www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 21

 

DỊCH-THƯ TRƯỚC-LUẬN

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 150) 
 

Cần nhắc lại là Hi-di Tiên-sinh là khai-tổ cuả Hoa-âm-sơn Dịch-phái. Nhị-tổ là Bá-trưởng Mục-Tu , Tam-tổ là Minh-dật Trùng-Phóng , tứ-tổ là Đỉnh chi Lư Chi Tài , c̣n ngũ-tổ chính là Thiệu Ung (1011-77), tự Nghiêu-phu, thụy Khang-tiết, ta quen gọi là Thiệu-tử. Tiên-sinh là tác-giả của Hoàng Cực Kinh Thế Thư, Quan-vật Nội-ngoại-thiên, Ngư Tiều Vấn Đối và Kích Nhưỡng Tập.  

2) Dịch-Nhất-quán cuả Thanh-nho Lă-Điều-Dương 調 , người Bành-huyện, Tân-văn-phong, Đài-Bắc, sơ-bản, tháng 10-1979. 

Đầu sách ông thuật lại thánh-hiền học Dich ra làm sao, chính ông đọc Dịch ra làm sao (Xem bên dưới), rồi mới lập-thuyết cho các Dịch-đồ và cơ-chế (processes) duy-biến cốt-yếu.  


 H́nh 21.01   Nhật Nguyệt Xuất-nhập-đồ 

Hồi-tưởng lại thuở tôi (Việt Chi) học Đệ-nhất Ban Toán (Math. Elem.), giờ Thiên-văn (Cosmographie), ông thầy thường dùng hai chữ p (premier) với bề lơm quay sang trái và d (dernier) với bề lơm quay sang phải để giúp chúng ta phân-biệt Thượng, Hạ-huyền khi ta ngắm trăng ban đêm. Giờ đây chúng ta mới hiểu nghiă đậu "Đại minh thái thủy " là ǵ.

Có người hỏi tác-giả: Thánh-nhân khi làm ra Dịch, đă lấy 16 Quẻ nêu trên để phối-trí với Nhật Nguyệt ở Tứ-Trọng (Tư, Ngọ, Măo, Dậu), ta (tác-giả) lại c̣n thêm "Thuyết Mọc, Lặn" để làm ǵ? Đáp: Bất cứ sự việc ǵ đâu có phải chỉ có một mối. Như Quẻ Cách (q), ở Tiên-thiên là “Thủy Hoả tương-tức ” (Thuỷ Hoả sinh lẫn nhau); ở Ngũ-hành là Chính-thu; ở Ngày Đêm là chiều hôm; trong một năm là Ngày Thu-phân; với 12 tháng là một ngày cuối Đông. Một quẻ mà năm nghiă gồm đủ. Nếu chỉ nệ một góc, làm sao hiểu hết uyên-áo cuả Dịch.

        Trước khi cắt nghiă chính-kinh, tác-giả đă tuần-tự thích-nghiă Hệ-từ-truyện, Thuyết-quái-truyện, Tự-quái-truyện và Tạp-quái-truyện. Đọc đến đây, độc-giả đă đủ hành-trang để mạnh bưóc trên 'Đường Vào Kinh Dịch'. Cũng như các văn-bản khác, sách này chính-kinh hoà lẫn với Văn-ngôn, Thoán-truyện, Đại-tượng-truyện và Tiểu-tượng-truyện với chú-thích vắn tắt nhưng đầy-đủ.

