www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 21

 

DỊCH-THƯ TRƯỚC-LUẬN

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 149) 
 

Theo học-giả Kinh-huyện Hồ Phác An (1878-1947) , người đă từng giảng Dịch tại Đai-học 'Quốc-dân' hồi Nhật-bản xâm lăng Trung-quốc, từ xưa đến đầu Đệ-nhị Thế-chiến, có già 2000 bộ Kinh Dịch đủ loại. Ông đă tàng-trữ được hơn 400 bộ, đọc qua được khoảng ba phần tư, tế-độc 57 bộ, có điểm son và soạn đề-yếu. Quả là một kỳ-công thiên-cổ. 

Nay tôi xin tuyển lựa mười quyển Dịch-thư hay nhất trong tủ sách gia-đ́nh để giới-thiệu nội-dung cùng hải-nội-ngoại chư quân-tử nhàn-lăm: 

1) Ma-Y Đạo-giả Chính-Dịch Tâm-pháp , Trần-Đoàn   thụ và tiêu-tức, Tân-văn-phong, Đài-Bắc, tháng 6-1987. 

Trần-Đoàn, tự Đồ-nam, thụy Hi-di, tức Hi-di Lăo-tổ cuả Khoa Tử-vi Đẩu-số. Người đời thường gán nguyên-bản 'Tử-vi Đẩu-số Toàn-thư' cho Ngài, qua ng̣i bút của một cháu họ xa là Trạng-nguyên La-Hồng-Tiên, một cao-đồ của Vương Dương Minh. Cứ b́nh-t́nh mà trước-luận sách này vừa là một ngụy-thư, vừa là một man-thư: ngụy-thư v́ sách không do Trần Đoàn viết ra, c̣n man-thư là v́ sách cố t́nh viết sai  về an Tử-vi cho thổ-ngũ-cục, cho giờ sinh tháng đẻ các danh-nhân. Tệ nhất là cho Đức Thánh-nhân sinh ngày mùng một tháng một năm Canh-tuất. Kỳ thực, Ngài sinh giờ chính tí ngày 27 tháng 8 năm Canh-tuất, và nếu ta dùng Công-thức Việt Chi ta sẽ biết đó là ngày 28 tháng 9 năm 551 B.C.

Trần Đồ-Nam chỉ để lại cho hậu-thế có mỗi 'Bài Tựa Long-đồ' dài đúng 327 chữ mà cách đây mấy năm tôi mới giải-thích được nhờ dùng siêu-b́nh-diện cấp 3 (hyperplane) rút từ sách "Hàm Giải-tích" cuả Toán-gia Henri Cartan. Các sách khác như 'Hà-Lạc Lư-số' đều thuộc loại tác-phẩm 'ủy-nhiệm' cả.

        Theo truyền-thuyết, "Ma-Y Đạo-giả Chính-Dịch Tâm-pháp" do Đạo-trưởng Ma-y truyền-thụ cho Ngài, cùng với "Ma-y Tướng-pháp Toàn-thư". Tập sách trước tóm tắt tất cả Dịch Tiên-thiên cuả Phục-hi, Hoàng-đế vào 42 Chương (định-án), mà tôi đă diễn-ca và thích-nghiă kỹ-lưỡng. Sau đây là phần diễn-ca kèm theo nhiều chú-thích cốt-yếu: 

Chương 01: Hi Hoàng dựng Dịch nguy-nga,
                Có hay lạc-xứ mới là công-phu.

Chú-thích: Lạc-xứ (domain) có nghiă là biết thực-nghiă vạch quẻ ở đâu. Không đọc văn cuả cổ-nhân một cách mù quáng, như chấn được sơ-hào cuả kiền. Cho nên sấm sét mới phát từ duới phát lên. Khảm được hào giữa, nên mặt trăng mới vận-hành giữa trời. Cấn được thượng-hào, nên núi mới đổ dốc từ trên trời đổ xuống. Tốn-ly-đoài được ba hào cuả khôn, cũng vậy. Lại nữa, sáu hào ứng với nhau. Như nhất dương sinh nơi tháng tư (dương) ứng với tháng măo (âm). Nhị dương sửu (âm), ứng tại tháng ba (lẻ tức dương). Tam dương dần (dương) ứng tại tháng tư (chẵn tức âm). Nhân-sự cũng vậy. Dịch-đạo nhật-dụng thấy nơi thiên-điạ vạn-vật. Nếu năng lấy tiêu-tức ấy làm thực-dụng, mới thấy là Hi-Hoàng vẽ quẻ không phải là công-phu giấy bút suông. 

Chương 02: Âm Dương vận-động Phục, Khôn,
                 Huyết-khí 1, 6, hàn-ôn lưu-hành.

Chú-thích: Âm dương vận-động như môt dương là Phục, một âm là Cấu, đến sáu âm là Khôn. Huyết-khí lưu-hành. Như 1-6 là thận thủy, nhị là phế kim, tam là tỳ thổ, tứ là can mộc, ngũ là tâm hoả. Trước tiên sinh Truân, Truân mà là Mông (Truân lật ngửa). Dưỡng Mông là Nhu v.v. Quái-hoạch thuận theo lư ấy mà thôi. 

Chương 03:        Quẻ đơn, quẻ kép Hi, Hoàng,
                 Cát, hung, tiêu-tức, đảm-đang trong ngoài.

Chú-thích: Thoạt đầu Phục-Hi, Hoàng-đế khởi hoạ bát-quái, chồng lên thành 64 biệt-quái. Không lập văn-tự, khiến người ta ngầm xem tượng mà thôi. Năng như tượng, ắt cát hung ứng, trái với tượng, ắt cát hung phản. Đấy là hai họ Hi, Hoàng lập-giáo không lời. Trịnh Khang-thành biết sơ qua thuyết ấy.   

Chương 04: Hi, Hoàng, Chu, Khổng, cô-hành,
                Lâu đời Dịch-đạo hoá thành hối-hư.

Chú-thích: Thời cổ, quái-hoạch sáng suả, Dịch-đạo lưu-hành. Nay Dịch-đạo bất-truyền, thánh-nhân bất đắc dĩ có lời, học-giả hiểu nông cạn, bảo là Dịch chỉ có thế mà chu-lưu. Chu-Khổng đành tự cô-hành. Không biết là có vi-chỉ cuả quái-hoạch. Chỉ bàn thuyết về tám chữ. Cái đó gọi là 'Chân chỉ hạt bột, chỉ chăm chú bề ngoài, không xét đến sự thực'. Từ đời Hán đến giờ chỉ như vậy. Thảo nào, Dịch-đạo u-ám. 

Chương 05:        Sáu mươi tư quẻ bao-dung,
                 Âm-dương, huyết-khí trùng-phùng tự-nhiên.

Chú-thích: Diệu-nghiă vô cùng. Mông tất lấy thứ-tự từ cấn. Sư tất lấy thứ-tự từ khôn. Đó là chỉ-ư cuả Đại-hữu. Không dừng ở 'Quân lính chính đáng, bực lăo-thành th́ tốt', 'trẻ thơ t́m ta'. Hợp làm tự-nhiên, bảo là sau cấn, sau khôn. Không phải là tư-ư. Bèn vận-động âm-dương, huyết-khí lưu-hành, thi-hành đều theo lẽ tự-nhiên.  

Chương 06:       Dịch-đạo tiêu-tức quái-hào,
                  Ư tại ngôn ngoại buộc vào lời kinh.

