www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 21

 

DỊCH-THƯ TRƯỚC-LUẬN

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 152) 
 

Phép Đọc Dịch Và Thuần-Tỳ Cuả Chư Gia

(278, tr. 89-98)

 

Phép Đọc Dịch

 

Vương-Thông nói: "Mối ưu-hoạn cuả nhà trị-dich là duyên nghiệp, luôn luôn sợ trời, thương người, cập thời và năng động khi buộc lời". Sư Huyền nói: "Xa xôi thay! Ta coi Dịch-đạo khó khăn làm sao! Tuồng như suốt ngày khá lo ngay ngáy. Lưu Huyễn hỏi về Dịch. Đáp: "Thánh-nhân xả thân vào Dịch mà thôi, huống ǵ là ta". Huyễn rằng: "Ta luận-đàm buổi sáng, yên lặng mà thành, không nói mà niềm tin c̣n tồn tại nơi đức-hạnh". Bắc-sơn Hoàng-Công giỏi nghề thuốc. Trước ăn ngủ rồi sau mới châm-cứu, bốc thuốc. Phần âm-hầu, sinh thiện-phệ. Trước phụng-sự cho người, rồi sau mới nói về quẻ. Thiệu-tử nói: "Người biết Dịch bất tất dẫn dụng giảng giải mới là biết Dịch. Lời Mạnh-tử chưa từng đề-cập Dịch, mà Dịch đă bàng bạc đó đây. Nhưng người thấy điều đó hiếm lắm. Người nào năng dùng Dịch đă là biết Dịch. Như Mạnh-tử có thể gọi là thiện-dụng Dịch". Tŕnh-tử nói: "Xem Dịch nên chú-trọng chữ thời, rồi sau mới trục-tài cuả hào. Trong một hào thường bao-hàm số, ư. Thánh-nhân thường chọn những điều quan-trọng mà viết thành lời. Trong Dịch cũng có nhiều chỗ đă nói đến nhiều. Chọn chỗ nào chưa nói đến, để đó mà tham-khảo lúc cần. Nên xem quẻ trước, đọc lời sau". Xưa nay học-giả thường có truyền-thụ như thánh-nhân viết kinh. Vốn muốn minh-đạo. Ngày nay, người ta nếu chưa hiểu nghiă-lư, không thể trị-kinh được, v́ chưa được truyền-thụ. Như Hệ-từ vốn dĩ để minh Dịch, nếu trước tiên không  cầu quái-nghiă, ắt xem không được Hệ-từ. Dịch nên mặc thức, tâm thông, hiểu đến tận cùng văn-ư. Tống-tử nói: "Đọc Dịch nên ngẫm nghĩ đến các quái hào khác lúc  chưa vạch quẻ, như thế mới thấy được nhiều quái hào tuợng-số. Đó là lối tự nhiên. Không phải như lúc làm thơ nhân phong-tục thế biến mà làm. Kinh Thư ắt nhân Đế-vương chính-sự mà làm. C̣n Kinh Dịch, lúc chưa có vật chỉ là huyền-không nói ra, đương kỳ chưa có quái hoạch ắt hồn nhiên một thái-cực. Nơi con người, ắt là lúc hỉ nộ ai lạc chưa phát ra. Một mai phát ra, ắt âm dương, cát hung, sự sự đều có ở bên trong rồi. Người tu đươc điều đó ắt trong chí tĩnh hư, thấy được đạo-lư, vạn sự sáng suả là tốt. Nếu bám chặt vào một sự thuyết, ắt tŕ trệ bất thông. Điều đó chính là cái gọi là 'Khiết tịnh tinh vi' cuả Dịch-giáo vậy. Kinh, Thư khó đọc mà Kinh Dịch lại càng khó hơn, v́ khi chưa mở quyển đă có một xố trùng-tượng  đại-khái công-phu; sau khi mở quyển, Kinh-văn bản-ư phần nhiều đă bị Tiên nho nghạnh thuyết giết chết rồi. Khiến cho người xem được ư-tứ cục-xúc, không thấy được bản lai diện mục cuả hoạt-pháp khai vật thành vụ. Dịch không giống Thi, Thư ở chỗ nói hết cả sự-lư cuả thiên-hạ hậu-thế vô cùng, vô-tận. Chỉ một hai chữ là một đạo-lư. Người ta nên kinh-lịch rất nhiều sự biến trong kinh ấy. Đọc Dịch mới biết được cái ǵ cũng có lư cuả nó. Tinh-thẩm đoan-chính nay đă kinh-lịch chưa hết. Không phải là tấm ḷng ấy đại-đoạn hư-minh ninh-tĩnh. Làm sao mà thấy? Xem Dịch nếu là dựa vào tượng mà xem ắt thú-vị lâu dài; nếu chỉ nghĩ suông, chẳng có ư-vị ǵ. Lại nói: bàn về Dịch, được thửa lư, ằt tượng-số ở bên trong. Nên là như thế. Nếu ngược ḍng mà xem, nên lui lại, trước kiếm tượng-số đương gặp, mới nói lên được lư mà không làm ẩu. Bằng không, sự việc không có thực-chứng. Ắt hư-lư dễ sai. Người đời nay đọc Dịch nên chia làm ba hạng. Xem Dịch Phục-hi, chưa có nhiều Thoán-tượng Văn-ngôn để bàn, mới thấy được bản-ư cuả Dịch, chỉ nên dùng vào việc bói Dịch. Kịp khi Văn-Vương, Chu-Công phân thành 64 quẻ, thêm vào 'Kiền: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', 'Khôn: Nguyên Hanh, Lợi tẫn mă chi trinh', đó là Văn-Vương, Chu-Công tự nói ra một loại đạo-lư. Ví phỏng bói cho người khác, nói rằng bói được quẻ Kiền th́ đại-hanh-thông mà lợi nơi chính. Kịp khi Khổng-tử Hệ Dịch, viết ra Thoán, Tượng, Văn Ngôn, ắt lấy 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' làm tứ-đức. 
 