 

Tổng-Thuyết Thánh-Hiền Học Dịch

(297, tr. 5-10)

        Bào-Hi làm ra Dịch Đại-Đạo. Quyền-dư lịch-đạo thánh-hiền, chưa từng có ai không vụ xiển-minh dịch-lư. Thánh-hiền học Dịch, lư tức vạn-thù-đạo. Duy-nhất quán là 50 cuả Hà-đồ, c̣n quẻ là Hằng. Tịch nhiên bất-động quán là 3-8 cuả Hà-đồ, c̣n quẻ là Thái. Thông là ky 'nhất dĩ quán chi', ắt là 1-6 cuả Hà-đồ, c̣n quẻ là Hàm. Điều đó chính cái ta gọi là 'Chung thủy cuả sự vật, đạo thẩm-sát trời đất mà tạo đầu mối cho vợ chồng'. Tính-mệnh gọi là tính (Trung Dung I). Tính không hề bất-nhất. Nhất là chí-thiện tức thành. tức đức cuả tính, tức bản-tâm cố-hữu mà mọi người đều đầy đủ. Cho nên tận-tâm tức là biết tính chí-thành, tức là năng tận tính. Thánh-nhân đă thấy 'lư nhất quán'. Thửa cảm-thông thuộc động, thửa tịch nhiên thuộc tĩnh. Cho nên lấy thân tâm mà nói, ắt hàm là tồn-hàm, là tư-lự phát thái. Thửa thái đều trung. Lấy cá-nhân mà nói, hằng là tu đức, hàm là thi-giáo, thái là hoá-hành. Hằng là thâm, là mặc mà thành, là tồn-tồn, là tĩnh-chuyên, tĩnh-hợp, là tàng mật, là thuyết-tâm, là uyên-tuyền, là ẩn-vi, là thận-độc, là chí-thành vô tức, là bất-nhị không thôi, là thuần, là cửu, là nội-tỉnh không đau ḷng, là bất-động mà kính, không nói mà tin, là bất hiển, là tư-duệ, là thành-ư, là cơ-quan cuả tâm, là không nghĩ bậy, là năng tĩnh năng an, là tự tin, là thao-tồn, là quả dục, là tồn tâm dưỡng tính, là trực dưỡng, là nghi ngờ nơi tâm, là bế-tắc, là sung-thực, là duy-tinh duy nhất, là vừa lâm vừa bảo hàm, là ky, là lự, là gắng gỏi, là tri chí chí chi, là thành ắt h́nh, là thời suất, là vi, là phát, là chớ quên, chớ trợ trưởng thái, là đạo, là thần, là h́nh ắt rơ, rơ ắt sáng, là trúng-tiết, là lự mà được, là hoá, là khí khốc liệt, là trung, là chính, là đại-bản cuả thiên-hạ, là phản thân mà thành, là tự-đắc, là chính-kỷ, là cư dị sĩ mệnh, là 'chỉ ư chí-thiện', là có lâm, có dung, là dựng cực, là chấp trung, là đốc cung, là thường-hằng đức đó, là lâu bền nơi thửa đạo-hàm, là thứ, là chăm chăm, là tri hoá, là thấy mà dân chẳng ai là không kính (Trung Dung 31), nói mà dân chẳng ai là không tin, thi-hành mà dân chẳng ai là không vui, là đi xa từ gần, lên cao từ thấp, là hư, là thụ nhân, là cảm nhận-tâm, là tập giáo-sự thái, là thành bất khả yểm, là động ắt biến, biến ắt hoá, làlo nghĩ xa xôi, là thanh-danh mênh mông tràn đầy, là kinh-luân, là thiên-hạ b́nh. Các điều đó phát ra từ ta. Tu đạo gọi là dạy bảo. Nguồn gốc con người là ta, nguồn gốc ta là tâm ta. Cho nên đại-học lấy thành-ư làm cực, trung-dung lấy thời-trung lập gốc. Như vậy Đạo Trời Đất có xuân ắt có thu, có nhân ắt có nghiă.
 

