trắc trưng, trưng tắc du viễn, du viễn tắc bác-hậu, bác-hậu tắc cao-minh. = Cho nên người chí-thành không bao giờ bỏ ngang. Đă không bỏ ngang th́ thêm vững bền măi, càng vững bền măi, th́ có nhiều hiệu-nghiệm, nhiều hiệu-nghiệm th́ phát-triển càng xa, đă phát-triển càng xa, th́ lại càng rộng, càng dầy, càng rộng, càng dầy, th́ lại càng cao, càng sáng".

Trung-Dung (Chương XXXII) lại nói rằng: "Duy thiên-hạ chí thành, vi năng kinh-luân thiên-hạ chi đại-kinh, lập thiên-hạ chi đại-bản, tri thiên-điạ chi hoá-dục. Phù yên hữu sở-ỷ. Truân truân kỳ nhân, uyên-uyên kỳ uyên, hạo hạo kỳ thiên. = Trong thiên-hạ, chỉ có bậc chí-thành mới có thể sửa-sang được đại-kinh tức ngũ-luân (vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em và bạn bè) cho thiên-hạ, mới xây-dựng được đại-bản tức ngũ-thường (nhân, nghiă, lễ, trí, tín) cho thiên-hạ, mới biết rơ được những luật sinh-hoá tự-nhiên cuả trời đất. Bậc chí-thành chỉ cậy nơi ḿnh, nào có dựa vào ai đâu? Ḷng nhân cuả bậc chí-thành thật là khẩn-thiết và bao-la thay! Sâu thăm thẳm như vực, cao lồng lộng như trời".

Tuân-tử nói: "Dưỡng tâm không ǵ giỏi bằng ḷng thành". Lại nói: "Không thành, ắt không độc". Đại-Học nói: "Thành ư mà quy vào thận-độc, ắt thành giống  như độc vậy". Dịch-Vỹ Kiền-tạc-độ luận về nghiă cuả Dịch nói: "Di vật trí-diệu, chí-thành, chuyên mật". Trịnh-Huyền chú rằng: "Di là động. Trời xác-định ngươi chí-thành. Nên vật được lấy tự-diệu. Như thế ắt tồn thành, hầu như thận-độc, thận-độc tức chí-thành vậy".

Dịch-Vỹ Kiền-tạc-độ nói: "Khổng-tử nói: Dịch là biến đổi, là biến-dịch, là bất-dịch. Dịch là để nói thửa đức, hư-vô cảm-động, thanh-tịnh, chiếu-triết, di vật đến trí-diệu chí-thành chuyên-mật".

Hán-thư, Truyện Khổng-Quang đối sách rằng: "Trời đă phó-mệnh chính thửa đức, nói đức để thuận-thiên".  Lại nói: "Trời giúp bậc chí-thành, bảo có đạo thành, trời phụ giúp. Sáng tỏ thừa thuận thiên-đạo, tại nơi sùng-đức, bác-thí gia-tinh, trí-thành măi măi mà thôi".

Mạnh-tử (Ly-Lâu Thượng, tiết 12) nói rằng: "Cư hạ-vị nhi bất hoạch ư thượng, dân bất khả đắc nhi trị dă. Hoạch ư thượng hữu đạo: bất tín ư hữu, phất hoạch ư thượng hỹ. Tín ư hữu hữu đạo: sự thân phất duyệt, phất tín ư hữu hỹ. Duyêt thân hữu đạo:phản thân phất thành, bất duyệt ư thân hỹ. Thành thân hữu đạo: bất minh hồ thiện, bát thành kỳ thân hỹ. Thị cố thành giả thiên chi đạo dă, tư thành giả, nhân chi đạo dă. Chí thành nhi bất-động giả, vị chi hữu dă. Bất thành vị hữu năng động giả dă = Kẻ làm quan bậc dưới mà chẳng được bề trên tín-nhiệm, có một phương-pháp nên theo: nếu ḿnh chẳng được bạn bè tin cậy, tức nhiên ḿnh chẳng được ḷng tín-nhiệm cuả người bề trên đó. Muốn được cha mẹ vui ḷng, có một phương-pháp nên theo: nếu ḿnh tự xét, thấy rằng ḿnh chẳng thành-thật, tức nhiên ḿnh chẳng được cha mẹ vui ḷng đó. Muốn được thành-thật, có một phương-pháp nên theo: nếu ḿnh chẳng biết phân-biệt việc thiện, tức nhiên thân tâm ḿnh chẳng được thành-thật đó. Cho nên đức thành thật tự-nhiên vốn là đạo trời vậy. Tự ḿnh luyện-tập để trở nên thành-thật, đó là đạo người vậy. Xưa nay, hễ bậc chí-thành th́ cảm-động được thiên-hạ, làm cho ai nấy đều tín-phục ḿnh. Mà người chẳng thành-thật th́ chẳng cảm-động được ai cả".

