www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 21

 

DỊCH-THƯ TRƯỚC-LUẬN

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 151) 
 

3) Chu-Dịch Xiển-chân , do Thê-vân-sơn Tố-phác Tán-nhân Ngộ-nguyên-tử Lưu-Nhất-Minh thể-thuật, Tân-văn-phong, Đài-Bắc, 1995.    

          Sách được chia làm 3 phần:  

a) Giải-thích các Dịch-đồ: Cổ Hà-đồ, Cổ-Lạc-thư, Âm-dương, Ngũ-hành, Tiên-thiên, Hậu-thiên, Ngũ-nguyên (Tính, T́nh, Thần, Tinh, Khí), Ngũ-đức (Nhân, Nghiă, Lễ, Trí, Tín), các loại viên-đồ và phương-đồ, Hỗn-thành-đồ, Kết-đan-đồ (tr. 108), Hoàn-hư-đồ, Tạo-hoá-đồ, Biến-hoá-đồ, Kim-Mộc Giao-tinh-đồ, Khảm Ly Điên-đảo đồ, Kiền/Khôn Điên-đảo đồ, Giải thoát Bản-diện-đồ v.v. Định-nghiă và giải nghiă các chuyên-từ: Đỉnh-lư (Kiền-Khôn), Dược-vật (Khảm-Ly), Hoả-hậu (60 Quẻ c̣n lại), Tiến-Dương-Hoả, Vận-Âm-phù. Có luyện cho Thần hoàn-hư, đả-phá chân-không, thoát khỏi chân-thân tiến đến cảnh 'H́nh Thần câu diệu' mới kể là đạt cảnh hợp-chân với Đạo.

b) Giải-thích tinh-thần, biến-hoá, cơ-vận cuả từng quẻ để mà dùng trong việc bói toán, luyện-đan và tu-đạo.

c) Suy-diễn Dịch-đạo cuả Khổng-tử qua 'Đại-tượng-truyện' và 'Tạp-quái-truyện'. Dịch-Đạo cuả Ngài chính là Đạo Ngài đă đề-cập trong Luận-ngữ qua hai câu quen thuộc: ' 道﹐夕 矣。Triêu văn Đạo, tịch tử khả hỹ' (Ban sáng nghe Đạo, ban chiều chết cũng được rồi) (Luận-Ngữ, IV/8) và ' 之。Ngô Đạo nhất dĩ quán chi' (Đạo ta chỉ có một lẽ để thông suốt tất cả) (Luận-Ngữ, IV/15).         

Họ Lưu cũng là tác-giả cuốn "Tham-đồng-khế Trực-chỉ" trong đó ông chú-thích kỹ càng tác-phẩm cuả Ngụy-Bá-Dương .  

Ai cũng biết chí cuả Đức Khổng-tử lập tại Kinh Xuân-Thu. Nhưng ít ai biết chân-chỉ cuả Kinh này yết-thị nơi nao? Chính là ở hai tiếng 'thủ-vỹ' cuả 'Tạp-quái-truyện' vậy. Tôi dùng thống-kê và đồ-biểu mà phân-tích Truyện chót mà cũng là Truyện quan-trọng nhất trong 10 Truyện. Ta có thể coi Biểu-đồ 'Tạp-quái-truyện' như Toàn-đồ (Hologram) cho Toàn-Kinh: mỗi quẻ là tâm-ảnh và hàm-lư cho toàn-thể 64 quẻ. Ôi! Tŕnh-tử, Chu-tử và cả Tư-mă Quang nữa, không hiểu ư Chân-Đại-Thánh Trọng-Ni, đă táo gan sửa lại trật-tự cố-hữu và chân-thiện-mỹ cuả 8 quẻ cuối Truyện là: Đại-quá, Cấu, Tiệm, Di, Kư-tế, Quy-muội, Vi-tế, Quyết, lập thành một ẩn-đối-xứng (hidden symmetry) cho 64 quẻ Dịch.

Câu kết Tạp-quái-truyện nói: "Quân-tử Đạo trưởng, tiểu-nhân Đạo ưu dă. 君子道長, 也。(Đạo quân-tử tăng-trưởng; đạo tiểu-nhân âu lo vậy".  

