www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 19

 

CẬN-HIỆN-ĐẠI DỊCH

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 145) 
 


            
Đây là thời-kỳ trăm hoa đua nở với hỗ-trợ cuả Toán-học, Thiên-văn-học và Khoa-học. Cận-hiện-đại Dịch gồm có các trị-Dịch-gia như: Lưu Phụng-Chương (1859-1935) với Chu Dịch Tập Chú 周易, Hàng Tân-Trai 杭辛齋 (1869-1924) với bẩy dịch-thư (Dịch Khế 易楔, Học Dịch Bút Đàm Sơ Nhị Tập 學易筆談初二集, Dịch Số Ngẫu-Đắc易數偶得, Độc Dịch Tạp Thức 讀易雜, Ngu Nhất Lục Dịch-Thuyết Đính 愚一錄易說訂, và Thẩm thị Cải-chính Thiệt Thi Pháp 沈氏改正揲蓍法), Thượng Bính-Hoà 尚秉和 (1870-1950) với hàng loạt tác-phẩm (Chu Dịch Thượng-thị-học 周易尚氏學, Tả-truyện Quốc-ngữ Dịch-tượng Thích 左傳國語易象釋, Tiêu thị Dịch-lâm Chú 焦氏易林注, Tiêu thị Dịch-hỗ 焦氏易詁, Chu-Dich Thời-huấn Quái-khí-đồ Dịch-tượng Khảo 周易時訓卦氣圖易象考, Liên-Sơn Quy-Tàng Quái-Danh Quái-Tượng Khảo 連山歸藏卦名卦象考, Dịch-Chú 易注, Chu Dịch Đạo Lược Luận 周易導略論, Dịch-Lâm B́nh-Nghị 易林評議, và Chu Dịch Cổ Phệ Khảo 周易古筮考, Sở Giản Chu Dịch Hiệu Thích Kư 楚簡周易釋記và Độc Dịch Ngẫu Đắc Lục 讀易偶得錄, Dịch Quái Tạp-Thuyết 易卦雜說, Dịch Phệ Quái Nghiệm Tập Tồn 易筮卦驗集存, Thái-Huyền Phệ-pháp Chính Ngộ 太玄筮法正誤, Đỗng Lâm Phệ Án 洞林筮案, Quách-Phác Đỗng Lâm Chú郭璞洞林注), Từ Ích Tu 徐益, nguyên danh Từ-Ngang 徐昂 (1877-1953) với nhiều Dịch-thư (Kinh-thị Dịch-truyện-tiên 京氏易傳, Thích Trịnh-thị Hào-thần-bổ 氏爻辰, Chu Dịch Ngu-thị Học 周易虞氏, Chu-Dịch Đối-tượng Thông-thích 周易象通, Hà-Lạc Số Thích 河洛數釋 , Kinh-Truyện Hỗ Dịch 經傳, Hào Thần Biểu 爻辰表, Dịch-lâm Khám-phức 易林勘), Vu Tỉnh-Ngô 于省吾 (1896-1984) với tác-phẩm độc-đáo: Song-kiếm-Di Dịch-Kinh Tân-chứng 雙劍誃易, Vương-Mô với 2 tác-phẩm (Kinh-Pḥng Dịch-Truyện京房易傳 và Kinh-Pḥng Dịch Phi Hậu 京房易飛候), Hồ Phác-An 胡朴安 với 3 Luận-văn (Chu Dịch Cổ Sử Quan 周易古史觀, Dịch Kinh chi Chính-trị Tư-tưởng 易經之政治思想 và Dịch Chế-khí Thượng Tượng Thuyết 易制器尚象說), Cao Hanh 高亨 với 3 Dịch-thư (Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú周易古經今注 Chu Dịch Cổ Kinh Thông-Thuyết 周易古經通說 và Chu Dịch Đại Truyện Kim Chú 周易大傳今注), Lư Kính-Tŕ 李鏡池 với 2 tác-phẩm (Chu Dịch Thông-Nghiă 周易通義 và Chu-Dịch Thám Nguyên 周易探源), Tào Vi Lâm 曹為霖với Dịch-học Sử-Kính 易學, Từ Cân-Đ́nh 徐芹庭 với 7 tác-phẩm (Diễn Dịch Xiển Vi 衍易闡微, Lưỡng-Hán Thập-lục-gia Dịch-học Xiển Vi 兩漢十六闡微, Ngu-thị Dịch Thuật-giải 虞氏, Chu Dịch Dị Văn Khảo 周易易文考, Chu-Dịch Cử-Chính B́nh-Thuật 周易評述, Chu Dịch Lục-thị Học 周易陸氏學 và Ngụy Tấn Dịch-học Thất Gia chi Nghiên-cứu 魏晉學 七家之研究, Bạch-thoại Dịch Kinh 白話易經, soạn chung với Nam Hoài-Cẩn), Văn Nhất Đa 文一多 (1899-1946) với Chu Dịch Nghiă-Chứng Loại-Toản周易義證類纂, Chu Tự Thanh (1898-1948) với Kinh-Điển Thường-Đàm 經典常談, Nam Hoài-Cẩn với 2 Dịch-thư (Dịch-Kinh Hệ-Truyện Biệt-Giảng 易經繫辭傳別講 và Dịch-Kinh Tạp-Thuyết 易經雜), Khuất Vạn-Lư 屈萬里 với 3 tác-phẩm (Tiên Tần Hán Ngụy Dịch-lệ Thuật-b́nh 先秦漢魏易例述評, Thuyết Dịch Tán Cảo 說易散稿 và Độc Dịch Tam Chủng 讀易三種, Nghiêm Linh-Phong 嚴靈峰 với Dịch-học Tân-Luận易學新論, Hoàng Khánh-Huyên 慶萱 với 2 Dịch-thư (Chu Dịch Độc-Bản 周易讀本và Chu Dịch Tung-Hoành Đàm 周易縱橫談), Chu Thiện-Bồi với Chu Dịch Tạp-Quái Chứng-Giải 雜卦, Trương Cẩn-Hội 謹繪 với Chu Dịch Thời-Giải 周易, Lưu Đại-Quân với Chu-Dịch Cổ-kinh 周易古經 (viết chung vói Lâm Trung-Quân), nữ-sĩ Vương-Lực với Trung-hoa Ngũ Thiên Niên Kinh-điển 中華五千年經典, Hoàng Bản-Anh 黃本英 với Dịch-Kinh Triết-học易經哲學. Nay tôi xin giới-thiệu vài ba vị trong các nhà trị Dịch quan-hệ này.