Tổng-Thuyết Xem Dịch

(297, 10-12)       

Tất cả lư cuả thiên-hạ nằm trọn trong Hà-đồ. Tất cả lư cuả Hà-đồ nằm trọn trong trung. Trung dùng hai đầu tả-hữu mà tận-lư. Tại con người Trung. Suy cho một quốc-gia, ắt nhà là trung. Đối với thiên-hạ, nước là trung. Đối với tứ-hải, ắt Trung-hoa là trung. Các điều đó đều do lư cuả 50. Tả-hữu là nơi con người. Nơi Đạo, ắt tả là nhân, hữu là nghiă. Tả là tri, là lạc, hữu là lễ. Nơi đức, ắt tả là thiện, hữu là ác, tả là lư, hữu là dục, tả là thành thật, hữu là giả-dối, tả là đạo-tâm, hữu là nhân-tâm. Nơi dụng-t́nh, tả là t́nh thương, hữu là tính, là kính-trọng, tả là thân yêu, hữu là tôn-trọng, tả là tốt, hữu là xấu, tả là mừng, hữu là vui, tả là giận, hữu là buồn. Nơi làm người, tả là cát, hữu là hung, tả là nhân, hữu là nhẫn, tả là trí, hữu là ngu, tả là hiền,

là người quân-tử, hữu là không giống ai, kẻ là tiểu-nhân. Nơi trị-đạo, tả là đức, hữu là lễ, là là chính-trị, hữu là h́nh-luật, tả là minh-đức, là mệnh có đức, hữu là thận phạt, là trị kẻ có tội, tả là hoà trên dưới, là lấy đức nhân mà thương yêu người, hữu là cho sang hèn b́nh-đẳng, là dùng nghĩ để sửa trị người khác. Nơi mệnh, tả là đạt, hữu là cùng, tả là lạc, hữu là bó buộc, tả là sống, hữu là chết, tả là giầu sang, là an-lạc, hữu là nghèo hèn, là ưu-hoạn. Nơi thời-vận, tả là trị, hữu là loạn, tả là an, hữu là nguy, tả là c̣n, hữu là mất, tả là hữu-đạo, hữu là vô-đạo. Các điều đó đều là thể cuả tả-hữu, 3-8, 9-4. Cổ-thánh-hiền được nó mà tâm phát ra lời. Gánh vác văn nơi lục-nghệ để thủ tiên đăi hậu vậy.

 

Hiền-Nhân Đọc Dịch

(297, 13-24) 

          Dịch là sách cùng lư tận tính mà không biết lời, ắt không năng đạt lư, không cầu nơi tượng, ắt không năng hiểu lời. Nên hiểu tượng là điều-kiện tiên-quyết để nhập-môn đọc dịch.

          Tiên nho bàn về tượng, Lai Tri Đức tối thiết thực, là lời thường lấy từ Thuyết-quái-truyện mà suy cầu. Do có ăn năn, bất miễn du di. Như cấn là núi, hai vạch dưới cùng là g̣ đống, là tay, vạch trên cùng là vai, đoài hai vạch dưới cùng là em gái, vạch trên cùng là thiếp, tốn vạch dưới cùng là hang, khảm vạch trên cùng là thân ḿnh. Các loại ấy nên tế ư phân-biệt.

          Nói tượng mà không biết phép biến-động cuả dịch, tượng sẽ du di. Cái gọi là động là cứng mềm cùng đắp đổi, là chi-quái, là thác-quái. Trong một quẻ, 6 thác-quái, bốn chi quái, từ xưa đă biết đến. Lai Tri Đức là người đầu tiên đề-cập. Cái gọi là biến là trên dưới vô-thường, là tham-ngũ với tổng. Tham là cách ba ngôi mà biến  sáu hào, đều có đi qua, ngũ là cách 5 ngôi mà biến. Chỉ có 2 hào sơ-thượng là hợp cách. Tổng ắt nhị thể một xuất, một nhập, một trên, một dưới là hợp cách. Điều đó họ Lai chưa có nói đến, hoặc nói đến nhưng nhầm lẫn.

          Chi-quái với tham-ngũ thác-tổng (Hệ-Thượng X/3), là một hào có thể tận-biến, không phải là một hào tận ngôn. Chính là:

Chi là hai vạch đổi trao (swap bit),
Tham là trao đổi ứng hào cách ba.

Nên dịch-từ duy tựu cát hung tối thậm, tối thiết, là cái gọi là biến-động để lợi ngôn.