Hàn-thi Ngoại-truyện nói: "Phép cuả Đường-Ngu có thể có được mà khảo-cứu. Thửa ví-dụ nhân-tâm không thể bắt kịp được". Kinh Thi nói: "Thượng-thiên sở đới, không tiếng, không mùi, ai mà năng bắt kịp được".

Lại nói: "Một tiếng hô cuả dũng-sĩ, ba quân đều tránh né, đó là nhờ ḷng thành cuả kẻ sĩ".

Trang-tử, Ngư-phụ nói: "Khổng-tử siù mặt mà hỏi ông câu rằng: thế nào là chân-khách? Đáp: Chân-khách là người rất tinh-thành. Không tinh, không thành, không thể cảm-động được người khác. Cho nên khóc hờ, là tuy buồn mà không thảm. Giận vờ là chưa nổi giận  mà đă oai. Thân thiệt t́nh là chưa cười mà đă hoà-ái. Chân ở bên trong mà thần động bên ngoài. Sở dĩ được như thế là nhờ nhận nơi trời. Tự nhiên không thể đổi được".

 

Nhân: Đức Khổng-tử nói rằng: "Ta thấy có người dẵm vào nước, vào lửa mà chết. chưa thấy người nào dẵm vào đạo nhân mà chết cả" (Luận-Ngữ XV/24). Lời này hợp với Dịch-lư. Đạo nhân chính Kiền-đạo lúc sơ-sinh. Cho nên chưa thấy người nào dẵm vào đạo nhân mà chết cả. Suy rộng ra, cầu nhân được nhân, tự giết ḿnh để được đức  nhân, mà chu-toàn chung, nên nói cho cùng không thể bảo là chết được. Lễ-kư bảo: người quân-tử th́ nói  rằng chung (Vd: mệnh chung), kẻ tiểu-nhân lại nói rằng chết.

 

Trung: Giáp-tư. Quái-khí khởi bằng quẻ Trung-phu, Thái-huyền chuẩn bằng thủ Trung. Đại-Thuấn nắm vững hai đầu. Khúc giữa dùng cho dân. Chu Công thiết-quan phân-chức, lấy dân làm quan-trọng nhất. Ngu (Thuấn), Chu (Công), đều là đời Kư-tế, nên tán-dương công-lao cuả hoá-dục.

Thoán-truyện quẻ Phục nói: "Phục kỳ kiến thiên-điạ chi tâm hồ = Xem quẻ Phục th́ thấy ḷng cuả trời đất vậy". Án: Tiết đông-chí, Phuc gia khảm, khảm là cức-tâm. Cổ-văn cức là cực trung. Song thế th́ ḷng cuả trời đất tức trung-tâm cuả trời đất vậy. Trong Xuân Thu Phiền-lộ, Đổng Trọng-Thư nói rằng: "Dương bắt đầu đi từ chính giữa phương bắc mà ngừng lại ở chính giữa phương nam. Âm khởi-hành từ chính giữa phương nam và dừng lại ở chính giữa phương bắc. Đạo của âm-dương khác nhau cho đến lúc thịnh, nhưng đều dừng lại ở chính giữa. Khởi điểm cũng là ở chính giũa. Chính giũa là thái-cực vậy. Nhật-nguyệt, hai ngày hạ-chí và đông-chí tường như dừng lại. Trựng-đoản cuả thịnh không được quá trung. Đó là thể-chế cuả trời đất vậy. Theo như lời cuả Đổng Trọng-Thư ắt ḷng cuả trời đất kiêm nhị-chí vậy. Đại-tượng nói: Tiên-vương chí nhật bế quan kiêm nhị-chí = Tiên-vương cứ đến hai ngày đông-chí và hạ-chí là đóng cửa quan lại".