Dịch-đạo bao quát Âm|Dương, Nhu|Cương, Thuận|Kiện, Lương-năng|Lương-tri thuộc Tính|Mệnh. Đó là thiên-bẩm của con người. Một khi giao-tiếp với hậu-thiên chân biến thành giả, muốn phục-hồi thiên-chân cần noi theo tiên-thiên nghịch-vận. Thật vậy, dịch-lư không ngoài cương nhu hỗn-hoà, tri năng nhập thần, hữu vô bất lập, âm dương nghịch-vận.  

4) Chu-Dịch Thiền-giải , Đại-thiền-sư Ngẫu-Ích Thích Trí-Húc (1599-1655) trước, Tân-văn-phong, Đài-Bắc, nhất-bản, năm 1994. 

Sau bài tựa rất ư là Thiền viết năm 1641, tác-giả dẫn-dắt độc giả vào cuốn Thượng-Kinh Vạn-cổ bất-biến này và chứng-minh là nhất-thiết quái hào tuy giao-dịch, biến-dịch đấy, tựu kỳ trung bất biến tùy duyên. Lĩnh-vực cuả Dịch là Tứ-tất-đàn 悉檀 (siddhānta) tức: Thế-giới Tất-đàn (vũ-trụ-quan, thế-giới-quan), Các các vi nhân Tất-đàn (nhân-sinh-quan), Đối-trị Tất-đàn (luận-lư-quan) và Đệ-nhất-nghiă Tất-đàn (đạo-tâm-quan). Trong mỗi quẻ, mỗi hào, tác-giả bao giờ cũng lần lượt nói lên quan-điểm cuả phật-pháp, cuả thế-đạo và cuả nhất thiết những ai quan-tâm đến nhân-quần, xă-hội. Sau Chính-Kinh, đại-sư thông Nho này mới bàn đến Truyện. Và Ngài đă giải-toả được điều tôi vẫn ấm-ức bấy lâu nay. Số là Tống-Nho Âu-dương Tu, trong 'Dịch Đồng-tử Vấn' (338, Tập Thượng, tr. 105-112), là người đầu tiên nêu lên nghi-vấn Đức Khổng-tử không phải là tác-giả 'Thập Dực' tức 10 Truyện. Cho nên ở cuối 'Thuyết-quái' sau khi ngợi khen Nhất-thiết chư-pháp y-chính nhân-quả cũng như văn-chương thác-tổng biến-hoá cuả Truyện này, Ngài mới kết-luận: “Thủ-bút cuả Chân-thánh-nhân, Tử-Hạ làm sao mượn nổi một chữ vậy. Hủ-nho Âu-Dương lại nghi không phải do Thánh-nhân làm ra. Hẹp ḥi thay! Hẹp ḥi thay!" Khi luận về số cuả Hà-đồ Ngài có viết: "Thế-gian lấy 1 làm thủy, lấy 10 làm chung. Hoa-nghiêm lấy 10 biểu-đạt vô-tận. Mới hay thủy-chung không nẩy ra từ một Tâm, một hạt bụi (lân-hư trần) hay một sát-na vậy”. Chung quy, Ngài cho rằng một giờ, một khắc, một cổ kim cũng chỉ là 64 quẻ. Nếu hướng về các quẻ mà ngộ, lo ǵ chẳng vào được Pháp-giới Hoa-Nghiêm sự sự vô-ngại. 

Năm 1998, Sa-môn Thích Vĩnh Định 釋定đă nối chí Ngài mà viết ra sách Dịch Quái Tâm-Giải 易卦心解 (414), dùng Thiền giải Dịch qua 9 quẻ: Kiền A, Khôn B, Truân C, Mông D, Nhu E, Sư G, Phục X, Vô Vơng Y và Đại-Súc Z

Mặt khác, cận-nhân Phan Vũ Đ́nh潘雨廷(1925-1991) đă dùng Dịch giải Thiền: ông chứng-minh được là Dịch bao trùm Hoa Nghiêm Tụng tức thị nghiệm đúng định-lư Bolzano Weierstrass; Hà-đồ là  đồ-biểu chính tắc của Thập-phương Ngũ-thập-tam Tham của Hoa Nghiêm; Lạc-thư liên-quán với Cửu-hội, Thất-xứ của Kinh Hoa Nghiêm; ta biết rằng Cửu-hội của Hoa Nghiêm kết thúc nơi Ngũ-thập-tam Tham của Đồng-tử Thiện Tài, chứng-nhập pháp-giới, đốn tiệm viên-dung, quy hồi nơi mười đại-hạnh-nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền v.v. Xin tham-duyệt sách Dịch Dữ Phật Giáo, Dịch Dữ Lăo Trang 易與佛教,易與老 của ông, do Liêu-ninh Giáo-dục Xuất-bản-xă xuất-bản.  