Thuần-Tỳ Cuả Chư Gia 

Khổng Dĩnh-Đạt nói: Rồng xuất hiện nơi sông Mạnh, ắt 8 quẻ nói rơ ra nơi tượng. Kỳ-lân bị thương nơi chằm, ắt Thập Dực sáng rỡ thửa dụng. Nghiệp trải qua các thánh, thời trải qua tam-cổ tức Thượng-cổ, Trung-cổ, Hạ-cổ. Kịp khi Tần mất sáng suả, văn ấy chưa ch́m, Hán–Lư, Châu-Tương trùng-hưng nho nhă. Người được Dịch, Tây-đô ắt có Đinh (Khoan), Mạnh (Hỉ), Kinh (Pḥng), Điền (Hà). Đông-đô ắt có Tuân (Sảng), Lưu (Hướng), Mă (Dung), Trịnh (Huyền). Đại-thể, lần lượt tổ-thuật, không có ǵ là tuyệt luân. Duy Đời Ngụy có Dịch-chú cuả Vương-Bật (Phụ-Tự) độc-quán cổ kim. Sở dĩ chư nho Giang-tả đều truyền Dịch-học cuả họ Vương. Học-giả Hà-bắc khôn năng theo kịp. C̣n Giang-nam nghiă-sớ, hơn mười nhà, đều chuộng lời hư-huyễn, nghiă thường phù-đản (lông bông). Ôi! Dịch-lư nan cùng. Tuy huyền lại thêm huyền, đến nỗi đặt phạm-trù và phép-tắc, thành ra có dạy, luận trú-nội, trú-ngoại huyền không. Thành thử ra chế tác thuyết đượm mùi Phật-giáo, không phải là giáo-huấn cuả cửa Khổng. Tŕnh-tử nói: "Cái học cuả Thiệu Nghiêu-phu Tiên-sinh do Lư Đỉnh Chi truyền xuống. Đỉnh Chi lại đươc học nơi Mục Bá-Trưởng, Bá-Trưởng đươc học nơi Hoa-sơn Hi-Di Trần Đồ-Nam Tiên-sinh. Đi ngược về nguyên-lưu, xa thấy có đoan-tự. Ngày nay, lời cuả họ Lư, họ Mục, cùng là hành-trạng, có thể thấy là rất ư đại-khái, mà Tiên-sinh thuần nhất bất tạp, sâu sắc lớn lao, phần nhiều do Tiên-sinh sáng nghĩ". Doăn-Đồn nói: "Y-Xuyên Tiên-sinh hiểu thấu tất cả Kinh Dịch. Dịch-truyện cuả ông chỉ là nhân thể viết thành, đọc kỹ rất ư là thú vị". Môn-nhân cuả Chu-tử hỏi Đương-Kỳ rằng: "Ngôi cuả Dịch-quái: chấn đông, ly nam, đoài tây, khảm bắc là làm nên môt thuyết. Mười hai tích-quái phân-thuộc 12 thần, làm nên một thuyết khác. Kịp khi Tiêu Diên-Thọ lập ra phép Quái-khí trực-nhật, bèn nhập hai thuyết làm một. Đă lấy từ bát-quái, 4 quẻ chấn, ly, đoài, khảm, 24 hào mà trực bốn muà. Lại lấy 12 tích-quái trực 12 tháng. Vả chăng, lại phân 48 quẻ làm Công, Hầu, Khanh, Đại-phu, mà Thuyết 6 ngày 7 phân được lập thành. Nếu lấy 8 quẻ làm chuẩn, ắt trong 12 quẻ, quẻ Kiền không đáng làm tích-quái ở tỵ, quẻ khôn không đáng làm tích-quái ở hợi, quẻ cấn không đáng làm hầu ở thân-dậu, quẻ Tốn không đáng làm hầu ở tuất-hợi. Nếu lấy 12 quẻ làm chuẩn, ắt trong 8 quẻ, quẻ Kiền không đáng ở tây-bắc, quẻ khôn không đáng ở tây-nam, quẻ cấn không đáng ở đông-bắc, quẻ Tốn không đáng ở đông-nam. Hai thyết này nọ mâu-thuẫn nhau. Vả chăng, phân 48 quẻ làm Công, Hầu, Khanh, Đại-phu để phụ vào 12 tích-quái, không có pháp-tượng mà trực để nói ư. Vốn dĩ vô-căn-cứ, không đợi luận bỏ bớt 4 quẻ, 24 hào, mà sau đó có thể thấy chỗ thất sách".