Hệ-Thượng I/8 nói: "Dị-giản nhi thiên-hạ chi lư đắc hỹ, thiên-hạ chi lư đắc nhi Dịch thành vị hồ kỳ trung hỹ = Giản-dị mà biết được cái lẽ cuả thiên-hạ, biết được cái lẽ cuả thiên-hạ mà lập thành điạ-vị con người trong trời đất". Tuân-Sảng chú rằng: "Dịch bảo là Khảm Ly dương-vị thành nơi ngũ, ngũ là trung cuả thượng-thể, âm-vị thành nơi nhị, nhị là trung cuả hạ-thể. Cho nên, Dịch thành-vị nơi trung". Án: Dị-giản tức trung-tâm cuả trời đất. 
 

Thiện: Văn-Ngôn 1 quẻ Kiền nói: "Nguyên giả thiện chi trưởng dă = Nguyên là trùm mọi điều thiện".

Lại nói: "Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh = Nhà nào chứa điều lành, ắt có thừa phúc" (Văn-Ngôn 5 quẻ Khôn). Ngu-Phiên chú rằng: "Hào sơ quẻ Kiền là tích-thiện".

(Thượng-Hệ V/1 & 2) nói: "Nhất âm, nhất dương chi vị đạo. Kế chi giả thiện dă, thành chi giả tính dă = Một âm và một dương gọi là đạo. Nối-tiếp đạo là điều lành, làm nên đạo, là tính".

Lại nói: "Nhan thị chi tử, kỳ đăi thứ cơ hồ? Hữu bất thiện vị thường bất tri, tri chi vị thường phục hành dă (Hạ-Hệ V/13). Dịch viết: Bất viễn phục, vô kỳ hối, nguyên cát (Phục sơ-cửu) = Đức Khổng-tử nói rằng: Người con nhà họ Nhan, có lẽ gần đạo ư? Có điều chẳng lành, chưa hề chẳng biết, đă biết th́ chưa bao giờ tái-phạm. Kinh Dịch nói rằng: Như thể chẳng xa ǵ mấy, không đi đến chỗ hối tiếc, rất tốt". Ngu-Phiên chú rằng: "Phục để tự biết". Trung-Dung (Chương VIII) nói: "Tử viết: Hồi chi vi nhân dă, trạch hồ Trung-dung. Đắc nhất thiện tắc quyên quyền phục ưng nhi phất thất chi hỹ = Ngươi Hồi (Thầy Nhan-Hồi) mới đúng là người biết lựa chọn Đạo Trung-dung. Mỗi khi được một điều thiện, th́ Hồi ôm-ấp măi trong ḷng, chẳng bao giờ để mất". Chú: Nhất thiện tức hào sơ quẻ Kiền, cũng là hào sơ quẻ Phục, là cùng đi ở trong với chúng. Nên nói: 'biết lựa chọn Đạo Trung-dung'. Trung-dung với Hạ-Hệ hỗ-tương phát minh.

Chương Khuyến-học trong Đại-Đới-Lễ nói: "Chứa điều lành cho thành đức". Án: Hào sơ là thiện, hào tam là thành đức, nên Văn-Ngôn 26 quẻ Khôn nói: "Quân-tử dĩ thành đức vi hạnh = Người quân-tử lấy việc trở nên có đức làm nết". Bia Nghị-lang Nguyên-tân đời Hán nói: "Tích-thiện cuả Kiền là hào cửu-tam. Dương thành nơi hào tam, tích thiện thành đức đến tam mà lập thành".

Tấn-ngữ, Dung Trang-tử nói: "Thiện là lập thành cuả đức". Chứa điều lành cho thành đức nên là lập thành cuả đức. 
 

Thuần: Văn-Ngôn 28 quẻ Kiền nói: "Đại tai Kiền hồ, cương-kiện trung-chính, thuần-túy tinh dă = Lớn vậy thay đạo Kiền, cứng, mạnh, ngay, chính, thuần, túy, tinh vậy".

Trung-Dung (Chương XXVI) nói: "Kinh Thi nói: ''Duy thiên chi mệnh ô mục bất dĩ. Cái viết: Thiên sở dĩ vi thiên dă. Ô hô bất hiển. Văn-Vương chi đức chi thuần. Cái viết: Văn-Vương sở dĩ vi Văn-Vương dă, thuần diệc bất dĩ". Chu-tử nói: thuần là thuần, không tạp.