        5) Dịch Thông Biến 易通變, Nhất-bản, Tống Trương Hành-Thành 張行成 soạn, in Thuật-số Tùng-thư #6 (tr. 204-368) & #7 (tr. 1-367), Tân-văn-phong, Đài bắc, Tháng 4-1995.

Dịch Thông Biến (40 Q.) chủ-yếu ghi lại các suy-diễn cuả tác-giả về Dịch-học, giải-thích sách HCKT cuả Thiệu-tử. Tác-giả lấy 14 Tiên-thiên Quái-số-đồ cuả Thiệu-tử, phụ vào Diễn-nghiă cuả chính ḿnh (317) mà thông-biến, nên sách này mới có tựa đề 'Dịch Thông Biến'. Trên  thực-tế, lấy số diễn Dịch bắt gốc từ Hán-nho, nhưng mà Mạnh-Hỉ Dịch nói về 6 ngày 7/10, Kinh-Pḥng Dịch nói về phi-phục, nạp-giáp, Phí-Trực Dịch nói về thừa-thừa, tỷ-ứng, Ngụy Bá-Dương làm ra sách Tham-Đồng-Khế, dùng Dịch để xiển-minh đan-quyết, thời đó bàn-luận tới phương-vị cuả giáp, nhâm, ất, quư, Dịch-vỹ cũng thuyết-minh, đông-chí nhật ở khảm, xuân-phân nhật ở chấn, hạ-chí nhật ở ly, thu-phân nhật ở đoài. 'Dịch Thông Biến', tiến thêm một bước, nghiệm ra rằng: kiền tại tây-bắc chủ lập-đông, khảm tại chính-bắc chủ đông-chí, cấn tại đông-bắc chủ lập-xuân, chấn tại chính-đông chủ xuân-phân, tốn tại đông-nam chủ lập-hạ, ly tại chính-nam chủ hạ-chí, khôn tại tây-nam chủ lập-thu, đoài tại chính-tây chủ thu-phân. Phương-vị đến đó quả là phi-thường hoàn-chỉnh. Mười bốn đồ cuả Thiệu-tử lấy  2 đồ Giao Thái, Kư-tế làm chủ, mà hai đố ấy lại lấy quái-khí làm gốc, tham-ngũ thác-tổng, tiến lên mà làm Nguyên-Hội-Vận-Thế, để suy ra bĩ-thái cuả Vận-Thế, thịnh-suy cuả nhân-vật. Tác-giả lại c̣n suy ra cả trọng-khối cuả tạng-phủ con người nữa (sic).

Lấy dịch-số suy ra trọng-khối cuả nội-tạng con người, là do mệnh-đề 'Cận thủ chư thân = Gần lấy nơi nhân-thân'. Sau đó, tác-giả biểu-dương lực-lượng kiến-văn, nên xin miễn chép vào đây.

Cuối sách có 15 đồ-biểu rất có ích khi duyệt-độc Sách, bao gồm: Hữu-cực-đồ Phân-lưỡng-đồ Giao-thái-đồ Kư-tế-đồ Quải-nhất-đồ Tứ-tượng Vận-hành-đồ Bát-quái Biến-hoá-đồ Hà-đồ Lạc-thư dữ Tiên-thiên Hợp-nhất-đồ Thái-cực Lục-biến Phản-sinh-đồ Nguyên-khí Ngũ-biến Tương-giao-đồ Bát Chính Quái Đồ Thâp-lục Quái Giao-bất Giao Đồ Kiền-Khôn Thập-lục-quái Đồ Hữu-hành Tứ-thập-bát Đồ Tả-hành Ngũ-thập-lục-quái Đồ. 

6) Chu Dịch Tập-giải Toản-sớ , Lư Đỉnh Tộ đời Đường tập-giải, An-lục Lư Đạo B́nh đời Thanh toản-sớ, Quảng-văn thư-cục tái-bản, Đài-bắc, tháng 6-1989. 