Trong Thái-huyền, Dương-Hùng toàn-dụng phương-pháp cuả Tiêu Diên-Thọ. Thửa 81 thủ thưởng lấy 4 quẻ chấn,ly, đoài, khảm. Gần đây, Hứa-Hàn mới sửa sai. Đến như hai tán Cơ, Doanh ắt chính lấy 729 tán, lại không đủ số 60 quẻ, 6 ngày 7 phân mà thêm vào. E rằng không thể phản cứ thửa thuyết để hiệu-chính thuyết cuả họ Tiêu.

Tiên-thiên-đồ không phải là thuyết cuả ai kia mà là thuyết cuả Thiệu Khang-tiết. Chẳng phải là thuyết cuả Thiệu Khang-tiết, ắt là thuyết cuả Hi-Di. Chẳng phải là thuyết cuả Hi-Di, ắt là thuyết cuả Khổng-tử. Nhưng mà ngày đó chư nho đă mất thửa truyền, mà những phường ở phương-ngoại âm-mưu tương phó thụ để làm thuật đan-táo (Tiên-đạo). Đến đời Hi-di, Khang-tiết, bèn dội ngược về Dịch mà từ đó trở về sau mới tái-sinh. Hỏi: "Lư cuả Y-Xuyên quá nhiều chăng?". Đáp: "Y-xuyên bảo Thánh-nhân có công-dụng cuả Thánh-nhân, hiền-nhân có công-dụng cuả hiền-nhân. Nếu một hào chỉ ứng với một sự, ắt 384 hào chỉ ứng với 384 sự. Lời đó chí lư. Nên ông ấy giải-thích: nếu theo cũ là 384 hào chỉ dùng vào 384 sự việc. Thi, Thư xem qua huấn-hỗ, giải-thích văn-nghiă linh thông mà thôi. Trở lại thưởng thức bản văn, thửa đạo-lư chỉ ở bản văn, chắc chỉ thưởng ngoạn bản văn, làm sao hiểu được các chuyện khác. Nhược bằng Dịch-truyện thất thoát bản văn, th́ Tŕnh-truyện trở thành b́nh đạm, không nghiă lư ǵ".

Từ Tần-Hán đến giờ, người khảo tượng từ, câu nệ nơi thuật-số, không tóm thâu được phép 'hoằng-thông giản-dị', bàn nghiă-lư, ch́m đắm nơi không-tịch mà không thích-hợp với chỉ-quy cuả nhân-nghiă trung chính. Cầu thửa nhân thời-vị-giáo, để noi theo Tam-thánh, không giống nơi phép mà giống nơi Đạo, ắt duy chỉ có sách cuả Y-xuyên Tiên-sinh mà thôi. Lăo Tô (tức Tô-Triệt) thuyết Dịch được ở ba câu 'ưa ghét công nhau mà cát hung sinh'. Ông lấy 6 hào ấy, tuồng như người đời thù nhau, giết nhau. Hào này công hào kia, vạch này khắc vạch nọ. Không giống nhân-t́nh. Đông-Pha thấy điều nghĩ ấy quá thô-sơ, bèn thêm vào một vài tư-tưởng Phật-Lăo, thành thử ra sách mang hai dạng-thức.

Vương Ứng-Lân nói: "Người khởi-xướng lấy nghiă-lư giải Dịch là Vương-Bật. Hà-Án kém một bậc. Thanh đàm tấn diễn không phải là Vương-Bật. Phạm Ninh theo gót Vương-Bật, Hà-Án là nhầm". Tŕnh-tử khi bàn về Dịch, bảo là hiểu được nghiă ắt tượng-số ở bên trong. Chu-tử lại cho là trước t́m tượng-số sau mới nói được lư. Không đúng. Việc không có thực-chứng, ắt hư-lư dễ sai. Lấy nơi vật, Tuân-Sảng, Vương-Bật cử thửa chính-tông mà được nơi tâm. Thuyết ấy lấy Tuân-Sảng, Vương-Bật làm sở-trường. Lư Thái Phát cũng bảo là: Nhất-Hạnh hiểu rơ số mà không biết nghiă, Quản-Lộ rơ tượng mà không thông lư, bởi chưng từ thời học-thuật cuả Vương Bật, thuyết tượng-số lu mờ dần. Cho nên nghiă-lư tượng-số chỉ 'Nhất dĩ quán chi' là tận-thiện.  

          

NGHIĂ-LỆ

(278 tr. 99-121)

 

Thời: Thời là tiêu-tức doanh-hư, đại loại như Thái-Bĩ, Bác-Phục. Lại có chỉ-sự mà nói, đại loại như Tụng, Sư, Phệ-hạp, Di. Lại có lấy lư mà nói, đại loại như Phục, Khiêm, Hàm, Hằng. Lại có lấy tượng mà nói, đại loại như Tỉnh, Đỉnh. Cả 4 loại đều gọi là thời. 