Trong Trịnh-Ngữ, Sử-Bá nói: "Dựng cửu-kỷ để lập thuần-đức. Vi-Chiêu nói: "Dựng là lập. là thuần-nhất, không bác-tạp". Giả-Đường nói: "Cửu-kỷ là cửu-công tức lục-phủ = ngũ-hành + cốc & tam-sự = chính-đức, lợi-dụng, hậu-sinh".

Kiền-tạc-độ nói: "64 quẻ Dịch chia làm trên, dưới, tượng-trưng âm-dương. Dương-đạo thuần mà lẻ, cho nên Thượng-thiên, 30 quẻ sở dĩ tượng-trưng dương. Âm-đạo bất-thuần mà chẵn. cho nên Hạ-thiên 34 quẻ, sở  dĩ pháp-âm". Trịnh-Huyền chú rằng: "Dương-đạo chuyên đoán và thống-lĩnh âm-sự, cho nên thuần.

Lại nói: "Cái tiêu-tức thuần là Đế, bất-thuần là vương. Sáu quẻ con trên không bắt kịp đế, dưới không vượt qua vương. Cho nên sáu quẻ con tuy thuần mà không thảnh Kiền, Khôn".

Sở-Ngữ Quan-xạ Phụ nói: "Kỷ cuả Tiên-vương, lấy một thuần, hai tinh".

Vi-Chiếu chú rằng: nhân được nhân, giết thân thành nhân, "Tâm nhất mà khiết-tịnh vậy. Hai tinh sở-dụng ngọc-cẩm vậy". Lại nói: "Thánh-vương chính-đoan mạo lấy thửa trái ḷng, chỉ-huy quần-thần lâm–giám hưởng-tự, không có điều ác với thần là cái gọi là nhất-thuấn". Vi-Chiếu chú rằng: "Không trái ḷng là tâm-tư đoan-chính, y-phục ắt đoan-mạo".

Lễ Đầu-Hồ nói: "Hai tính là thuần". Thích-văn nói: "Thuần âm là toàn". Trịnh-Huyền chú rằng: "Nghi-lễ chữ như bảo là thuần-toàn vậy". Án: Thuần huấn-hỗ là toàn. Kiền là thuần, là duơng kiêm âm, là nhất kiêm, cho nên toàn dương kiêm âm là nhất.

Trang-tử Khắc-ư nói: "Thuần là không khuyết thần". 
 

Biện về chữ Tinh: Văn-Ngôn 24 quẻ Kiền nói: "Đại tai Kiền hồ, cương, kiện, trung, chính, túy tinh dă = Lớn vậy thay đạo Kiền, cứng, mạnh, ngay, chính, thuần, túy tinh vậy".

Hệ-Thượng IV/2 nói: "Tinh-khí vi vật = Có tinh, có khí là vật". Ngu-Phiên chú rằng: "Kiền thuần, túy, tinh". Trịnh-Huyền chú rằng: "Tinh-khí chính là 7, 8 vậy. Tinh-khí gọi là thần".

Lại nói: "Thị dĩ quân-tử tương hữu vi dă, tương hữu hành dă, vấn yên nhi dĩ ngôn, kỳ thụ mệnh dă như hưởng, vô hữu viễn cận u thâm, toại tri lai vật, phi thiên-hạ chi chí-điều chi, ắt hỏi để mà lấy lời th́ chiụ mệnh nhanh nhu tiếng vang, không có xa gần kín sâu khác nhau, mà biết ngay được việc sau, nếu không phải là điều rất tinh-vi trong thiên-hạ th́ đâu có được dự vào đấy" (Hệ-Thượng X/2). Ngu-Phiên chú rằng: "Thần để biết cảm-tưởng về sau mà thông ngay chính là u-tán thần minh mà sinh ra bói cỏ thi. Chí-tinh chính là Kiền thuần, túy, tinh vậy".

Hệ-Hạ V/3 nói: "Tinh-nghiă nhập thần, dĩ trí dụng dă = Tinh-ba nghiă-lư đi vào cho thần-diệu để đem lại sự tận-dụng vậy". Diêu-Tín nói: "Dương xưng là tinh, âm là nghiă, nhập tại hào sơ vậy. Âm-dương tại sơ. Sâu sắc khôn lường, nên gọi là thần. Biến ra Cấu, Phục, nên nói sự tận-dụng vậy".

Lại nói: "Nam-nữ cấu tinh = Trai gái kết-tinh". Ngu-Phiên chú rằng: "Kiền là tinh".