Căn-cứ vào hai câu trong Hệ-từ-truyện: “ Thánh-nhân thiết quái quan tượng” (Thánh-nhân đặt ra quẻ và xem tượng,Thượng Hệ II/1) và “ Cực kỳ số toại định thiên-hạ chi tượng” (Đếm đến cùng cực để định tượng cuả thiên-hạ, Thượng Hệ X/3), ông nhận-định rằng không thể tảo-tượng như Vương Bật được. V́ thế, ông tổng-hợp dịch-thuyết cuả các Thanh nho mà toản-sớ sách cuả Lư Đỉnh Tộ. Ông tham-bác 3 cuốn sách: "Chu Dịch Thuật ", "Dịch-lệ " và "Dịch Hán-học " cuả Huệ Đống và nhất là 10 sách dịch-học cuả Trương Huệ Ngôn , gồm có 6 sách thượng dẫn về dịch-thuyết cuả Ngu Phiên và 4 cuốn: "Dịch-vỹ Lược-nghiă , Chu Dịch Trịnh-thị Nghiă , Chu Dịch Tuân-thị Cửu-gia Nghiă và Dịch-nghiă Biệt-lục . Ông dày công vừa điều-thích sách cuả Lư Đỉnh Tộ, vừa tập-thành tượng-số-học cuả chư nho. Sách này rất tiện-lợi và đắc-lực trong việc nghiên-cứu văn-từ Kinh Dịch, về cả hai mặt nghĩa-lư lẫn tượng-số. 

7) Chu Dịch Chỉ周易指, Thanh-điền Đoan-mộc Quốc-Hồ soạn, Tân-văn-phong biên-tập-bộ biên-tập, nhất bản, Đài-bắc, tháng 7-1995.

 Sách gồm một quyển thủ về Dịch-lệ, 38 quyển cho Thượng Hạ Kinh và Thập Dực, 5 quyển Dịch-đồ và một quyển Dịch Đoán-từ, tổng cộng 45 quyển. Cuối sách c̣n phụ thêm 5 thiên nói về văng-lai-quái, bát-quái thế-vị, quái-hậu, lục nhật thất phân của 60 khí-quái và dật -tượng. 

  Quyển Dịch-lệ gồm 31 điều-lệ chuyên dùng Dịch giải Dịch: Tiên-thiên (tr. 17-18) và Hậu-thiên bát-quái (tr. 18-19); Kiền tṛn Khôn vuông, trùng-quái một đi một lại; Dịch Đạo thủ vỹ nhất quán, khôn vuông lại mà duỗi, Kiền tṛn đi mà lại co;  Đạo lục-hào tam-tài của Dịch; nội ngoại-quái thường noi theo trong thẳng ngoài vuông của Khôn, Kiền tṛn lớn chỉ phụ họa theo mà thôi; các quẻ đơn đối mùa nhau; 64 biệt-quái đều do Khôn vuông Kiền tṛn tạo ra; phép bát-quái tương đăng (Thượng/Hạ); lục hào tương-tạp; mỗi quẻ lục hào tạp-vật soạn đức, biện thị phi; nguyên thủy yếu chung dĩ vi chất; quái-biến; quái loại (Thượng/Hạ); phản phục; mệnh-quái; thanh-ứng quái (Thượng/Hạ); thủy chung, hữu vô; phân-loại lời buộc vào sáu hào; các hào trùng cương giới pḥng được đa dự, đa công; sáu hào qua lại tám phương (Thượng/Hạ); tượng cáo t́nh ngôn; bát-quái lục tương ứng; chữ nghĩa Kinh Dịch; quẻ Cấn đơn vừa là chung thủy của vạn-vật vừa dùng chuôi sao bắc-đẩu để chỉ bốn mùa; thịnh-t́nh của Thánh-nhân hiển hiện trong Thâp-dực (Thượng/Hạ); Dịch huấn-hỗ.