Vị: Vị là trên dưới sang hèn. Vương-Bật bảo là 4 trung-hào đều có vị, c̣n sơ, thượng đều vô-vị. Tức thị bảo không phải là không có âm-dương-vị mà là không có tước-vị. Ngũ là quân-vị, tứ là cận-thần-vị. Tam tuy không phải là cận nhưng cũng là tôn-vị. Nhị tuy không như tôn-vị như tam-tứ, nhưng chính-ứng với ngũ. Bốn hào này tùy thời dụng sự, nên cũng bảo là hữu vị. Sơ thượng phần nhiều luận là thủy chung. C̣n như muốn luận thủy-chung, sơ là thủy-tiến mà chưa là người đương-sự. Thượng là kư-tiến mà là người ở ngoài sự. Nên gọi là vô-vị. Đó là nói chính-lệ. C̣n như luận biến-lệ, ắt như hào sơ của các quẻ Truân, Thái, Phục, Lâm; hào thượng cuả các quẻ Đại-hữu, Quan, Đại-súc, Di, đều đắc-thời dụng-sự, bởi v́ chúng đều là quái-chủ. Nhiều khi hào ngũ không là quân-vị, do thửa quái-nghiă c̣n giữ thần-đạo. Nên Chu-tử mới nói: thông thường có thể loại cầu, khi biến sẽ là ngoại-lệ.  

Đức: Đức cương-nhu trung chính hay bất trung-chính, Cương nhu đều có thể thiện hay bất-thiện. Lúc đáng dùng cương ắt lấy cương làm thiện. Lúc đáng dùng nhu ắt lấy nhu làm thiện. Duy trung và chính không phân-biệt thiện hay bất-thiện. Đặc-biệt là chính không giống trung ở chỗ thiện. Nên Tŕnh-tử nói: chính vi-tất trung, nhưng trung bao giờ cũng chính. Lục-hào đáng vị chưa chắc đều cát. Nhưng trung cuả nhi-ngũ phần nhiều cát. 

Ứng, Tỷ: Ứng là hai hào cuả thượng-hạ-quái đối ứng nhau. Tỷ là hai hào kề nhau tương-tỷ. Trong Dịch, chỉ có hai trựng-hợp là tối-quan-trọng: tứ và ngũ tương-tỷ, nhị và ngũ tương-ứng, bởi v́ ngũ là tôn-vị, tứ gần ngũ và đi sát theo sau ngũ, nhị xa ngũ nhưng ứng ngũ, ứng mà gần và đi sát theo sau, ắt quư nơi cung-thuận và chú tâm, nên cương không giỏi bằng nhu. Xa mà ứng, ắt quư nơi cường-nghị, hữu vi, nên nhu không giỏi bằng cương. Dịch nói: "Nhị dữ tứ đồng công nhi dị vị. Nhị đa dự, tứ đa cụ = Hào nhị và hào tứ công giống mà ngôi khác. Hào nhị th́ nhiều tiếng khen, hào tứ th́ nhiều sự sợ hăi" (Hệ-Hạ VIII/5). V́ gần vậy: Đạo nhu bất lợi khi ở xa. Điều cần là không lỗi khi dùng nhu trung. Ôi! Đạo nhu bất lợi khi ở xa, cho thấy rằng Đạo cương bất lợi khi ở gần. Cũng cho thấy rằng Đạo nhu lợi khi ở gần, Đạo cương lợi khi ở xa. Quả thực, điều này là quát-lệ cho toàn Dịch.

          Phàm tỷ với ứng tất một âm, một dương. T́nh-cảnh, ắt tương cầu mà tương đắc. Như lấy cương ứng cương, lấy nhu ứng nhu, ắt gọi là vô-ứng. Như lấy cương tỷ cương, lấy nhu tỷ nhu, ắt cũng gọi là t́nh-cảnh vô tương cầu, tương đắc.

     Từ lệ đó có thể suy ra là trong Dịch: lấy lục-tứ thừa cửu-ngũ trong 16 quẻ, đều cát. Quẻ Tỷ nói: ngoại tỷ ư hiền = Bên ngoài gần gũi với người hiền. Quẻ Tiểu-súc nói: Hữu phu dịch xuất = Có niềm tin khỏi lo. Quẻ Quan nói: Lợi dụng tân vu vương = Lợi dụng việc triều cận nhà vua. Quẻ Khảm nói: Nạp ước tự dũ = Dâng chút ḷng thành từ cửa sổ. Quẻ Gia-nhân nói: Phú gia = Làm giầu cho nhà. Quẻ Ích nói: Trung hành cáo công tùng = Như thể giữ đạo trung mà đi, bảo với ông mà thấy ông theo. Quẻ Tỉnh nói: Tỉnh thứu, vô cữu = Như thể cái giếng sửa lại, không lỗi.

Quẻ Tiệm nói: Hoặc đắc kỳ giốc = Hoặc được cái cành. Quẻ Tốn nói: Điền hoạch tam phẩm = Đi săn nơi ruộng, được ba phẩm-vật. Quẻ Hoán nói: Hoán kỳ quần, nguyên cát = Như thể tan  lià bè đảng, rất tốt. Quẻ Tiết nói: An tiết hanh = Như thể yên trí về sự dè dặt th́ hanh thông. Quẻ Trung-phu nói: Nguyệt cơ vọng = Tlăng tleo. Đều là cát-từ. Duy Truân, Nhu với Kiển, ắt theo nhau vào nơi hiểm nạn, nên nói: Văng cát = Tiến đi th́ tốt; Xuất tự huyệt = Ra khỏi hầm hố; Lai liên = Trở lại thời liên-kết. Kư- tế ắt giao-tiếp với chỗ chưa loạn, nên  nói: Chung nhật giới = Suốt ngày răn đe. Cũng đều là cát-từ.