Trung-Dung (Chương XXVII) nói: "Trí quảng-đại nhi tận tinh-vi = Học-tập rất rộng lớn, lại hết sức tinh-vi".

Lễ-kư, Lễ-khí nói: "Đức sinh-sản rất mực tinh-vi". Trịnh-Huyền chú rằng: "Rất mực là kín-đáo vô-cùng".

Kinh-giải nói: "Khiết-tịnh tinh-vi dịch-giáo dă = Dịch dạy ta khiết-tịnh tinh-vi". Án: Khiết-tịnh là Khôn, tinh-vi là Kiền".

Chu-ngữ, Nội-sử Quá nói: "Tiên-vương biết đại-sự tất để chúng cứu giúp. Nên trừ khử thửa tâm tinh-khiết. Song thế, ắt trưởng chúng khiến cho đạo dân không tinh-khiết, bất hoà. Nay Tấn-hầu lấy ác-thực thế cho thửa tinh-khiết".

Công-Dương Truyện, Trang-Công năm thứ 10 nói:

"Thô là xâm, tinh là phạt". Hà-Hưu nói: "Thô là thô-sơ. Tinh giống như tinh-mật vậy". Tuân-tử Thành-tướng nói: "Đại tham-chước nơi trời, tinh-vi mà vô-h́nh".

Quản-tử Nội-nghiệp nói: "Tĩnh ắt tinh, tinh ắt độc-lập vậy. Độc ắt sáng, sáng ắt thần. Thần là chí-quư vậy. Nên  quán không tránh sâu, không sâu th́ quư nhân không đến ở".

Tinh, tĩnh đồng nghiă. Tại Kiền là tinh, tại Khôn là tĩnh. Nên Kinh-giải nói: Khiết-tịnh tinh-vi.

Trong Xuân Thu Phiền-lộ, Đổng-tử nói: "Thanh cuả khí làm ra tinh". Bạch-hổ-thông nói: tinh là tĩnh vậy.

Hoài-nam Thiên-văn nói: "Âm-dương là tập-tinh cuả trời đất, chuyên-tinh cuả âm-dương là bốn muà, tán-tinh cuả  bốn muà là muôn  vật". Cao-Tú nói: "Tập-hợp tinh-khí vậy".

Lại nói: "Hai âm, một dương thành khí nhị, nhị âm một dương thành khí tam". Cao-Tú chú rằng: "Âm thô-xác nên được ít khí, dương tinh-vi nên được nhiều khí".

Lă-lăm Đại-nhạc nói: "Đạo là chí-tinh, không thể là h́nh, không thể là tên, gọi ép là thái-ất". Cao-Tú chú rằng: "Tinh-vi cũng gọi là tinh vi diệu".

Lại nữa, Quân-thủ : "Trời vô-h́nh mà muôn vật thành chí-tinh, mà muôn vật hoá, đại-thánh vô-sự mà muôn vật ngàn quan thẩy năng như vậy, bèn gọi là dạy mà chẳng cần phải dạy, gọi là chiếu mà chẳng cần xuống chiếu".

Lại nữa, Bác-chí nói: "Khổng-mỗ, Mặc-Địch, ban ngày, phúng-tụng, tập nghiệp, ban đêm mộng gặp Văn-vương, Chu-Công Đán mà hỏi về Đạo, Dùng chí như thế, thửa tinh vậy, không việc nào mà chẳng đạt, không hành-động nào mà chẳng thành. Nên   nói là tinh-thục cuả quỷ. Sẽ bố-cáo, không phải là quỷ bố-cáo. Tinh mà thục vậy. Sử-Du nói: Tích-học tới cùng, không có quỷ-thần. Nên nói: có quỷ cáo vậy".

Tam-thống-lịch nói: "Đồng là vật chí-tinh, táo thấp, hàn, thử không biến thửa tiết được, phong, vũ, bạo, lộ, không thay đổi thửa h́nh được. Hữu thường tốt đẹp như đức-hạnh cuả sĩ-quân-tử vậy".

Hoài-nam Bản-kinh nói: "Tinh-hoa cuả trời là nhật-nguyệt-tinh-thần, lôi-điện-phong-vũ vậy".