Khôn vuông lại mà duỗi, Kiền tṛn đi mà co nên Kiền đi, Khôn lại, Truân đi Mông lại v.v. Đi lại khôn cùng gọi là thông. Sáu hào của Dịch bố-trí trong Trời tṛn, Đất vuông: tây-bắc là Kiền Trời, tây-nam là Khôn Đất, đông-bắc là Cấn Người (Đại-diện cho Động-thực-vật và vạn-vật) và luôn thể biểu-tượng sao bắc-đẩu mà chuôi chỉ hướng bốn mùa qua 12 cung điạ-bàn); đông-nam là Tốn Mộc (đại-diện cho thực-vật). Đông-bắc Kiền tṛn là Kim, mà theo thiên "Hồng-phạm " trong Kinh Thư: "Kim viết tùng cách 金曰 " (Kim là theo đổi). Suy diễn như thế đến Kiền là cách-tân, ấy là 384 hào đều có phương-vị nhất-định. Trong số 12 giờ một ngày, Kiền tṛn di-động, Khôn vuông lập nên, tượng Trời Đất h́nh thành sau đó vạn-vật mới sinh sôi nẩy nở: có vũ-trụ mới có toàn-đẳng (congruence) "Thiên Điạ Vạn-vật đồng nhất thể  ” (Trời, đất và muôn vật cùng một thể), thu gọn về “Thiên Nhân tương-hợp " (Trời với người  hợp với nhau). Nên sau mới có số đếm: Trời 1 Đất 2, Trời 3 Đất 4 … Trời 9 Đất 10. Có lẻ, có chẵn, có âm, có dương, có Thiên Điạ định vị, Sơn Trạch thông-khí, Lôi Phong tương bạc, Thủy Hỏa bất tương dịch, bát-quái tương đăng”. Sau đó Kiền là trời, Khôn là đất h́nh thành, trời cao đất thấp, rồi suy-diễn từ quẻ trên, quẻ dưới, có thác-quái có tạp-quái, có biện có bác, nên 64 quẻ mới ẩn-hàm thiên-tượng cát hung hưu cữu và đạo cảm-ứng, đối-ứng.

Từ Dịch-lệ suy ra mỗi quẻ đều có Mệnh-quái, hệ-quái và thanh-ứng-quái. Chẳng hạn, quẻ Kiền có mệnh-quái Khiêm, Khiêm hệ (buộc) Lư, Kiền thanh-ứng với 3 quẻ Khôn Bác Thái. Từ tứ-đức Nguyên Hanh Lợi Trinh cuả Kiền, tác-giả giải-thích hiện-tượng trời đất sinh sinh hóa hóa ra muôn vật, sau đó mới cắt nghĩa đạo lư "Rồng ẩn chớ dùng" và "Lợi kiến đại-nhân". Quyển II giải-thích văn-ư Văn-ngôn: Nguyên là trưởng thiện, Hanh là hội gia, Lợi là ḥa nghĩa, Trinh là cán sự v.v. Quyển III nói về quẻ Khôn. Tác-giả nhận thấy rằng có Trời Đất rồi mới có Vạn-vật, vũ-trụ biến hoá, Kiền biến Khôn, Phục biến Khôn, Sư biến Khôn, Dự biến Khôn, Tỷ biến Khôn, Bác biến Khôn, Kiền động, Khôn tĩnh, biến hóa khôn lường suốt 64 quẻ. 

Năm quyển Dịch-đồ bắt đầu bằng 2 thiên-văn-đồ và 7 Dịch-đồ thích nghĩa cuả: “Dich hữu Thái-cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ-tượng, tứ tượng sinh bát-quái”. (Hệ Thượng, Ch. 11, Tiết 5 & 6). Kế đến là hàng loạt Dịch-đồ cắt nghĩa Thập Dực cũng như bản kinh. 

H́nh 21.02 Lục-Hào Định-Vị Đồ 

Đây là sáu hào cuả 'thiên-điạ định vị': bên trên th́ có 'sơn trạch thông khí', bên dưới th́ có 'lôi phong tương bạc', chính giữa th́ có  'thủy hoả bất tương dịch', là đủ cả 'tam-cực'. Nhị-sơ là hai điạ-hào, điạ-cực, lôi-phong Hằng, thiên-điạ hạ-cực, lập tâm hằng, khôn điạ-cực, lập bất dịch phương. Đó là do nhị-sơ chấn-tốn gây dựng nên. Ngũ-thượng là thiên-hào, thiên-cực, sơn-trạch Tổn, bầu trời rất tṛn (bên phải chữ tổn có chữ viên nghiă là tṛn). Kiền vô-hằng, vô-phương. Chính giữa có nhật-nguyệt-đẩu tam nhân hành, Kiền cực 'dữ thời giai hành', là nhờ hào cấn-đoài cuả  ngũ-thượng vậy. Tứ-tam nhân-hào cực, thủy-hoả Kư-tế. Trong trời đất con người đầu đội trời, chân đạp đất, sơ chung thủ vỹ tục chung, ở giữa nhân-cực kiêm tam-tài, nhân đôi, định trên dưới, là nhờ trung-cực tứ-tam khảm-ly vậy. Lục-hào tam-cực, lập thiên-điạ nam-bắc cư phương. Lục-hào biện vật, biện đẳng. Kiền-Khôn thống-lĩnh 64 quẻ, cuối cùng đi xuống khảm bắc-cực. Sơ khó biết mà cũng không biết được cực vậy. Đó chính là Đạo cuả Dịch cư phương thượng-hạ lục-hào tam-cực vậy. 