Chú-thích: Hệ-từ đặc-biệt để buộc cát hung, lời đại-lược mà thôi. Không phải là nghiă cuả sáu vạch. Hết cả đều ở đó. Như Đại-hữu buộc lời bằng 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', Đại-tráng buộc lời bằng 'Lợi, Trinh', mấy chữ ấy quả đủ để lột trần trọn nghiă hai quẻ.

Có thể thấy ư ngoài lời, là được. Thấy ư ngoài lời, như thể, hào-từ cửu-nhị quẻ Kiền 'Rồng hiện ở ruộng', hào-từ thượng-cửu 'Rồng lên cao quá, sẽ có hối-hận', xét Sư bên ngoài bất-động như đất, bên trong xu-biến như nuớc, hảo-ư vô-cùng. Như loại ấy, kể sao cho xiết. Khái-cử đều là như vậy, không làm sao bao quát hết được. 

Chương 07:        Xét xem quái-mạch tự-nhiên,
                 Thiên-điạ, vạn-vật, mục-tiền Hồn-nghi.

Chú-thích: Quái-mạch là lẽ vận-động lưu-hành tự  nhiên. Thẩm-sát quái-mạch, ắt có được lư cuả trời đất muôn vật. Như xem vạch cuả khảm, ắt biết nguyệt là khí cuả đất.

Như xem vạch cuả ly, ắt biết nhật là khí cuả trời. Xem vạch cuả cấn, ắt biết núi từ trời lại. Xem vạch cuả đoài, ắt biết mưa từ đất bốc lên. Xem điệp-giao, ắt biết số cuả nhuận dư. Xem giao-thể, ắt biết gốc cuả tạo-hoá. Phàm quái-hoạch đều là lẽ sở dĩ nhiên trước mắt cuả trời đất muôn vật, như Hồn-nghi-khí vậy.  

Chương 08:        Quẻ đơn, quẻ kép hợp-ly,
                Tung-hoành, thi-thiết, lư tùy bên trong.

Chú-thích: Dọc ngang giống như chư đồ hoặc ngầm chứa nhị-lăo, nhị-thiếu hoặc khu-biệt ba đời con cháu hoặc có lẽ đối-đăi, hoặc có nghiă thật-giả, hoặc có tượng thai-giáp, hoặc có bói thác-tổng, duy thửa thi-thiết đều là diệu-lư, không có chỗ nào mà không đi đến được. Đó là cái gọi là bao quát vạn-tượng. Sở dĩ Dịch-đạo bao la vậy.  

Chương 09:        Kiền-Khôn thác-tạp Khôn-Kiền, 
                       Gọi là phá-thể sinh liền sáu con.

Chú-thích: Kiền ba vạch liền, thuần dương. Một âm tạp bên dưới thành tốn, tạp ở giữa thành ra ly, tạp ở trên thành ra đoài. Chúng là phá-thuần-thể cuả Kiền. Khôn ba vạch đứt, thuần-âm. Một dương tạp ở dưới, thành ra chấn, tạp ở giữa thành ra khảm, tạp ở trên thành ra cấn. Chấn, khảm, cấn đều phá thuần-thể cuả khôn. Như lần lượt cầu nơi nhân-thể, ắt lư tự khắc rơ rệt vậy.  

Chương 10:            Âm-dương tiêu-tức Kiền, Khôn,
                      Viên-dung, hoà-túy hộ-môn Thánh-hiền.

Chú-thích: Phàm khí âm-dương, thuần mà không trộn lộn, là kiền-khôn. Lăo-tử nói: "Trời được một để trong, đất được một để an-ninh, chính là điều đó". Nhân  biết năng tận đạo kiền, là thánh-nhân. Năng tận đạo khôn, là hiền-nhân. 

Chương 11:              Lục-tử chính thị người thường,
                    Thiên-pha, phản-trắc, âm-dương thác-hành.

Chú-thích: Kiền kiện, khôn thuận. Thuần khí âm-dương. Một khi mất thuận-kiện, ắt khí mất thăng-bằng, mà sáu quẻ con sinh ra. Xem tượng cuả vạch có thể hiểu được. Trang-tử nói: "Âm-dương thác-hành, trời đất sợ hăi. Có sấm, có sét, trong nước có lửa, bèn đốt, bèn chất thành đống. Chính là điều đó. Do đó sáu quẻ con không thể so sánh với thánh hiền. Chỉ là chúng nhân với muôn vật mà thôi. Nhân do phá thể mà thuần thể luyện thành". 

Chương 12:          Sơ-nghiă tám quẻ tạp-thuần,
                  Thâm-nghiă đóng, mở, xoay vần bên trong.

Chú-thích: Không đặc huấn-thích. Bởi chưng không thể chỉ chuyên nơi tám chữ. Nên cầu nơi hoạch-tượng. Kiện (Kiền) là ba vạch đều liền. Thuận (Khôn) là ba vạch đều đứt. Động (Chấn) là một dương nằm dưới hai âm. Nhập (Tốn) là một âm núp dưới hai dương. Hăm (Khảm) là một dương kẹp giữa hai âm. Tốt đẹp (Ly) là một âm kẹp giữa hai dương. Ngừng (Cấn) ắt một dương đứng trên hai âm. Vui vẻ (Đoài) ắt một âm đứng trên hai dương. Phàm các sở-huấn đó, phần nhiều, thường thấy nơi hoạch-tượng. Như đóng cửa là khôn, ắt là sơ-hào cuả Cấu. Mở cửa là kiền, ắt là sơ-hào cuả Phục. 

Chương 13:             Kiền Khôn nhị-thủy Khảm, Đoài,
         
                 Tỉnh từ quẻ Thái đoái hoài mây mưa.

Chú-thích: Khảm là thủy cuả Kiền, là khí, như giếng vậy; Đoài là thủy cuả Khôn, là h́nh. Bây giờ, là mưa, một dương bị hăm giữa hai âm, là Khảm. Khảm là tiềm hành giữa muôn vật, là căn-bản cuả thụ mệnh. Nên nói: "Nhuận muôn vật. Nhuận không ǵ bằng thủy. Bởi chưng, nhuận là chất lỏng, chất lỏng cuả khí". Một âm chặn đầu hai dương là đoài. Đoài lấy h́nh phổ-thi trên muôn vật, là phát sinh lợi trạch, nên nói : làm cho muôn  vật vui ḷng, không ǵ bằng trạch. Nên nói: "Tán vậy, tán là h́nh tán, h́nh tán nên vui ḷng". Hai thủy Khảm, Đoài, thửa lư sáng rỡ như thế, học-giả y văn giảng nghiă, không biết lạc-xứ, năng được thực-dụng sao? Từ đời Hán đến nay, chư nho không được thửa thuyết, nên chân-nhân mới phát-đoan, và luận bàn. Vả lại lấy quẻ Tỉnh mà nghiệm, vốn là sơ-hào quẻ Thái, đổi chỗ với hào ngũ, thành ra quẻ Tỉnh, ắt biết là một dương thăng mà thành ra khảm thủy vậy. Nên Nguyệt-lệnh nói: "Trọng-đông (Tháng Một ta) suối nước động. Trọng-đông (Tháng chạp ta) nhất dương sinh". Đến trọng-thu (Tháng chín ta) bèn nói: "Sát-khí xâm thịnh, nhật-khí ngày một suy, nước bắt đầu khô cạn. Tin vào khảm là thủy cuả Kiền. Đạo-gia có giếng luyện-đan, hải ngoại nước nữ không nam, ḍm giếng tất sinh, y-kinh không trai gái, trai mặc vi-tuần-tỉnh tức sinh, nhờ Kiền dương, đều có minh-nghiệm." Như nói: "Trời giáng mưa đúng lúc, núi sông hiện ra mây". Lại nói: "Điạ-khí bốc lên thành mây, thiên-khí rớt xuống thành mưa". Đoài ấy sở dĩ là thủy cuả khôn. 