Quản-tử Nội-nghiệp nói: "Phàm tinh-hoa cuả vật có từ lúc sinh ra. Hạ sinh ra ngũ-cốc, thượng sinh ra liệt-tinh, vận-hành trong trời đất, gọi là quỷ-thần, chứa trong lồng ngực, gọi là thánh-nhân".

Tâm-thuật nói: "Chức-phận cuả thế-nhân là tinh. Khử dục ắt thông, thông ắt tĩnh,  tĩnh ắt tinh, tinh ắt độc-lập vậy".

Lại nói: "H́nh không ngay, ắt đức không lại, trung không tinh là tâm bất-trị". Lại nói: "Một khí năng biến bảo rẳng tinh, một việc năng biến bảo rẳng trí".

Thái-huyền nói: "1, 6 là thủy, là phương bắc, là muà đông tiến-tinh". Phạm-Vọng chú rằng: "Tinh là diệu cuả khí. Nói là dương mới sinh, khí tinh-diệu vậy".

Trang-tử, Thiên-hạ nói: "Lấy gốc làm tinh, lấy vật làm thô".

Lăo-tử Đạo-đức-kinh nói: "Sâu xa hề, yên lặng hề, bề trong tinh-vi, tinh-vi rất thật".

Hàn-thi Ngoại-truyện nói: "Phàm thuật trị-khí, dưỡng-tâm không ǵ ngay thẳng mà không do lễ, không ǵ tốt đẹp hơn bằng được thầy, không ǵ cẩn-thận bằng làm được  một việc tốt. Làm được một việc tốt ắt bác, bác ắt tinh, tinh ắt thần, thần ắt hoá. Là lấy nhiệm-vụ quân-tử kết tâm nơi nhất. Kinh Thi nói: Thục-nhân quân-tử khuôn phép nhất hề, khuôn phép nhất hề, tâm như kết hề".

Mặc-tử Công-Mạnh nói: "Thực làm thiện-nhân, ai chẳng biết là nên bắt chước Lương Ngọc ở yên mà không xuất, có dư-tinh". Phùng-Diễn Đức-cáo nói: "Trầm-t́nh u-tư, dẫn tinh-vi cuả Lục-Kinh". 
 

Tam-tài: Hệ-Thượng II/2 nói: "Lục hào chi động, tam-cực chi đạo dă = Sáu hào biến-động là cái đạo cuả tam-cực vậy". Lục-Tích chú rằng: "Đó là đạo cuả tam-tài cực chí". Án: Cực trung vậy. Tam-cực là trung-tâm cuả thiên-điạ-nhân.

Hệ-Hạ X/1 nói: "Dịch chi vi thư dă, quảng-đại tất bị, hữu thiên-đạo yên, hữu nhân-đạo yên, hữu điạ-đạo yên. Kiêm tam-tài nhi lưỡng chi cố lục. Lục giả phi tha dă, tam-tài chi đạo dă = Kinh Dịch bao-la đầy đủ, có đạo trời, có đạo người, có đạo đất, gồm tam-tài mà nhân đôi lên, nên thành sáu, số sáu không ǵ khác hơn là đạo tam-tài cuả trời, đất và người".

Thuyết-quái-truyện II/1 nói: "Tích giả thánh-nhân chi tác Dịch dă, tương dĩ thuấn tính-mệnh chi lư. Thị dĩ lập thiên chi đạo, viết âm dữ dương; lập điạ chi đạo, viết nhu dữ cương; lập nhân chi đạo, viết nhân dữ nghiă. Kiêm tam-tài nhi lưỡng chi, cố Dịch lục hào nhi thành quái, Phân âm, phân dương, điệt dụng nhu cương, cố Dịch lục-vị nhi thành chương = Ngày xưa đức thánh-nhân làm ra kinh Dịch, là để thuận cái lẽ về tính-mệnh, cho nên dựng đạo trời là âm với dương, dựng đạo đất là cứng với mềm, dựng đạo người là nhân với nghiă. Gồm ba tài mà gấp đôi lên, cho nên ở kinh Dịch sáu vạch mà thành ra quẻ; chia ra âm và dương, cứng mềm dùng đắp đổi, cho nên kinh Dịch sáu ngôi mà thành chương". Ngu-Phiên chú rằng: "Bảo là: nhân  trời  với 3, chia đất với 2 nghiă là 3 hào cuả Kiền, và 3 hào cuả Khôn cộng lại mà thành ra số cuả 6 vạch".