Lấy cửu-tứ thừa lục-ngũ cũng 16 quẻ, ắt không năng đều cát, mà phần nhiều lại hung. Như Ly lục-tứ: 'Phần như, tử như, khí như = Như đốt vậy, chết vậy, bỏ đi vậy'. Như Hằng cửu-tứ: 'Điền vô cầm = Như thể đi săn mà không có chim'. Như Tấn cửu-tứ: 'Thạch-thử = Con chuột đồng'. Như Đỉnh cửu-tứ: 'Phúc công tốc = Đánh đổ đồ ăn cuả ông'. Như Chấn cửu-tứ: 'Chấn toại nệ = Bị lún trong bùn'. Đều là hung hào cả. Như Đại-hữu cửu-tứ: 'Phỉ kỳ bành = Như thể không làm ra đầy rẫy'. Như Khuê cửu-tứ: 'Khuê cô = Như thể một ḿnh không ứng-hợp với ai'. Như Giải cửu-tứ:

'Giải nhi mẫu = Như thể bỏ ngón tay cái này'. Như Quy-muội cửu-tứ: 'Khiên kỳ = Hoăn kỳ'. Như Lữ cửu-tứ: 'Ngă tâm bất khoái = Ḷng ta chẳng vui'. Như Tiểu-quá cửu-tứ: 'Văng lệ tất giới = Tiến đi th́ nguy, ắt phải răn'. Tuy không phải là hung-hào nhưng cũng không thuần cát. Duy Dự cửu-tứ, một dương mà trên dưới có ứng, Phệ-hạp cửu-tứ, một dương mà dùng chủ ngục, Phong cửu-tứ, là động chủ, để ứng nơi  minh, tráng cuả Đại-tráng, đến ngôi tứ mà cực, Vị-tế cuả Vị-tế, đến  tứ mà tế, đều  là quái-chủ. Nên được từ 'cát lợi' mà miễn bị hung cữu.

Lấy cửu-nhị ứng lục-ngũ phàm 16 quẻ, đều cát. Mông cửu-nhị: 'Tử khắc gia = Con quản-trị được việc nhà', Sư cửu-nhị: 'Tại sư trung = Như ở trong quân', Thái cửu-nhị: 'Đắc thượng vu trung hàng = Không thiên-vị bè đảng, th́ hợp với đạo trung hảng', Đại-hữu cửu-nhị: 'Đại xa dĩ tái = Như thể cái xe lớn để chở',  Cổ cửu-nhị: 'Cán mẫu chi cổ nhi đắc trung-đạo = Như thể sửa trị được việc đổ nát cuả mẹ mà được trung-đạo', Lâm cửu-nhị: 'Hàm  lâm, cát vô bất lợi = Cảm ứng mà tốt, chẳng ǵ là không lợi ',  Hằng cửu-nhị: Hối vong = Như thể hối-hận mất đi', Đại-tráng cửu-nhị 'Trinh cát = Như  thể chính th́ tốt', Khuê cửu-nhị: 'Ngộ chủ vu hạng = Như thể gặp chủ ở ngơ hẹp', Giải cửu-nhị: 'Đắc hoàng thỉ = Được mũi tên bằng vàng', Tổn cửu-nhị:

'Phất tổn Ích chi = Đừng thay đổi lập trường là có ích đấy', Thăng cửu-nhị: 'Lợi dụng thược = Dùng ngày lễ xuân th́ lợi', Đỉnh cửu-nhị: 'Đỉnh hữu thực = Như thể vạc có đồ ăn', đều là lời tốt. Duy Đại-súc cửu-nhị: 'Dư thoát phúc = Như thể chiếc xe sút trục', ắt thời đáng ngừng vậy. Quy-muội cửu-nhị: 'Lợi u nhân chi trinh = Giữ điều chính cuả người u-ẩn th́ lợi', ắt thời đáng giữ vậy. Vị-tế cửu-nhị: 'Duệ kỳ luân, trinh cát = Như thể kéo bánh xe lại, chính th́ tốt', ắt thời nên chờ. Cũng không phải là hung-từ.