Chương 14:               Đẽo cây, đào giếng: nhân-vi,
                       Trung-thông quái-mạch, Khảm-Ly, Khôn-Kiền.

Chú-thích: Kiền trời. Một âm thăng chính giữa Kiền là Ly. Ly là mặt trời, ắt mặt trời gốc nơi khí cuả trời. Khôn đất. Một dương giáng chính giữa Khôn là Khảm. Khảm là mặt trăng, ắt mặt trăng gốc nơi  khí cuả đất. Mặt trời là thiên-khí, từ tây bổ xuống để giao nơi đất. Mặt trăng là điạ-khí, từ đông bốc lên, để giao nơi trời. Nhật-nguyệt giao-thác, một ban ngày, một ban đêm, tuần-hoàn 360 độ, mà khuấy cho vạn mối dấy lên. Đấy là 360 hào, mà các quẻ sinh ra. Khảm-Ly nhật-nguyệt, là khí giữa trời đất. Trọng-ni đặc-ngôn thủy-hoả, mà không nói nhật-nguyệt, v́ nhật-nguyệt là thể, thủy-hỏa là dụng. Nói thửa dụng mà không nói thửa thể, bởi chưng muốn thi-thiết cho rộng, mà vô-ngại vậy. Học-giả không ngộ, bất quá cầu nơi 'đẽo cây, đào giếng', khoảng quanh giếng, mất mát càng nhiều. Lại luận: trăng lên, mặt trời lặn dưới mặt đất. Tượng cuả "Trai gái kết tinh" (Hệ-Hạ V/13). Một qua, một lại. Quái-hoạch có tượng 'trung-thông'. Đó là cái gọi là xem quái-mạch. Lư ắt rơ rệt vậy. Lại bảo: lư đă rơ rệt, như núi, từ trên trời rơi xuống. Truyện bảo: Tự có vũ-trụ, tiện có núi ấy. Lại nói: sao băng thành đá. Suy từ ư đó, ắt núi từ trời rớt xuống không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Mà người đời bảo: núi là vật cuả đất, lấy cái thấy được mà nói. Đến như mặt trăng, gió, sấm, mưa, đều là xuất từ đất ra, mà người đời bảo: mặt trăng, gió, sấm, mưa, là vật cuả trời, đều theo cái thấy được mà nói. Cái người đời thấy như vầy. Nếu coi như vạn-vật đều là không hiểu. Thẩm-tri người học Dịch, cùng lư tận tính. Học-giả khá nên lưu-ư. 

Chương 15:        Xoay vần tám quẻ không ngừng,
                  Nhất thân, nhất vật xem chừng bên trong.

Chú-thích: Hệ-từ bát-quái Văn-Vương, hào-từ Chu-Công, chưa hề chỉ danh thửa vật-tượng. Để thấy bát-quái không dừng ở thiên, điạ, lôi, phong, thủy, hoả, lôi, trạch,

không c̣n ǵ thống-hợp nữa rồi. Cho nên, phàm cái ǵ thiên-hạ gọi là kiện đều là kiền, gọi là thuận đều là khôn, gọi là động đều là chấn, gọi là nhập  đều là tốn, gọi là hăm đều là khảm, gọi là lệ đều là ly, gọi là chỉ  đều là cấn, gọi là duyệt đều là đoài. Một thân, một vật đều là lư của bát-quái. Nên tuyên-phụ (Khổng-tử) chỉ lấy tám vật mà gọi tên. Đặc-cử đại-khái để tôn gốc mà nhập vào Dịch. 

Chương 16:            Quái trung phản-đối sẵn sàng,
                      Phản thân, đối-thể lại càng diệu thay.

Chú-thích: Đời tuy biết có thuyết phản-đối, khôn năng biết mật-ư thánh-nhân tại đó. Bởi chưng hai quẻ phản thành 2, đối mà thành 4, đă bầy hàng, lại lấy tạp-quái suy minh thửa nghiă, để làm cát hung, họa phúc, giầu nghèo, sang hèn cuả thiên-hạ, kỳ thực là một thể. Phân-biệt mà nói, thửa đại-tạ tuần-hoàn, đặc-biệt đảo ngay nơi chính giữa. Chưa bắt đầu có thường-hằng. Phản-thể ắt các quẻ đều vậy. Đối-thể ắt chỉ có Kiền, Khôn, Khảm, Ly, Di, Đại-quá, Trung-phu, Tiểu-quá mà thôi. Tám quẻ ấy không giống chư quái. Tại Dịch-đạo, bèn là khu-cơ cuả sống-chết, thọ-yểu, tạo-hoá. Thửa thể bất biến. Đối-thể rất kỳ-diệu. 

Chương 17:         Sáu mươi tư quẻ tuợng đầy,
                   Tiểu-súc tôn-phú, Lư vầy hiểm-nguy.

Chú-thích: Dịch thủ tượng chỉ một số quẻ mà thôi. Đại loại như Di, như Đỉnh, như Phệ-hạp. Khác chăng là không biết Dịch là tượng. Y vật-tượng mà huấn-giải. Cho nên 64 quẻ đều có thủ-tượng. Như Truân tượng cỏ cây, Mông tượng trẻ con, Nhu tượng đăi khách, Tụng tượng ăn uống, Sư tượng quân-trận, Tỷ tượng che chở, Gia-nhân tượng gia-chính, Khuê tượng trở về nhà. Các quẻ khác cũng vậy. Một khi đă nhập vào chư quái, Danh-nghiă chẳng khi nào là không phản-đối. Như Phệ-hạp là tham ăn vụng uống, Bí là tiết-chế, Lư là đạp gian-nguy, Tiểu-súc là hưởng tôn-phú, Lâm là ra làm việc mà cai-trị người, Quan là về nhà mà sửa ḿnh, Phong là phú-thịnh, Lữ là khốn-cùng. Ngoài ra, suy-luận, bao giờ danh-nghiă cũng phản-đối. Chưa biết tư sách để tinh-hoá, ắt bảo rằng: có lúc không thủ tượng, có lúc không phản-đối. Đó là đại-bệnh cuả người học Dịch.   

Chương 18:         Hai mươi mốt quẻ chính-đoan,
                     Hữu-tài, vô-đức, đừng toan làm càn.

Chú-thích: Danh-nghiă Dịch-quái xưa nay mất thửa chính-yếu đến già 20 quẻ: Sư/ Tỷ, Tiểu-súc/Lư, Đồng-nhân/Đại-hữu, Khiêm/Dự, Lâm/Quan, Phệ-hạp/Bí, Vô-vơng/Đại-súc, Di/Đại-quá, Tiệm/Quy-muội, Phong/Lữ, Trung-phu/Tiểu-quá. Bởi chưng Sư để chính-chúng, Tỷ để hưng-vương. Hai quẻ lấy vũ-công mà sáng-nghiệp, là quẻ cuả Thang, Vơ. Đồng-nhân cùng mà ở dưới, Đại-hữu đạt mà ở trên. Hai quẻ lấy văn-đức mà nối ngôi, là quẻ cuả Thuấn, Vơ. Lư lấy âm-đức mà đạp gian-nguy. Tiểu-súc bố-trí an-phú, đó là sự việc cuả nhân-thần.  