Chẳng nên dùng làm điển-yếu, chỉ biết biến-hoá bằng thích (Hạ-Hệ VIII/1). Chi-quái như là Chấn sơ-cửu động Dự nói rằng: cười nói ha hả, cát. Dự là vui (Tạp-quái-truyện), nên bảo rằng cười. Kiền là nói. Hạ-thể cuả Dự là khôn thác kiền, là cười mà không thấy thửa lời, nên nói ha hả vậy. Dự sơ-lục động biến ra Chấn nên hào-từ rằng: Minh Dự, hung. Chấn là thiện-minh. Hằng cửu-tam động biến ra Giải nên hào-từ Hằng cửu-tam mới nói rằng: "Như thể không giữ được cái đức cuả ḿnh, có khi bị xấu hổ". Trung-hào cuả Hằng là kiền nghiă là đức, động biến ra Giải cửu-nhị, thành khảm nghiă là xấu hổ. Hàm cửu-tứ động biến ra Kiển nên hào-từ Hàm lục-tứ mới nói rằng: "Theo cái ư nghĩ cuả nhà ngươi thôi". Hàm trung-hào là ba dương là bằng, động biến ra Kiển, tam-ngũ đều thành khảm là tâm-tư. Kỳ dư có thể loại-suy. 'Tham dĩ biến' tỷ như Mông cửu-nhị đi qua ngũ biến thành Quan nói rằng: "Nạp phụ, cát = Dung-nạp người đàn bà th́ tốt". Tốn là trưởng-nữ, là đàn bà, là nhập ( nạp). Mông sơ-lục mà hào-từ là "Lợi dụng h́nh-nhân = Dùng vào việc h́nh-pháp th́ có lợi" [Lợi dụng h́nh nhân tức Lợi dụng ngục], động mà đi qua tứ, biến thành Phệ-hạp, nên lời Thoán quẻ này bảo: "Lợi dụng ngục = Dùng vào việc ngục th́ tốt". Phệ-hạp thượng-cửu, đi xuống tam biến thành Kư-tế, động mà thành Truân, nên hào-từ thượng-củu Phệ-hạp mới bảo: "Hà hiệu diệt nhĩ, hung = Như thể vác lấy cái cùm, bị đứt tai, th́ xấu". Truân, thượng-quái là khảm là 'chất cốc = gông cùm', ở trung-hào cấn nên là trên vai, nên nói: Hà hiệu = Như thể vác cái cùm, trên vai". Kư-tế trung-hào khảm là tai, động biến thành Truân không thấy tai, hoá ra là tai bị lưỡi gông cùm cắt mất rồi. Tiểu-tượng-truyện hào thượng-lục Phệ-hạp bảo: "Thông bất minh dă = Bị đứt tai, nên nghe chẳng rơ vậy". Kư-tế nhi-tứ đều là ly là sáng, động biến thành Truân không c̣n là ly vậy. Kỳ dư có thể loại suy. 'Ngũ dĩ biến' tỷ như Tấn thượng-cửu đi xuống cư sơ thành Truân, nên Truân Thoán bảo rằng: "Khang-hầu", tức 'Lợi kiến hầu' cuả Truân, nên hào-từ thượng-cửu cuả Tấn mới nói: "Duy dụng phạt ấp = Chỉ dùng để đánh cái ấp cuả ḿnh", duy là lưới, biến thành Truân chấn-động là phạt, khôn là quốc, là ấp. Tiệm thượng-cửu, đi xuống cư sơ, là Phệ-hạp động mà biến thành Tấn, nên tiểu-tượng-từ thượng-cửu quẻ Tiệm mới bảo: "Kỳ vũ khả dụng vi nghi = Lông nó có thể dùng làm đồ trang-điểm, tốt". Hai hào âm dưới cùng cuả Tiệm tượng lông, biến thành Tấn, ắt ba hào âm là nghi. Kỳ dư có thể loại-suy. Tổng là trao đổi hai thể, tỷ như thủy-lôi Truân tổng lôi-thủy Giải, ắt thượng-lục cư tam, nên hào-từ thượng-lục Truân mới bảo: "Khấp huyết liên như = Khóc đau đớn, nưóc mắt máu chẩy ṛng ră". Giải trung-hào ly là mắt, nhị-tứ đều là khảm, là nước, là máu nên mới có tượng ṛng ră. Phong-lôi Ích thượng-cửu tổng lôi-phong Hằng, động biến thành lôi-thủy Giải, nên