Lấy lục-nhị ứng cửu-ngũ cũng 16 quẻ, ắt không năng đều cát, mà hung lận cũng có. Như Bĩ lục-nhị: 'Bao thừa = Như thể bao dung sự vâng thuận'. Như Đồng-nhân lục-nhị: 'Vu tông = Như thể v́ đảng-phái mà cùng chung với người'. Như Tùy lục-nhị: 'Hệ tiểu-tử thất trượng-phu = Ràng buộc với lũ tiểu-tử th́ mất kẻ trượng-phu'. Như Quan lục-nhị: 'Khuy quan khả xú = Ḍm xem, đáng xấu hổ'. Như Hàm lục-nhị: 'Hàm kỳ ph́, hung = Như thể cảm được cái bắp quả th́ xấu'. Đều chẳng phải là cát-từ. Như Truân lục-nhị: 'Truân như chiên như = Như thể gian truân vậy'. Như Độn lục-nhị: 'Dụng hoàng ngưu chi cách = Như dùng da con ḅ vàng'. Như Kiển lục-nhị: 'Vương thần kiển kiển, phỉ cung chi cố = Kẻ vuơng-thần, kiển nạn rồi lại kiển nạn, nhưng không phải cái cớ cuả ḿnh'. Như Kư-tế lục-nhị: 'Phụ táng kỳ phất, vật trục = Như người đàn-bà đánh mất cái màn xe, đừng đuổi theo', ắt để tao-thời kiển nạn mà làm rơ rệt tiết trinh-thuận cuả ḿnh vậy'. Duy Tỷ lục-nhị: 'Tỷ chi tự nội = Như thể từ trong mà gần gũi ra ngoài', Vô-vơng lục-nhị: 'Lợi hữu du văng = Có tiến đi th́ lợi', Gia-nhân lục-nhị: 'Tại trung qũy, trinh cát = Như thể không cầu thoả măn ở chốn xa xôi', Ích lục-nhị: 'Vĩnh trinh cát = Chính bền th́ tốt', Tụy lục-nhị: 'Dẫn cát, vô cữu = Như thể dẫn nhau đến tụ họp th́ tốt, không lỗi', Cách lục-nhị: 'Dĩ nhật năi cách chi, chinh cát = Như thể hết ngày th́ biến đổi được, chinh-phục th́ tốt', Tiệm lục-nhị: 'Ẩm thực khản khản, cát = Ăn uống vui tốt', đều là thời thích-đáng, trên dưới hợp đức, nên hào-từ đều tốt. Chính là cái Dịch gọi là 'Kỳ yếu vô-cữu, kỳ dụng nhu trung giả tín = Cái cốt yếu th́ không lỗi, sự dùng th́ nhu trung là tin được' (Hạ-Hệ IX/5).

Ngoài hào nhị và hào ngũ ra c̣n có ứng; ngoài hào tứ và hào nhị ra c̣n có tỷ, mà thửa nghiă không quan-trọng bằng ứng ngũ, thừa ngũ.

          Nói về ứng, hào tứ với hào sơ thường lấy nghiă tương-ứng, tam với thượng lấy nghiă ứng rất ít. Tại sao vậy? Tứ là ngôi đại-thần. Ở ngôi này có nghiă là bầy tôi thờ vua. Nên ắt lấy hiền đức người dưới mà tự-trợ, nên mới lấy nghiă tương-ứng. Hào thượng ở ngoài sự việc, mà hạ-ứng với người đuơng sự, ắt mất tiết thanh cao. Hào tam cư thần-vị, mà vượt ngũ để ứng thượng, ắt mất ḷng 'chớ thờ hai người'. Nên mới bất-tương-ứng. Song le, tứ ứng sơ cát chỉ đúng cho lục-tứ ứng sơ-cửu. Bỏi chưng, sơ-cửu là hiền cương đức mà lục-tứ có cái đẹp cuả thiện-hạ. Nên như 'Cầu hôn cấu = Không phải là giặc cướp mà là người muốn kết thân' cuả hai quẻ Truân và Bí, 'Hổ thị đam đam = Mắt hổ nh́n chằm chằm' cuả quẻ Di, 'Sử suyền hữu hỉ = Khiến cho đi mau, có vui mừng' cuả quẻ Tổn, đều cát. Nếu cửu-tứ ứng sơ-lục, ắt phản lại: lấy hạ-giao tiểu-nhân làm lụy. Giống hệt trường-hợp cuả Đại-quá tiểu-tượng (Bất nạo hồ hạ = Chẳng v́ cong ở dưới), Giải (Giải nhi mẫu = Cởi bỏ cái ngón tay cái này), và Đỉnh (Chiết túc = Vạc gẫy chân).

       Nói về Tỷ, duy có hào ngũ với hào thượng là lấy nghiă tương-tỷ. Các hào c̣n lại lấy nghiă tỷ rất ít. Tại sao vậy? Ngũ là quân-vị tối tôn, mà năng ở dưới thượng, ắt v́ chuộng hiền. Song le, duy chỉ có lục-ngũ gặp thượng-cửu là lấy nghiă đó. Bởi chưng, thượng-cửu là người hiền cao-thế, mà lục-ngũ chủ hư-trung. Nên như lục-ngũ, thượng-cửu cuả Đại-hữu, Đại-súc, Khổng-tử tán rằng: 'Thượng hiền'. Lục-ngũ, thượng-cửu cuả Di-Đỉnh, Khổng-tử tán rằng: 'dưỡng hiền'. Hào từ đều tối cát. Nếu lấy cửu-ngũ so sánh với thượng-lục, ắt thấy chí tôn sủng ái tiểu-nhân, rây lụy. Như 'Lăo phụ đắc kỳ sĩ-phu = Bà già lấy được trai tráng' cuả Đại-quá cửu-ngũ, 'Chí yếu kém' cuả Hàm, 'Nghiến lục = Sơn-dương sừng nhỏ' cuả Quyết, 'Phu vu bác = Tin vào sự vui, làm cho dương bị tan vỡ' cuả Đoài, đều thuộc vào trường-hợp ấy. Duy có hào cửu-ngũ quẻ Tùy ở dưới thượng lục là lấy nghiă ấy, quái-nghiă cương lại ở dưới nhu tương-tỷ hoặc sợ hăm nơi bẳng đảng, thất-thế cuả tỷ-chu. Nên thửa nghiă không được quư trọng.