Chương 19:         Trùng-quái tám thể bên trong,
                 Tham, hỗ, chính, phục, mới ḥng hiểu Kinh.

Chú-thích: Chính là gọi hai thể thượng, hạ. Phục là gọi hai thể tùng-biến. Hỗ là gọi một quẻ có 2 hỗ-thể. Tham là gọi hai hỗ-thể tham-hợp. Với bản-quái nữa là 8. Ấy là gọi môt quẻ gồm đủ 8 quẻ. Nhưng mà tại sao một quẻ lại gồm 6 quẻ. Bởi chưng, một quẻ tự có bát-biến. Như Kiền nhất-biến ra Cấu, nhị-biến ra Độn, tam biến ra Bĩ, tứ-biến ra Quan, ngũ-biến ra Bác, lục-biến ra Tấn, thất-biến ra Đại-hữu, bát-biến lại ra Kiền. Nhân thửa sở dĩ nhiên, là thấy trời đất muôn vật không ǵ là chẳng thông. Trang-tử luận cửu-trúc sinh thanh-ninh, thanh-ninh sinh tŕnh, tŕnh sinh ngựa, ngựa sinh người, người chết lại phản-nhập về cơ. Muôn vật đều xuất ra từ cơ, nhập vào cơ. Thửa nhất tiết, luận lẽ biến-hoá. Không ǵ là chẳng thông như thế. 

Chương 20:               Chân-thể duy có Kiền, Khôn,
                       Thái-sơ, Thái-thủy, vĩnh-tồn, cùng-thông.

Chú-thích: Thái-sơ là khởi-thủy cuả khí. Ấy là Kiền. Thái-thủy là khởi đầu cuả h́nh. Ấy là Khôn. Đều bắt gốc ở tự-nhiên. Không hề giả-hợp. Nên thửa quái-hoạch thuần-nhất, không lẫn-lộn. Đảo lộn không biến, nên gọi là chân-thể. 

Chương 21:             Gẫm hay sáu quẻ kép con,
                    Tạp-khí giả-hợp chẳng c̣n định-chân.

Chú-thích: Sáu quẻ con giả Kiền-Khôn để làm thể. Trùng-quái hợp bát-quái để làm thể. Như phân-tán, ăt sáu con chồng lên. Đều không có định-thể. Như nay, trời đất thanh-minh, âm-dương chẳng tạp, ắt sáu con ở đâu? Sáu con không giao, ắt phẩm-vật ở đâu? Lấy đó mà biết vạn-sự nhân-gian tất là giả-hợp, một khí âm-dương bất quá hư-ảo. Không có định-thực. 

Chương 22:               Hào-biến thể phục hàng hàng,
                       Càng xem từ-hợp, nghiă càng thông-minh.

Chú-thích: Biến là biến cuả một hào. Phục là Phục cuả một thể. Tức là từ cuả Phục biến, mà xem đấy. Nghiă tự nhiên. Không ǵ là chẳng vẫn-hợp với bản-quái. Để thấy khí âm-dương. Như hào-từ thượng-cửu quẻ Mông nói: 'Kích Mông'.  Biến thành Sư. Thượng-lục ắt nói: tiểu-nhân chớ dùng. Truân  sơ-cửu nói: để quư hạ-tiện. Đại đắc dân vậy. Biến ra Tỷ. Sơ-lục ắt nói: như thể có ḷng tin gần gũi nhau, không lỗi. Hào-từ đó hợp đấy. Như Đại-hữu thượng-thể phục Nhu. Có tượng ăn uống tiệc tùng. Hạ-thể phục Tấn, có đức chiêu-minh, thăng thượng-thể phục Cấu. Cấu nhất âm thăng. Hạ-thể phục Phục. Phục nhất dương thăng. Nghiă một thể ấy hợp. Như quả quái-nghiă chưa t́m hiểu, năng lấy điều đó mà cầu, tự nhiên rơ ràng. 

Chương 23:        Xưa nay Truyền Dịch suyễn-ngoa,
                          Tiểu-súc với Lư đổi qua đổi về.

Chú-thích: Lư ra trong chính kinh quẻ Lư phải đặt trước quẻ Tiểu-súc. Nay thứ-tự này làm đảo lộn và rối loạn văn-nghĩa. Phàm bát-quái đối bát-thể. Duy thiếu mất mũi. Bèn bảo Tốn là cổ (bắp đùi). Nếu nói cổ lại sót mất quăng (cánh tay), không phù-hợp với bát-quái Hy-Hoàng (tiên-thiên). Nay thử biện-luận. Một nhu (âm) từ Cấu  l Đồng-nhân M J Tiểu-súc I Đại-hữu N. Do đó một cương từ Phục XG Khiêm O Dự P Tỷ H, rất ư là tự-nhiên. Nay Khiêm đi trước Dự, không lư nào Lư lại đi sau Tiểu-súc. Thường cẩn-mật xem “Tuyên Ni thuật cửu-quái ” (Hệ Hạ VII), lấy số 9 cho Lư, số 15 cho Khiêm, số 24 cho Phục, đều là định-số đại-diễn của Long-đồ, ám-hợp với vị-thứ 9 của Lư trong Kinh. Quá rơ ràng. Huống hồ Lư Jvà Vô-vơng Y đối-nghĩa. Đă cho Đại-súc Z phản Vô-vơng Ymà đi sau, nên chi Tiểu-súc phản Lư ắt phải đi sau Lư. Về mặt bát-thể, ắt Cấn là mũi, Tốn là tay. Truyện nói: “Mũi là núi của mặt vậy”. Lại nói: “Gió năng cổ-vũ vạn-vật”, mà tay dùng để cổ vơ. Bởi Kiền là đầu, Khôn là bụng, “Trời đất định ngôi” vậy. Khảm là tai, Ly là mắt, “Thuỷ Hoả bằng cơ nhau” vậy. Cấn là mũi, Đoài là miệng, “Núi đầm thông-khí” vậy. Tốn là tay, Chấn là chân, “Sấm gió xô xát nhau” vậy. Đó là bát-quái Hy-Hoàng ứng nhau. Chân-nhân sót thương người đời lẫn lộn nên mới khai-nhăn cho vậy. 

 Chương 24:               Hi, Hoàng, vạch quẻ xa gần,
                        Soạn thành Dịch-đạo dạy dân thuận-thời.

Chú-thích: Hi-Hoàng vạch quẻ không phải xuất từ tư-ư. Soạn thành Dịch-đạo như nơi phương-sách, để dạy bảo con người. Đặc-biệt lấy thuận-thời ứng-vật, để thấy nơi nhật-dụng. Lấy thô-tích mà nói, như lấy đồng tiền mà đồ, lục-thuần-tự là Kiền, lục-thuần-bối là Khôn, sai-hỗ sáu quẻ con. Như lật ngược, ắt chưa thắng, chí-thuần, ắt Kiền-Khôn thành. Ưu-nhân bảo kỹ, tráng là gánh vác nặng nề, là sáu quẻ con. Người già thu lợi là Kiền-Khôn.Các điều đó đều la lẽ tự-nhiên. Tức thị nếu lấy lư ấy mà thẩm-sát kỳ dư, ắt mọi chuyện đi, ngừng, ngồi, nằm tươm tất. Tất cả thiên-hạ đều là Dịch. Không thể kén chọn. Nhưng mà trăm họ hôn-mê mà vơng-giác vậy. 