hào-từ Ích thượng-cửu mới bảo: "Mạc Ích chi, hoặc kích chi, lập tâm vật hằng, hung = Như thể đừng ích thêm nữa, có khi phải đánh đuổi nó đi, dựng tấm ḷng chẳng thường, xấu". 'Hoặc kích chi' tức 'Trí khấu chí', 'Lập tâm vật hằng' tức Bất Hằng kỳ đức'. Kỳ dư có thể loại suy.

          Thác là hào dương biến thành hào âm, hào âm biến thành hào dương. Tỷ  như Mông thượng-quái thác Khốn lục-tứ, nên hào-từ lục-tứ quẻ Mông mới bảo: "Khốn Mông lận". Hoán trung-hào tam-ngũ thác Đỉnh lục-tứ, nên hào-từ Hoán lục-tứ mới bảo: "Hoán kỳ quần, nguyên cát". Hào-từ cửu-ngũ quẻ Hoán bảo: "Hoán vương cư, vô cữu", tức 'Nguyên cát' cuả Đỉnh với lại 'Chính vị ngưng mệnh' (Đại-tượng quẻ Đỉnh). Tiểu-súc trung-hào tam-ngũ thác Khuể, nên hào-từ Tiểu-súc cửu-tam mới bảo: "Dư thoát phúc, phu thê phản mục = Xe sút trục, vợ chồng hục hặc", tức nghiă cuả Khuê vậy. Kỳ dư có thể loại suy.

Tham-ngũ thác-tổng, không cứ giới-hạn quanh bản hào. Như Hàm cửu-tứ 'tham dĩ biến'Tùy cửu-tam, nên hào-từ Hàm cửu-tam mới bảo: "Chấp kỳ tùy", nghiă là giữ tứ lại khiến không cho biến, bởi chưng biến, ắt tam cư tứ-vị, có thu hoạch mà hung. Khốn cửu-tứ 'tham dĩ biến' Kư-tế cửu-ngũ, th́ hào-từ Kư-tế cửu-ngũ nói rằng: "Thược tế, thực thụ kỳ phúc = Tế mọn thực chiụ được phúc", trong khi Khốn cửu-nhị nói rằng: "Lợi dụng hưởng-tự = Lợi về việc thừa hưởng tế lễ", nghiă là 'thược tế' ắt 'thụ phúc'. Đỉnh sơ-lục 'tham dĩ biến' Đại-súc trung-hào, được đoài làm thiếp, được cả con bảo rằng: "Đắc thiếp dĩ kỳ tử" (Đỉnh sơ-lục), nghiă là thượng-cửu động biến thành Thái. Tỷ sơ-lục nói rằng: "Chung lai hữu tha, cát = Sau lại có thêm điều tốt nữa". Thượng-lục 'Ngũ dĩ biến' Bác, ắt sơ cư nhị động biến thành Mông. Tụng thượng-cửu nói rằng: "Hoặc tích chi bàn đái = Như thể thắng kiện, được ban cho đai lớn", bởi v́ sơ lục 'Ngũ dĩ biến' Cách, ắt thượng cư ngũ là kiền thể, nghiă là quần áo, ṿng đai. Khảm thượng-quái thác Vị-tế, hào-từ Khảm cửu-nhị bảo rằng: "Cầu tiểu đắc = Cầu việc nhỏ th́ được". Tỉnh cửu-tam, động biến thành Khảm, thượng-quái cũng thác Vị-tế, bảo rằng: "Cầu vương minh", nghiă là cầu ngũ. Vô-vơng sơ-cửu, động biến thành Bĩ, tổng Thái, lục-nhị nói rằng: "Bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lợi hữu du văng = Như thể chẳng cây bừa, chẳng gặt hái, có tiến đi th́ lợi", nóí là nhị bất động chờ sơ động, ắt có thể cùng biến. Thái sơ-cửu, động tốn là cỏ cây um tùm, là hoang, nhị động Minh-di trung hào khảm thủy là hà, tổng Tấn cư ngũ ắt ở ngoài sông, là 'bằng hà', bảo rằng: "Bằng hà", nói là chỉ sơ, không khiến động. Động ắt tổng Bác. Kỳ dư, bản hào nói đến sự việc cuả hào khác, không cứ như thế mới có thể làm tất cả biến cuả thiên-hạ. 