     Các điều nêu trên là thường-lệ. Nếu hào nào lại là quái-chủ, ắt quần hào đều muốn tỷ-ứng với, để tạo ra cát hung, trừ phi ngôi ngũ làm quái-chủ. Như Dự, tứ là quái-chủ, ắt sơ 'Minh = Gáy rộn' mà tam 'Hu = Ngó bề trên mà đam mê'. Bác thượng-cửu làm quái-chủ, ắt tam 'Vô-cữu = Không lỗi' mà ngũ 'Vô bất lợi = Không ǵ là chẳng lợi'. Phục sơ-cửu làm quái-chủ, ắt nhị 'Há nhân = Theo điều nhân' mà tứ 'Độc phục = Một ḿnh ḿnh biết trở lại'. Quyết thượng-cửu làm quái-chủ, ắt tam 'Tráng vu cưu = Mạnh ở nét mặt' mà ngũ 'Nghiến lục = Sơn-dương sừng nhỏ'. Cấu sơ-lục làm quái-chủ, ắt nhị 'Bao hữu ngư = Bọc có cá' mà tứ 'Bao vô ngư = Bọc không có cá'. Gia dĩ đại-nghiă cuả Dịch không thể tầm thường được khi luận tỷ-ứng. 

Chuyên-Từ Giản-Yếu: Nghiên-cứu Kinh Dịch cần hiểu thuật-ngữ (278, tr. 26-27). Nguyên là bắt đầu, Hanh là thông, Lợi là hoà, Trinh là chính. Chi, Văng là đi qua, Lai là đi lại, như lời Thoán quẻ Thái nói: 'Tiểu văng, đại lai = cái nhỏ đi, cái lớn lại'. Ứng: hào sơ ứng hào tứ (Lời Thoán quẻ Tiểu-súc nói: 'Nhu đắc vị nhi thượng hạ ứng chi viết tiểu-súc = Mềm được ngôi mà trên dưới đều ứng với ḿnh, nên gọi là tiểu-súc', v́ hào sơ dương ứng với hào tứ âm), hào nhị ứng Hào Ngũ (Lời Thoán quẻ Sư: 'Cương trung nhi ứng = Cứng hợp với đạo trung, mà có người hưởng-ứng', v́ hào nhị dương ứng với hào ngũ âm), hào tam ứng hào thượng (Lời Thoán quẻ Hằng:

'Cương nhu giai ứng, Hằng = Cứng mềm cùng ứng, là đạo thường', v́ hào tứ dương ứng với hào sơ âm). cát: âm dương tương nhu 相需 (âm-dương cần lẫn nhau), cát khi dương là chính-vị tức dương cư dương-vị (Vd: Hào-từ Lục-ngũ quẻ Mông nói: Đồng mông, cát, v́ hào cửu-ngũ dương cư dương-vị ), c̣n hung khi âm khắc dương (Hào-từ sơ-lục quẻ Sư G nói: 'Sư xuất dĩ luật, phủ  tang, hung = Xuất-quân phải có kỷ-luật, bằng không khéo sẽ xấu'). Đắc: hào nhị và hào ngũ tương-đắc, Vd: Hào-từ cửu-nhị quẻ giải nói: 'Điền hoạch tam hồ đắc hoàng-thỉ = Đi săn, bắn đươc ba con cáo, lại được mũi tên vàng', bởi v́ hào nhị dương tương-đắc với hào ngũ cũng dương.

Trung-hành: trung trực (ngay chính giữa) = hào nhị và hào ngũ chính, Vd: Hào-từ lục-tứ quẻ Phục nói: 'Trung hành độc phục = Cùng đi ở trong với dân-chúng mà một ḿnh biết trở lại', bởi chưng hai hào nhị-ngũ đều chính: hào nhị vốn dĩ chính, c̣n hào ngũ biến-động thành dương nên chính. Trung-phú: hào dương ở ngôi nhị-ngũ, Vd: Hào-từ cửu-ngũ quẻ Tiểu-súc I nói: 'Hữu phu luyến như, phú dĩ kỳ lân = có ḷng tin-tưởng, quyến-luyến bền chặt vậy, giầu có với cả xóm làng', nhờ hào dương ở ngôi ngũ. Hữu phu: hào nhị và hào ngũ ứng nhau. Táng: hào nhị và hào ngũ thất-vị. Hư, Bất-Phú: hào âm ở ngôi nhị-ngũ, Vd: Hào-từ lục-tứ quẻ Thái Knói: 'Phiên phiên bất phú, dĩ kỳ lân, bất giới dĩ phu = Hớn hở vậy, không giầu mà

cũng có làng xóm theo, không giới-lệnh mà mọi người cũng tin', là v́ âm vốn dĩ phải ở dưới mà bây giờ lại ở trên là thiếu thành-thực. Thừa : hào ở trên, Vd: Hào-từ lục-nhị và thượng-lục quẻ Truân đều có đậu 'Thừa mă ban như' là bởi v́ hai hào âm lục-nhị và thương-lục lại ở trên hai hào dương. Thừa : hào ở dưới, Vd: Hào-từ lục-nhị quẻ Bĩ Lnói: 'Bao thừa', bởi v́ hào nhị ở dưới vâng mệnh hào ngũ ở trên.