Chương 25:         Trung-hào mỗi quẻ chia tư,
                   Nạp-âm thiết-cước: ḷ cừ đấy thôi.

Chú-thích: Chia tư là lưỡng-thể cuả chính-quái cộng với lưỡng-thể cuả hỗ-quái. Nạp-âm, Giáp là mộc, Tí là thủy. Giáp Tí giao-hợp thành hải-trung-kim. C̣n thiết- cước (phiên-thiết) tỷ như bố đức, mẹ hồng phiên-thiết thành đông. Quái-thể cũng vậy. Thượng-thể là Kiền, hạ-thể là Khôn, giao-thác sinh ra 6 quẻ con nằm trong hỗ-quái. Khí của tạo-hoá tham-hỗ mà thành ra quẻ, như trong quẻ Truân C có quẻ Bác W, trong quẻ Mông D có quẻ Phục X. Phàm mỗi khi một quẻ gồm đủ bốn quẻ, đều được hoạ-phúc ỷ-phục. Như trong Truân, Tỷ, Quan, Ích đều có: Bác, Mông, Sư, Lâm, trong Tổn đều có Phục vậy.  

Chương 26:            Bản-dư, khí-tự, tự-nhiên,
                 Phản-đối, quan-kiện viễn-liên tương-phùng.

Chú-thích: Đại phàm, khí-tượng một vật tất có bản, có dư. Sở dĩ dư-khí là âm, bản-khí là dương. Như mười can, trong cặp giáp-ất, ất là dư-khí cuả giáp. Trong cặp bính-đinh, đinh là dư-khí cuả bính. Như 12 chi, trong cặp tư-sửu, sửu là dư-khí cuả tư. Trong dần-măo, măo là dư-khí cuả dần. Quẻ cũng như thế. Khôn là dư-khí cuả Kiền. Mông là dư-khí cuả Truân. Tụng là dư-khí cuả Nhu. Tỷ là dư-khí cuả Sư. Vả chăng, sau Kiền có Khôn, sau Truân  có Mông, sau Nhu có Tụng. Tuy là nghiă cố-hữu, nhưng thứ-tự vẫn lệ thuộc dư-khí. Lẽ tự nhiên. Học-giả chưa  ngộ, bảo là thánh-nhân cưỡng lấy thứ-tự đó. Chưa biết quan-kiện phản-đối. Mất mát rất nhiều. 

Chương 27:         Điạ: Đông, Tây, Nam, Bắc; Thiên:
                       Từ Sơ đến Thượng xuôi miền Lục-hư.

Chú-thích: Sơ-hào là điạ, thượng-hào là thiên. Nhị-hào là bắc, ngũ-hào là nam.

Tứ-hào là tây, tam-hào là đông. Trời đất bốn phương, mỗi thể cuả quẻ đều đầy đủ nghiă đó. Đó là lục-hư. Đại-truyện nói: "Biến-động, chứ không ở yên, Chu-lưu lục-hư" (Hệ-Hạ, VII/1), chính là nghiă đó. Học-giả chưa ngộ, gọi lục-hư là thiên-điạ, tứ phương, song le, lục-hư là 6 vạch, tượng cuả thiên-điạ, tứ phương. Ai đó chính là chỉ chuộng công-phu, không hiểu lạc-xứ. 

Chương 28:            Mẹ cha ngoài, sáu con trong,
                     Có điều chẳng được mà dong-tâm này.

Chú-thích: Tượng bảo là ba vạch cuả Kiền thêm vào ba ngôi thượng-trung-hạ cuả Khôn, thuận-sinh ba trai. Ba vạch cuả Khôn thêm vào ba ngôi thượng-trung-hạ cuả Kiền, thuận-sinh ba gái. Thể cuả Kiền-Khôn đều ở ngoài. Sáu quẻ con đều bao bên trong. Số bảo là vạch, như số cuả Kiền là 3, số cuả Tốn-Ly-Đoài là 4, số cuả Chấn-Khảm-Cấn là 5. Khôn 6. Khôn số 6. Chấn-Khảm-Cấn số 7. Tốn-Ly-Đoài số 8. Kiền số 9. Sách cuả Kiền-Khôn đều ở ngoài. Sáu quẻ con đều nằm bên trong. Tự nhiên cuả tượng ấy không thể có được mà bao tâm.  

Chương 29:              Hào-số ba trăm tám tư,
                  Kiền Khôn năm nhuận cũng như năm thường.

Chú-thích: Hào-số 384, là chân-thiên-văn. Lấy nhuận mà cầu, chư nho cầu hợp thửa số, mà không có được. Hoặc giả bảo một quẻ 6 ngày 7/10, hoặc trừ đi số cuả 4 quẻ chấn, ly, khảm, đoài, đều là phụ-hội. Thảng hoặc lấy nhuận mà cầu, ắt số là 384 (năm nhuận 384 ngày), tự nhiên vẫn-hợp, không thiếu, thừa ǵ. Bởi chưng thiên-độ hoặc doanh hoặc xúc, đến ba năm, khí-số cuả Kiền-Khôn vừa chẵn. Từ đời Hán đến nay, không có ai ngộ, chỉ có chân nhân tóm thâu được thửa thuyết.  

Chương 30:               Bát-quái hai mươi bốn hào,
                      Vạch thuần trùng-điệp tính vào nhuận đi.

Chú-thích: Một tuế 360 ngày, mà lại có 384 hào, ắt dư 24 hào. Lấy quái hoạch mà cầu, là điệp-số, làm sao mà  nói? Ôi ! Đă có 8 quẻ, kịp khi 8 quẻ hỗ tương hợp-thể, để lập các quẻ, bát-quái có ở bên trong, mà riêng có bát-thuần-quái trùng-phục, mà số 24 trở thành điệp-số. Là lấy 360 làm chính-hào, hợp với số ngày cuả mỗi tuế, mà 384 hợp với số ngày cuả năm nhuận, ắt là nhuận-số vậy. Há riêtng thấy nơi số ? Cũng thấy nơi tượng. Người thấy điều đó hiếm lắm. 

Chương 31:              Mới hay bát-khí mất c̣n,
                       Bát-cung, bát-biến cho tṛn sáu tư.