          Lai Tri Đức lấy phản-đối làm tổng là ngộ-giải. Nhưng mà hào-từ cũng có khi lấy từ phản-đối. Tỷ như Cấn lục-nhị động thành Cổ, nói rằng: "Bất chửng kỳ tùy = Chẳng cứu được cái đi theo" (Cấn lục-nhị), bởi chưng Cổ là phản-đối cuả Tùy. Độn lục-nhị 'tham dĩ biến' Đỉnh, nói rằng: "Chấp chi dụng hoàng ngưu chi cách", v́ Đỉnh là phản-đối cuả cách. Đỉnh sơ-lục 'tham dĩ biến' Đại-súc, ắt thượng cửu động biến thành Thái, nên nói rằng: "Lợi xuất Bĩ", v́ Thái là phản-đối cuả Bĩ. Đó là nghiă cuả Tự-quái-truyện. 

          Cái động cuả thiên-hạ trinh cố nơi nhất, nên Dịch trung-biến-động. Phàm được Hàm-Hằng-Thái đều là cát, đó là cái gọi là nhân nhị mà tế dân-hạnh, để mà được báo cuả minh-phu. Nghiă là được nhất ắt cát, mất nhất ắt hung.

          Thánh-nhân đặt quy-tắc cho Đồ vẽ vạch cuả quẻ, vốn dĩ quẻ 6 vạch có trước. Nên nói 'thiết', nói 'lập', nói 'buộc lời' mà mệnh danh là Thái, là Tấn, là Tụng, là Truân-Mông, Cách-Đỉnh. Bèn viết sách, định ngôi, phân thành hai thể,làm quẻ 3 vạch, bèn có tên Kiền, Khôn, Khảm, Ly, Chấn, Tốn, Cấn, Đoài. Tiên-nho nhân đó mà chồng lên, bảo rằng bát-quái là do Phục-hy vẽ ra, 64 quẻ là hậu-thánh chồng lên. Điều này sai vạy.

          Lầm lẫn cuả tiên-nho khi thuyết Dịch không ǵ tệ bằng khi nói đến Thái-cực, lưỡng-nghi, tứ-tượng, bát-quái. Gọi âm-dương lúc chưa chia lià là thái-cực,một lẻ, một chẵn là âm-dương, thêm vào nhau ắt là tứ-tượng, lại thêm vào nhau ắt là bát-quái mà Khổng-tử có nói 'bát-quái định cát hung', thử hỏi quẻ nào cát, quẻ nào hung? Nay cầu nơi 64 quẻ, đều có lư sinh trời, sinh đất, sinh người, sinh vật, mà thực-tế là Đạo Kiền thành con trai, Đạo Khôn thành con gái. Điều đó tuồng như lời phải trái.    