8) Chu Dịch Chiết Trung, Đại-học-sĩ Lư Quang Điạ toản, Tào Thăng tham-hiệu, Chân Thiện mỹ tái-bản, Đài Bắc, 1981.  

ch này được dùng làm để-bản cho bản Đức-dịch cuả Richard Wilhelm.Theo sách, Tiên-thiên Bát-quái được dùng làm gốc rễ cho Tự-quái-truyện, c̣n Hậu-thiên Bát-quái được dùng làm gốc rễ cho Tạp-quái-truyện. Ta có thể tóm lược như sau: 

1)    Tự-quái-truyện: Trong Tự-quái-truyện, hai quẻ liên-tiếp đối nhau (phản -quái). Trong Bát-quái Tiên- thiên Tứ chính-quái (Kiền, Khôn, Khảm, Ly), lật qua, lật lại không đổi, c̣n  tứ-ngung-quái (Chấn, Tốn, Cấn, Đoài), lật qua, lật lại hẳn đổi. Đôi khi, lật qua, lật lại Biệt-quái, thượng-thể biến thành hạ-thể, như trong 12 quẻ: Nhu/Tụng, Sư/Tỷ, Thái/Bĩ, Đồng-nhân/Đại-hữu, Tấn/Minh-di, Kư-tế/Vị-tế. Lật qua, lật lại mà hai thể đều đổi cả, có 32 quẻ,từ Truân/Mông đến Hoán/Tiết. Tám quẻ c̣n lại, lật qua, lật lại đều không đổi. 

2)    Tạp-quái-truyện: 56 quẻ đầu cũng phản-đối từng đôi một. Tám quẻ cuối cùng dàn xếp đặc-biệt một cách ngoạn-mục như ta thấy trong bài 97 (H́nh 7.29: Tuần-hoàn Hỗ-quái II). 

Dưới đây là hai dịch-đồ tân-kỳ cuả Hồ-Vạn để cắt nghiă sự h́nh thành cuả tám quẻ chót cuả Tạp-quái-truyện, phá lệ phản-quái cuả 56 quẻ đầu Truyện.   

H́nh 21.03 Tuần-Hoàn Hỗ-Quái-Đồ I

 

CƯỚC-CHÚ
 

Sáu hào cuả quẻ Đại-quá (H́nh 21.03), chính-quái tả-triền, hỗ-quái hữu-chuyển : từ sơ đến tứ là Cấu, từ thượng đến tam là Tiệm, từ ngũ đến nhị là Di, từ tứ đến sơ là Quy-muội, từ tam đến thượng là Quyết, từ nhị đến ngũ là Kiền.

Nói khác đi, lập quẻ từ sơ lên thượng; đọc quẻ từ thượng xuống sơ. Tinh-ba cuả Kư-tế là các hào dương cuả Kiền; tinh-ba cuả Vị-tế là các hào âm cuả Khôn.

 

H́nh 21.04 Tuần-Hoàn Hỗ-Quái-Đồ II

 

CƯỚC-CHÚ

Trong phép này (H́nh 21.04), ngoại trừ Khôn không dùng, lấy tốn khởi đầu, lấy đoài kết-thúc, khúc giữa khảm-ly qua lại, kiền tả, đoài hữu, tốn hợp Đại-quá, kiền-tốn hợp Cấu, tốn-cấn hợp Tiệm, cấn-chấn hợp Di, chấn-đoài hợp Quy-muội, đoài-kiền hợp Quyết. Mặt khác, tốn-cấn-chấn-đoài, chính giữa có khảm-ly, nên dưới Di có Kư-tế, dưới Quy-muội, có Vị-tế. Đồ này có thấy trong sách  Chu-Dịch Biến-thông-giải 通解 cuả Vạn Dụ Vân 萬裕澐 Đời Thanh-mạt.

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 153

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com