Chú-thích: Kiền, Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Tấn, Đại-hữu, Di, Cổ bát-biến rồi trở lại Kiền. Khí cuả trời xong việc. Khôn, Phục, Lâm, Thái, Đại-tráng, Quyết, Nhu, Tỷ. Bát-biến rồi trở lại Khôn, ắt khí cuả đất xong việc. Chấn, Dự, Giải, Hằng, Thăng, Tỉnh, Đại-quá, Tùy, bát-biến rồi trở lại Chấn ắt khí cuả sấm-sét xong việc. Cấn, Bí, Đại-súc, Tổn, Khuê, Lư, Trung-phu, Tiệm, bát-biến rồi trở lại Cấn, ắt khí cuả núi xong việc. Khảm, Tiết, Truân, Kư-tế, Cách, Phong, Minh-di, Sư, bát-biến rồi trở lại Khảm, ắt khí cuả nước xong việc. Ly, Lữ, Đỉnh, Vị-tế, Mông, Hoán, Tụng, Đồng-nhân, bát-biến rồi trở lại Ly, ắt khí cuả lửa xong việc. Tốn, Tiểu-súc, Gia-nhân, Ích, Vô-vơng, Phệ-hạp, bát-biến rồi trở lại Tốn, ắt khí cuả gió xong việc. Đoài, Khổn, Tụy, Hàm, Kiển, Khiêm, Tiểu-quá, Quy-muội, bát-biến rồi trở lại Đoài, ắt khí cuả chằm xong việc. Phàm tám quẻ bát-thuần ấy, mỗi mỗi bát-biến, 8 lần 8, 64, ắt khí cuả thiên, điạ, lôi, phong, thủy, hoả, sơn, trạch, không dư-uẩn vậy, đó là một nghiă. 

Chương 32:              Kiền Khôn thành số nơi 3,
                         Trùng nên hoá 6 để mà tiến lui.

Chú-thích: Ôi ! Số cuả khí khởi nơi 1, bắt đôi nơi 2, thành nơi 3. Không thể thêm được nữa. Chồng lên ắt thành 6. Nhưng mà 3 là thiếu-dương, 6 là thái-dương. 3 là muà xuân, 6 là muà hè. Đó là số cuả Kiền, là tiến-số. Thửa thoái cũng là 6 : 3 là thiếu-âm, 6 là thái-âm ; 3 là thu, 6 là đông. Đó là số cuả Khôn, là thoái-số. 3 vạch là kinh-quái, 6 vạch là trùng-quái. Phàm chỉ có thế mà thôi.

Chương 33:                  Vật-số có tiến, có lui,
                       Can chi tiện thể nhuốm mùi thịnh-suy.

Chú-thích: Đại-để số cuả thịnh-suy mỗi bên phân nửa. Thịnh đă lấy số đó, kịp khi suy cũng là số đó. Như một năm 12 tháng, xuân-hạ là tiến-số, thu-đông là thoái-số. Một ngày 12 giờ, từ Tư trở đi là tiến-số, từ Ngọ trở đi là thoái-số. Con người thọ 100 tuổi. Trước 50 tuổi là tiến-số, sau 50 tuổi là thoái-số. Cho chí giáp là tiến-số, ất là thoái-số. Tư là tiến-số, Sửu là thoái-số. Tế-suy vật–lư, không ǵ là không như thế. Thế-nho luận giáo bất-quá diễn thành luật duy nhất, đặc-biệt không hiểu lẽ tiến-thoái cuả âm-dương. Chỉ có chân-nhân là có được thửa thuyết. 

Chương 34:             Khí lệ viên, h́nh lệ phương,
                        
Cụ h́nh ngũ-số: 5 ương thành 10.

Chú-thích: Phàm khí tốt đẹp, ắt tṛn triạ. Đường kính D = 1 chu-vi p = 3 (Số pi).  Trời có ba muà cuả nhà nông, là nhờ thửa khí. Phàm h́nh tốt đẹp, ắt vuông vức. Đường kính 1 mà chu-vi 4. Sở dĩ đất có bốn phương, là nhờ thửa h́nh. Thiên-số 3, chồng lên thành 6. Điạ-số 5, chồng lên thành 10. Mười là ǵ? Bởi chưng có tứ-phương, ắt có trung-ương nữa là 5. Có trung-ương, tứ-phương, ắt có tứ-duy (Đông-nam, tây-nam, tây-bắc, đông-bắc). Phục nó tại trung-ương, là thành 10. Không chỉ đất đặc-biệt có. Phàm tốt đẹp nơi h́nh là đủ 10. Tất cả đều như thế. 

Chương 35:           Đại-diễn số đúng 50,
                 Số 1 bất-động chỉ nơi rớt vào (lạc-xứ). (Xem Chương 01)

Chú-thích: Số đại-diễn 50, chỉ dùng 49. Treo 1 không dùng. Học-giả nên hiểu ngầm số 1 là thái-cực, số bất-động, không biết nghiă thật là lạc-xứ. Quy-tắc nào? Số 1 là tông-bản (tôn-sùng gốc) cuả số. Phàm lư cuả vật, không vật nào là không tông-bản. Không tông-bản ắt loạn. Có tông-bản, không đáng dùng cũng phục-loạn. Như bánh xe vận-hành, mà trục xe ngừng lại, như máy quay tơ, bánh lớn đằng sau, như lưới bên  trong có lưới, ắt đưa lên, như đồ dùng có cán, phải nắm lấy cán, như nguyên-thủ đứng đầu, thủ-túc nâng lên, như đại-tướng đứng giữa, mà sĩ tốt phục dịch xung quanh, như vua không làm ǵ mà bầy tôi làm lụng, như người hiền tôn thờ mà người trên sai khiến. Mới biết phàm được 1, là được tôn sùng. Gốc làm chủ. Đều có lư bất-động. Nếu nhúc nhích, ắt kỳ-dư thác-loạn mà không thể thi-thiết được ǵ.  

(Định-lư Brouwer về định-điểm trong Vị-tượng-học = Fixed-Point Theorem in Topology, 434, tr. 71-73). Chính định-lư này cho chúng ta biết là lông nhím tương-đương với lọ tương!). Độc giả sẽ hiểu tại sao khi duyệt xong định-lư này. Ta có thể phát-biểu Định-lư này như sau: 

THE BROUWER FIXED-POINT THEOREM   Suppose X is a topological space that is both compact and convex, and let f be a continuous map of X to itself. Then f has a fixed point in X, that is, there is a point x* in X such that f(x*) = x*. 

Here’s a simple example, sometimes called "Porcupine Theorem," illustrating Brouwer’s result in a somewhat whimsical fashion. 

Porcupines and Cyclones 

            If you look at the quills of a porcupine, you will find that they have a parting down the porcupine’s back, and another along its stomach. Topologically, a porcu-pine is just a sphere (under the condition the condition it keeps its mouth shut and we neglect its internal structure), since all we need to do is shorten its legs and fatten it up somewhat to transform it into a sphere. Now we can ask: Is it possible for the porcupine to lay all of its quills down flat? In other words, can we comb the quills of the porcupine so that all partings are eliminated? This would give a smooth

prickly ball.

          With some effort, it can be shown, using Brouwer’s Fixed-Point Theorem, that no perfectly smooth system of quills can exist. There must be at least one quill that stands out vertically at the center of a parting. The best that can be done is to comb the quills so that everything is smooth except at one point.

          The basic idea of the proof of this extremely interesting fact about porcupines involves setting up a 'combing map' that takes each of the porcupine’s quill into the direction it points after being combed. With a little work, it can be shown that every such map is continuous. The Brouwer’s Fixed-Point Theorem is then used to conclude that there must be at least one quill whose direction remains unchanged under every such mapping, which then implies that it cannot be combed down flat.

          The value of this result is pretty dubious, at least when it comes to porcu-pines. But if we consider the Earth’s weather system, things come a bit closer to real-world concerns. The Earth is a sphere, topologically speaking, and it is of interest to ask about the direction of the winds that blow on its surface. In parti-cular, we can inquire whether there is a point at which the winds are not blowing in any vertical direction. Such a spot would be the location of a cyclonic pattern in the winds. Regarding the flow lines of the wind that as taking the place of the porcupine’s quills, the 'Porcupine Theorem' tells us that it impossible to 'comb' the wind so as to eliminate a point where the wind pattern is a cyclone.