Hệ-Thượng IX/2 nói: "Số đại-diển là 50". Nghiă là: Số đại-diển là 50, là số cuả tam-tài, ngũ-hành vậy.  Tam-tài là 10 can và 12 chi cuả ngày, cùng là 28 tú (10 + 12 + 28 = 50). Nhật hợp với thiên-thống, nguyệt hợp với điạ-thống, tinh chủ đẩu, đẩu hợp với nhân-thống. Cho nên nói: tam-tài, ngũ-hành là số cuả trời đất 55: thổ sinh-số là 5, thành-số là 5, 55 giảm 5 thành 50, nên 50 là số cuả ngũ-hành vậy. Hệ-Thượng X/3 nói: "Tham ngũ dĩ biến = Bầy đếm hàng ba, hàng năm cho nó biến". Hán-nhân giải 'tham ngũ' là tam-tài, ngũ-hành.

Trung-Dung (Chương XXII) nói: "Duy thiên chi thành năng tận kỳ tính. Năng tận kỳ tính tắc năng tận nhân chi tính. Năng tận nhân chi tính tắc năng tận vật chi tính. Năng tận vật chi tính, tắc khả dĩ tán thiên-điạ chi hoá dục. Khả dĩ tán thiên-điạ chi hoá dục tắc khả dĩ dữ thiên-điạ tham hỹ. = Trong thiên-hạ, chỉ có bậc chí-thành mới hiểu biết tường-tận thiên-tính. Có hiểu biết tường-tận thiên-tính mới hiểu biết hết nhân-tính. Đă hiểu biết thấu-đáo hết nhân-tính th́ mới hiểu biết thấu-đáo vật-tính. Đă hiểu biết kỹ-lưỡng vật-tính th́ có thể giúp trời đất trong việc biến-hoá sinh-dục. Đă có thể giúp trời đất trong công việc biến-hoá sinh-dục th́ có thể sánh cùng trời đất vậy".

Việt-Ngữ Phạm-Lăi nói: "Ôi nhân-sự nên cùng trời đất tương-tham rồi sau mới có thể thành-công". Vi-Chiêu nói: "Tham là tam. Thiên-điạ-nhân-sự cả ba cái hợp lại mới có thể thành đại-công".

Tả-Truyện Chiêu-Công năm thứ 11: "Tam-phần ". Mă-Dung chú rằng: "Tam-phần, ba  khí âm dương chớm sinh, là khí cuả trời, đất và người vậy".

Kiền-tạc-độ nói: "Dịch dương bắt đầu nơi một (Trịnh-Huyền chú rằng: Dịch vốn dĩ không có  thể, khí biến mà thành một, nên khí từ dưới sinh lên), phân nơi hai (trong đục phân thành lưỡng-nghi), thông nơi ba (trừ dương-khí giao, con người sinh bên trong, nên làm thành tam-tài)".