Văng: đi tới, hào ở nội-quái đi ra ngoại-quái, Vd: Thoán-từ quẻ Bĩ nói: 'Đại văng, tiểu lai = Cái lớn đi, cái nhỏ lại' là v́ hào dương ở ngoại-quái, c̣n hào âm ở nội- quái.

Lai: đi lại, hào ở ngoại-quái đi vào nội-quái. Chí, Giả: Hai hào cuả quẻ này thông với hai hào cuả quẻ kia. Hối: sửa lỗi, Vd Hào-từ lục-tam quẻ Dự Pnói: 'Hu dự hối, tŕ hữu hối = Ngó bề trên mà say mê, là có hối-hận, hối-hận mà sửa lỗi muộn màng, lại càng hối-hận' bởi v́ ngôi chẳng đáng (âm  cư dương-vị). Lận: tật nhỏ, Vd: Hào-từ lục-tam quẻ Truân Cnói: 'Tức lộc vô ngu, duy nhập vô lâm trung, quân-tử cơ bất như xả, văng lận = Đi săn, đuổi con hươu mà không có người dẫn đường, th́ chỉ đi sâu vào rừng. Người quân-tử thấy cơ sự th́ chỉ có bỏ đi thôi; bằng cứ đi tới nữa th́ sẽ hối tiếc'. Bao: Hai hào âm bao một hào dương, hoặc hai hào dương bao một hào âm, Vd: 'Bao mông, cát = Bao dung ấy được trẻ thơ, tốt', bởi v́ hào nhị, đươc hai hào âm bao quanh, lấy đức dương làm chủ nội-quái. Nguyệt cơ vọng: khảm-ly tương-đối: Vd: 96 (I  E) 545 (v   f) 614 (} J). Lợi thiệp đại-xuyên: không có hiểm-trở, Vd: Trong lời Thoán các quẻ Nhu, Đồng-nhân, Cổ, Đại-súc, Di, Ích, Hoán, Trung-phu, Vị-tế đều có đậu 'Lơi thiệp đại-xuyên = Vượt qua sông lớn' v́ trong thượng-hạ-quái các quẻ này vắng bóng  quẻ khảm. Hiểm nạn: chỉ quẻ khảm, Vd: Thoán-truyện quẻ  Truân nói: 'Cương nhu thủy giao nhi nạn sinh = cứng mềm mới giao nhau mà hoạn-nạn đă sinh ra', hào âm và hào dương giao-chiến trong cả thượng-quái lẫn hạ-quái, nên hoạn-nạn (thượng-quái khảm là hoạn-nạn) sinh ra. Tường : chỉ quẻ đoài, Vd: Hào-từ thượng-cửu quẻ Tiểu-súc nói:

'Thị lư khảo tường = Xem cách ăn ở để xét điều lành', v́ thượng-quái quẻ Tiểu-súc là đoài. Cơ-tử: chỉ quẻ chấn ' Hào-từ lục-ngũ quẻ Minh-di nói: Cơ-tử chi Minh-di chấn là Cơ-tử (= hài-tử v́ phục chấn). Văn-Vương: chỉ quẻ Thái (Dưới kiền là Vương, trên khôn là Văn) Vd: Thoán-truyện quẻ điạ-hoả Minh-di nói: 'Văn-Vương dĩ chi = Văn-Vương có thể gánh vác cái nạn lớn', bởi v́ (xem quái-chủ quẻ Minh-di bên duới) hai hào nhị-ngũ đều mang minh-đức trung-thuận mà chống lại tối tăm, nên đáng làm quái-chủ. Cao-tông: Kiền ở thượng-quái, Vd: Hào cửu-tam quẻ Kư-tế nói:

Cao-Tông phạt quỷ-phương tam-tứ h́nh chấn là Đế, là chủ (vua chuá): tam-tứ nguyên  lai chỉ là thiếu-âm ; nhưng nhờ ở vị-trí thứ hai trong tam-tài, nên thêm một hào âm nữa mà thành chấn '. Kiến: chỉ quẻ ly là mắt, Vd: Kiền cửu-nhị:= Hiện long tại điền, lợi kiến đại-nhân, bởi v́ Kiền động hào nhị, hạ-quái biến thành ly. Hữu du văng: bảo là động mà thành Kư-tế, Vd: N: hào-từ cửu-nhị quẻ này nói: Đại-xa dĩ tải, hữu du văng, bởi v́ hào nhị đông sẽ biến thành Vị-tế   là thác-quái cuả Kư-tế . Chung, Cùng, Miếu: chỉ hào thượng: Tiểu-tượng hào thượng-lục quẻ Tùy nói: 'Câu hệ chi, thượng cùng dă = Ràng buộc lấy, là theo đến cùng vậy'.

Đại-nhân: chỉ hai hào nhị-ngũ, Vd: Hào-từ cửu-nhị quẻ Kiền nói: 'Hiện long tại điền, lợi kiến đại-nhân', bởi v́ háo nhị ứng với hào ngũ. Câu hệ: chỉ một hào không chi ứng. Vd: 176 (Q  j): hào thượng âm cuả quẻ Tùy không chi ứng hào nhị cuả quẻ Ích cũng âm, cho nên hào-từ thượng-lục quẻ Tùy mới nói: 'Câu hệ chi = Ràng buộc lấy'.

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 154

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com