This is because the flow lines constitute a continuous mapping of the surface of the Earth to another point on the surface. (Technically: a map from the sphere S2 to itself.) So, simply having knowledge of the topological class to which the Earth belongs (a sphere with no handles), we can say something interesting about wind patterns - without having any detailed knowledge of atmolspheric physics, meteorology or, for that matter, cosmetology.

          Oddly enough, it’s possible to show that stable, smooth wind pattern do exist on planets shaped like a doughnut. The hole in the center moves such a toroidal planet into the topological class of a sphere with one handle. And Brouwer’s results do not apply to such a space (why?). This fact, in turn, opens up the possibility for smooth wind patterns, smooth porcupines, and no cycloines.

 

(Cyclones = Đại-phong = Gió lớn ?  Đổ chuà ? …).

 

Chương 36:              Kinh-quái hai mươi tư hào,
                       Chồng lên 48 rơi vào thinh-không.

Chú-thích: Bát-quái trải qua 24 vạch, chồng lên được 48. Lại mỗi quẻ bát-biến, 6 lần 8 là 48, ắt 48 là số cuả 8 quẻ. Số  đại-diễn 50 là phân nửa 100, là tiến-số vậy. Dùng 49 là toàn-số cuả thể-dụng. 50 – 1 là 50 là khôn có 1 nữa, là Dịch vô-h́nh-tướng. 49 có treo 1, là có 1, là Dịch biến thành 1, 1 không dùng là số tôn thờ gốc, nên có thể động. Dùng 48, lấy 8 số biến để bói các quẻ. 1 biến thành 7, 7 biến thành 9, là bảo điều đó. Người bói cỏ thi đời nay, trước tiên, từ số 50 đặt 1 trước mặt, để rút về 49. Hoặc bỏ trước 1, là từ số 49 trừ 1 mà chung-hợp. Hai cách đều toàn-dụng số 49. Đă từng chưa biết bản-số cuả bản-quái. Để lầm lẫn đặt 1 trong 8 quẻ, rốt cuộc, 4 với 9 thất thế. Vả chăng, lấy Kư-số mà luận số nhiều hay ít, mà lấy 4 hay 9. Ắt không thêm bớt nơi số nhiều ít mà chọn chính-số âm dương. Tự nó không trở ngại. Lại nữa, thuyết nhiều ít chưa từng thấy. Phép đếm không lấy chính-số mà lấy dư-số, bởi chưng muốn giản-tiện-hoá. Giản-tiện là bảo một khi thấy nhiều hay ít, tức biết chính-số, âm dương nhiếu ít. Bằng như chờ xem chính-số ắt phiền-năo. Lại nữa, thuyết ít nhiều chưa từng thấy bao giờ. Nhưng cổ-nhân chọn kư-số. Đại-truyện nói: Số đại-diễn 50 mà chỉ dùng có 49, chia đôi để tượng hai nghi (trời đất), treo 1 để tượng tam-tài (trời, đất, người), đếm 4 để tượng bốn muà, dành cái lẻ thừa về một bên để tượng cho tháng nhuận, năm năm hai lần nhuận cho nên hai lần dành lẻ ra rồi mới kẹp vào. Phép bói cỏ thi, đếm lần thứ nhất, được 5 với 4, 4 gọi là tam-thiếu, được 9 với 8, 8 gọi là tam-đa. Đếm lần thứ nh́, ắt được 5 với 9 mà thôi. Nhưng mà được ba cái 4, cũng gọi là tam-thiếu, đuợc ba cái 8 cũng gọi là là tam-đa. Đầu tiên, được 5 và 9, là lăo-dương, sách 36. Sách cuả lăo-âm là 24. Kịp thứ chính được 4 với 8, mà sách cuả lăo-dương như trước. Ắt là 5, 9, nên không gia, giảm vào số ít nhiều. Mà nơi âm dương sách chính-số cũng không bị tổn thương. Nhân đó biết rằng, số 48 mà dùng lầm 49, bỗng nhiên rơ ràng vậy. Hoặc giả, lại bảo phép đếm, được số lẻ chẵn khác nhau, không biết đếm lần thứ nh́, ắt được 5 hay 9  là hết. Sở dĩ xem thửa dư-số, mà không xem thửa chính-số. Đặc-biệt là chọn cách giản-tiện. 

Chương 37:    Ngũ-hành lạc-xứ (Xem Chương 01) cho tinh,
                   
Ứng-số, bội-số cũng minh đặc-thời.

Chú-thích: Trời 1 sinh thủy, là khí cuả khảm thai nghén nơi kiền kim. Đất 4 sinh kim, là tiết lập-đông. Đất 2 sinh hoả, là khí cuả ly thai nghén nơi tốn mộc, là tiết lập-hạ. Trời 3 sinh mộc, là khí cuả chấn, thai nghén nơi cấn thủy (Núi cao, đất dầy, suối nước tuôn ra), là tiết lập-xuân. Đất 4 sinh kim, là khí cuả đoài thai nghén nơi khôn thổ, là tiết lập-thu. Trời 5 sinh thổ, ly gửi nơi mậu mà là thổ-khí, là khí cuả đoài thai nghén nơi ly hỏa, là tiết trưởng-hạ. Phàm các điều đó đều nói về thành tượng. Trời 1 và đất 6 hợp thành thủy. Kiền-khảm hợp mà thủy thành nơi kim, là tiết đông-chí. Đất 2 với trời 7 hợp mà thành hoả, tốn-ly hợp mà hoả thành nơi mộc, là tiết hạ-chí. Trời 3 với đất 8 hợp mà thành mộc, cấn-chấn hợp mà mộc thành nơi thủy, là tiết xuân-phân. Đất 4 với trời 9 hợp mà thành kim, khôn-đoài hợp mà kim thành nơi thổ, là tiết thu-phân. Trời 5 với đất 10 hợp mà thành thổ, ly gửi nơi kỷ mà thổ thành nơi hoả. Phàm các điều ấy đều nói về thành h́nh. Ôi! lấy 5 mà nói tương-thành-số, con trẻ trọng mà năng tụng. Cốt ở nghiă thực. Ví phỏng lăo-tráng cũng không biết lạc-xứ. Ấy là theo cổ-nhân một cách mù-quáng. Làm sao thấy được Dịch. Lấy đến các quẻ tiên-thiên. Thoạt đầu, lấy một âm, môt dương mà gián-cách, sau đó, lấy hai âm, hai  dương mà gián-cách. Bội-số đến 32 âm, 32 dương mà gián-cách. Thái-huyền các thủ, thoạt đầu, lấy một âm, môt dương mà gián-cách, sau đó, lấy ba âm, ba dương mà gián-cách. Bội-số đến 27 âm, 27 dương mà gián-cách. Tại sao? Lấy thời-vật mà suy, từ tổ-phụ, con cháu, có đông, có ít tiềm-tàng. Từ tháng giêng, hai, ba, tư, năm, sáu, có vi-thịnh lớn dần, đều là dùng số để minh lư. Xin xem ứng-số ở Chương trên. 

Chương 38:       Quái-số: Vị, Vận sinh thành,
                Âm Dương giao-cảm ban-hành cát-hung.