Lưu-Hâm Tam-thống-lịch nói: "Tam-thống là cương-kỷ cuả thiên thi, điạ-hoá, nhân-sự. Tháng một, Kiền sơ-cửu, dương-khí mai-phục dưới đất, bắt đầu hiện rơ thành một, muôn vật manh động, chung nơi thái-âm, nên hoàng-chung là luật thiên-thống, dài 9 tấc 9, sở dĩ cứu cực trung hoà làm nguyên cuả muôn vật vậy. Dịch nói 'Lâp thiên chi đạo viết âm dữ dương = Dựng đạo trời là âm với dương' (Thuyết-quái-truyện II/1). Tháng 6, nơi hào sơ cuả Khôn, 6 hào âm khí thụ-nhiệm nơi thái-dương, kế dưỡng hoá nhu, muôn vật sinh-trưởng tốt tươi nơi mùi-lệnh, chủng cương cường đại. Nên lâm-chung làm luật điạ-thống, dài 6 tấc 6, sở dĩ hàm dương thí nó, mậu nó, nơi nội-lệnh cuả lục-hợp, nhu có thể vậy. 'Lâp điạ chi đạo viết nhu dữ cương = Dựng đạo đất là nhu với cương' (Thuyết-quái-truyện II/1). 'Kiền tri đại-thủy, Khôn tác thành vật = Đạo Kiền cai-quản mối đầu, đạo Khôn làm thành vật' (Hệ-Thượng I/5). Tháng giêng, hào cửu-nhị quẻ Kiền, muôn vật thông suốt, chủng-loại phát xuất nơi dần, con người phụng mệnh mà thành đức nhân để nhận lấy nghiă dưỡng, để thi-hành lệnh, sự vật mỗi mỗi có ly lẽ cuả chúng. Dần là mộc, là nhân, thửa thinh là thương, là nghiă. Nên Thái-thốc là luật nhân-thống, dài 8 tấc, tượng bát-quái, họ Bí-hi dựa vào đó mà thông thần-minh cuả trời đất và phân-loại t́nh cuả muôn vật. 'Lâp nhân chi đạo viết nhân dữ nghiă = Dựng đạo đất là nhân với nghiă' (Thuyết-quái-truyện II/1). Xuân Thu Nguyên-mệnh-bao nói: 'Trời và người đồng-độ, chính-pháp tương-thụ, thùy văn tượng con người thi-hành phận-sự, gọi là dạy dỗ, dạy dỗ hữu-hiệu đó là bắt đầu cuả đạo'. 'Tại thiên thành tượng, tại điạ thành h́nh. Hậu dĩ tài thành thiên-điạ chi đạo, phụ-tướng thiên-điạ chi nghi  dĩ tá-hựu dân = Trời đất giao-cảm là Thái, nhà Vua coi đó mà gây dựng đạo trời đất, thích-ứng với trời đất để giúp đỡ dân' (Đại-tượng quẻ Thái). Đó là ba luật-lă". Ấy là tam-thống nơi tam-chính: Hoàng-chung tư là thiên-chính, Lâm-chung mùi đối-xung sửu là điạ-chính, Thái-thốc dần là nhân-chính. Tam-chính chính-thủy là lấy điạ-chính thích-ứng đầu mối, buộc chặt vào dương đông-bắc ở ngôi sửu. Thoán-truyện 4 quẻ Khôn nói: "Đông-bắc táng bằng năi chung hữu khánh = Ở phiá đông-bắc th́ mất bạn, nhưng sau có phúc". Lại nói: "Thái-cực nguyên-khí hàm tam vi nhất, cực trung, nguyên thủy dă = Nguyên-khí Thái-cực ngâm tam làm một, cực trung, nguyên thủy vậy". Mạnh Khang nói: "Nguyên-khí thủy khởi nơi tư, lúc chưa phân, trời, đất, người hỗn-hợp. Lễ Đầu-Hồ nói: làm một, nên số cuả tư độc nhất vậy".

Lại nói: "Tam-thống hợp nơi nhất nguyên". Trong Nguyên-châu Mật-ngữ, Vương-Lễ nói: "Trời, đất, người đều sinh nơi Thái-sơ".

Trong Xuân Thu Phiền-lộ Đổng-tử nói: "Thời cổ người ta tạo chữ là ba vạch, chính giữa nối liền bằng nét sổ, gọi là vương. Ba vạch là trời, đất và người, mà nối liền chính giữa là thông đạo cuả chúng. Lấy chính giữa cuả trời, đất và người, để quán mà tham-thông, không phải là bậc vương-giả ai mà làm cho được?". Thuyết-văn nói: "Ba là trời, đất và người. Mà tham-thông chúng là vua". Khổng-tử nói: "Nhất quán tam là vua". Tự-lâm nói: "Vua là trời, đất và người nhất quán. Tam là vua thiên-hạ, sở pháp vậy". Thiên Quân-tử trong Pháp-ngôn nói: "Thông thiên-điạ-nhân là vương. Thông thiên-điạ mà không thông nhân là kỹ (tài vặt)".

Lại nói: "Chỉ có nhân-đạo là thông được thiên".

Chu-Thư, Tiểu-khai-vũ nói: "Chu-Công bảo: 'Tam-cực: một là cửu-tinh trên trời, hai là cửu-châu dưới đất, ba là Tứ-Ngu cơi người' ".

Dương-tử Thái-Huyền nói: "Ôi! Huyền là thiên-đạo vậy, là điạ-đạo vậy, là nhân-đạo vậy, kiêm cả tam-đạo gọi là trời". Chú rằng: "Cả  ba thiên-điạ-nhân đều gọi là huyền, huyền là trời vậy. Nên gọi tên là thiên". Lại nói: "Đạo vua tôi, cha con, vợ chồng". Chú rằng : "Ba mối ấy là đại cương cuả nhân-luân, đều thi-hành nơi trời".

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 158

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com