          Tiên-nho noi theo cựu-thuyết, phàm sự ǵ chưa nói ra không thể tin được. Như nguồn gốc cuả 5, 10 sinh thành, cảm cuả 1-6, thông cuả 3-8 đều là sinh, 2-7-4-9 đều là thành. Cựu-thuyết bèn chuyên theo ngũ-hành nói rằng nội-số là sinh, ngoại-

số là thành. Không biết là thuỷ hoả có lư tương-tức, tương-sinh. Lại như trong Định-vị-đồ, tại hiên thành tượng, nơi con người là đầu, bụng, tai, mắt; trong Ngũ-hành-đồ là tại điạ thành h́nh, nơi con người là tim, thận, gan, phổi. Trước sau trời gồm đầy đủ cả cha con, tổ tôn. Cựu-thuyết bèn lấy Định-vị-đồ làm Phục-hi Tiên-thiên bát-quái,

Ngũ-hành-đồ làm Văn-vương Hậu-thiên bát-quái. Lại như, tứ-tượng là pháp-tượng trời đất, huyền-tượng nhật-nguyệt.  Bốn quẻ Kiền, Khôn, Khảm, Ly cựu-thuyết bèn cho thuộc về Lăo-âm, lăo-dương, thiếu-âm, thiếu-dương,  lăo là hai lẻ, hai chẵn, thiếu ắt là trên lẻ chẵn thêm một chẵn, một lẻ. Cái đó thành quái-thể nào? C̣n về bói cỏ thi th́ lấy 4x9, 4x6 làm lăo-dương, lăo-âm, 4x7, 4x8 làm thiếu-dương, thiếu-âm. C̣n ai biết 7 không phải là số dương, 8 không phải là số âm? Biến-hoá cuả trời đất, vận-động cuả bốn muà, mà làm dương tĩnh, mà làm âm động, ắt âm dương đều động. V́ vật sinh ra tĩnh, ắt âm dương đều tĩnh, là vật thành, ắt thuyết sinh âm sinh dương chưa hiểu được. Lại như Kiền 9, Khôn 1, Ly 3, Khảm 7, Đoài 4, Cấn 6, Tốn 2, Chấn 8, ấy là số tự nhiên cuả trời đất, đều ở trong Lạc-thư. Mà Tống-nho bèn có thuyết Kiền 1, Khôn 8, tất cả đều làm diệu-ngữ tam-thập-cung. Điều đó lại càng sai lầm.

          Trong Hà-đồ, 3-8 tượng Thái, quẻ đó đă có nội ngoại; 5-10 tượng Hằng, quẻ đó đă có trung-hào. Số 3 đến 7, số 8 đến 2, cách nhau 3 vị là gốc cuả 'tham'. Số 3 đến 9, số 8 đến 4, cách nhau 5 vị là gốc cuả 'ngũ'. 3-8, 4-9 Thái-Bĩ đối đăi, là gốc cuả 'thác'. Hai thể, một xuất, một nhập là gốc cuả 'tổng'.

          Trịnh Khang-Thành Dịch cho là phục-quái là cả 6 hào đều thác, nhưng mà không thể giải được thoán-hào-từ. Ngu-Phiên Dịch cho là phi tức hai hào 2-5 'tham dĩ biến'. Nhưng mà không biết cả 6 hào đều có thể 'tham'.

          Dịch hào-từ chỉ có hai quẻ Kiền-Khôn nói nhiều về lư, không lư ǵ đến phép 'Tham-Ngũ Thác-Tổng' cả, để phân-biệt cái dụng cuả nhân-tâm, đạo-tâm, để minh-hiển thiên-cơ nguy-vi.

          Lư cuả bốn thánh-nhân tóm gọn trong một đạo là đều lấy dương làm thiện, âm làm ác, dương làm đức, âm là dục. Nội duơng ngoại âm là thành vi, là kỷ, là đạo cuả người quân-tử, càng ngày càng sáng rỡ một cách sâu kín. Nội âm ngoại dương là ngụy vi, là người, là đạo cuả kẻ tiểu-nhân càng ngày càng tiêu-vong một cách chắc chắn. Học-giả nên nhận-định chữ thành, cáng đáng hạ-thủ tố-pháp, không một niệm tự-khi, môt khắc dung túng, tức thị căn-cơ nên thánh, thực-tại cùng lư tận-tính.

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 152

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com