Chú-thích: Sinh-số là : 1, 2, 3, 4, 5, là ngôi cuả âm-dương, là thiên-đạo. Thành-số là : 6, 7, 8, 9, 10, là đức cuả cương-nhu. Lấy thành-số cuả cương-nhu mà tác-dụng lên sinh-số cuả âm-dương, rồi sau trời đất mới giao-cảm, cát hung hiệp-ứng, mà vạn-sự trong thiên-hạ không tài nào tránh né được. (Muôn sự âm-dương vô-h́nh ở trên trời. Cương nhu ắt có h́nh dưới đất). 

Chương 39:        1 Canh, 7 cách, Quy-hồn,
                   9 vơng, thực-cứu về nguồn bản-cung.

Chú-thích: Xung-hư Kinh nói: "Vô h́nh-tướng, dễ biến thành 1, 1 biến thành 7, 7 biến thành 9, 9 là kết cuộc vậy. Lại biến thành 1. Bởi chưng quái, hào biến từ nhất biến, nhị biến, tam biến, tứ biến, ngũ biến, lục biến, đến thất biến, gọi là quy-hồn, phục mà khí cuả bản-cung canh cải vậy. Biến cải ở 2 mà cực-đại nơi 9. Rốt cuộc, phục-biến thành 1 mà phản-bản. Học-giả không giác-ngộ kinh-ư, đắm ch́m trong thuyết không-phiếm, là mất mát nhiều lắm". 

Chương 40:    Khinh-thanh, trọng-trọc, xung-hoà,
                    1 rồi 7, 9 quả là biến-thông.

Chú-thích: Dịch là Đại-Dịch. Đại-Dịch chưa thấy khí. Nh́n nó không thấy, nghe nó không hiểu, lần theo chẳng được, nên gọi là Dịch. Dịch xưng là hi-vi huyền-hư ngưng lặng. Kịp khi biến ra thành 1, 1 biến thành 7, 7 biến thành 9, 9 phuc-biến thành 1. 1 là h́nh bắt đầu biến. Khinh thanh thăng lên là trời, trọng-trọc giáng xuống là đất, khí xung-hoà ở giữa là người. Gọi là Dịch, là biết căn-bản cuả âm-dương, có tại nơi đó. Thuyết này gốc ở Xung-hư Chân-kinh. Đó là định-luận. Học-giả mù quáng, không ngộ, bèn làm thành biến-dịch.  Đó là nói về mặt chữ nghiă. Không phải là cái học tông-chỉ. Duy Dương-Hùng viết sách, nghĩ  là 'Thái-Huyền', khá được lắm. Đạo-gia cũng nghĩ là nhật-nguyệt là chữ dịch thời cổ, bởi chưng gốc ở âm-dương. 

Chương 41:      Luật-độ, Lịch-số tiên-tu,
                    
Tuyên-phụ: bát-vật; Văn, Chu: thứ loài.
                     Ư, từ, ẩn-hiện trong ngoài,
                      Dịch-đạo di-măn nhờ oai Hy-Hoàng.

Chú-thích: Sách Dịch gốc ở âm-dương. Muôn vật cơng âm mà ôm dương. C̣n ǵ  thích-hợp bằng âm-dương. Là để nhập vào con người. Văn-Vương, Chu-Công lấy thứ-loại nhập, Tuyên-phụ (Khổng-tử) lấy bát-vật mà nhập, là thượng-sách. Người đời sau, hoặc lấy luật-độ mà nhập, hoặc lấy lịch-số mà nhập, hoặc lấy tiên-đạo mà nhập. Điều đó cho thấy là Dịch-đạo không chỗ nào là không tới được. Nếu chỉ bó buộc nơi từ-huấn, ắt là phạm-pháp vậy, e chưa đắc ngộ đâu. Nếu quả đắc-ngộ, ắt thấy ư ngoài lời, mà tung-hoành diệu-dụng. Điều ta muốn là hoạt-pháp. Nên nói: "Học Dịch là noi theo tâm-điạ Hi-Hoàng mà theo đuổi, đừng ràng buộc vào ngôn-ngữ Chu-Khổng". 

Chương 42:          Chính-Dịch với lại Xuân-Thu,
         
          Tỷ, ngoạn mới biết hiền ngu thể nào.
                          Hi-hoàng ư-tượng quái-hào,
                        Cổ-kim huấn-chú viết vào đó đây.

Chú-thích:

          Thế-tục học giải tẩm-hiệp lời xưa, đánh mất chân-diện-mục. Dịch-đạo nông hẹp, Chính-Dich cuả Hy-Hoàng có thể sánh với Kinh Xuân Thu. Chu-Khổng hiểu rơ Dịch, viết truyện để so-sánh. Họ Tả v́ Kinh Xuân Thu mà viết truyện, mà người đời chỉ thưởng ngoạn thửa văn-từ, nên họ Tả mới cô-hành, mà vi-chỉ Kinh Xuân Thu mới mai-một. Kinh Dịch cũng có từ, vốn để phát-dương Hy-Hoàng. Kẻ học không biết, mượn từ để t́m hiểu tượng cuả vạch, ch́m đắm  trong từ, lại thêm vào cổ-kim huấn-chú, sai lầm chồng chất, khiến cho ư sơ-thủy cuả Hi-Hoàng không lưu-hành nơi thế-gian. Ô hô ! Nông cạn làm sao. 

          Chính Dịch Tâm-pháp cuả hai họ Hi, Hoàng, bỗng nhiên  được từ một dị-nhân ở Lư-sơn (hoặc nói được từ Hứa-Kiên). Có người hoài-nghi mà hỏi th́ ta trả lời rằng: "Sao lại nghi ngờ? Xét lại thửa nghị-luận là được rồi. Ngày xưa Tố-vấn cuả Hoàng-Đế, Đại-truyện cuả Khổng-tử, người đời có nghi ngờ". Thường nói: "Đời có người năng làm ra Tố-vấn sao?  Đời có người năng làm ra Dịch Đại-truyện sao? Thửa bản chân không phải là Hoàng-Đế, Không-tử th́ cũng là đệ-tử cuả các vị đó". Về Chính-Dịch Tâm-pháp, tôi cũng nói: "Nếu không phải cuả Ma-y Đạo-giả th́ cũng là cuả môn-đồ cuả Ngài. Không coi thửa văn-từ nghị-luận sao? Một giọt chân kim, nguyên-lưu thiên-tạo. Trước không có cổ-nhân, sau không có lai-giả. Vùn vụt ruổi dong tâm-điạ Hy-Hoàng. Quả thật là sách vật ngoại chân-tiên. Ráng đọc mười năm mới mong thấm nhuần, cảm thông để biết rằng Dịch-đạo lớn lao đến như thế. Đươc người như thế mới cùng nhau đọc. 

         Cần nhắc lại là Hi-di Tiên-sinh là khai-tổ cuả Hoa-âm-sơn Dịch-phái. Nhị-tổ là Bá-trưởng Mục-Tu , Tam-tổ là Minh-dật Trùng-Phóng , tứ-tổ là Đỉnh chi Lư Chi Tài , c̣n ngũ-tổ chính là Thiệu Ung (1011-77), tự Nghiêu-phu, thụy Khang-tiết, ta quen gọi là Thiệu-tử. Tiên-sinh là tác-giả của Hoàng Cực Kinh Thế Thư, Ngư Tiều Vấn Đối và Kích Nhưỡng Tập.

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 151

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com