        Lưu Phụng-Chương (1859-1935), phổ-danh là Hoa-Kê, biệt-hiệu Vân-Tâm. Thời dân-sơ phụng mệnh Tổng-thống Lê Nguyên-Hồng đi Khúc-phụ tế Khổng-tử. Khi trở về tự-hiệu là Đại-Tiều. Sinh b́nh lấy dạy học, truyền đạo làm chức-chí.

        Vũ-xương khởi-nghiă đánh đổ triều Măn-Thanh, kiến-lập dân-quốc, ông đảm-nhiệm Học-trưởng Trung-Hoa Đại-học kiêm dạy luân-lư-học. Tiếp đó làm Hiệu-trưởng Hồ-bắc Tỉnh-lập Đệ-nhất Sư-phạm, dạy tu-thân-học. Mỗi sáng chủ-nhật, có giảng đại-nghiă cuả Kinh Dịch trong 3 tiếng đồng-hồ. Chu Dịch Tập-chú là tác-phẩm bất-hủ gom lại các bài giảng cuả các buổi giảng này.

        Hàng Tân-Trai 杭辛齋 (1869-1924), tên thật là Thận-Tu, sống thời Thanh-mạt, dân sơ, người huyện Hải-ninh, tỉnh Triết-giang, cũng xưng là Hải-ninh Tiên-sinh. Họ Hàng là một thanh-niên đắc-chí, được xung vào làm Văn-uyên-các Hiệu-đối, năng được xem đủ loại bí-tịch, được học ở Đồng-văn-quán, hay nghiên-cứu Thiên-văn, Toán-Lư-Hoá.

        Họ Hàng từng tổ-chức Chu-Dịch Học-thuật Nghiên-cứu-hội, lấy tên là Nghiên-cơ Học-xă, tại học-xă từng đảm-nhiệm Chu-Dịch chủ-giảng, soạn thành 6 quyển 'Dịch-khế'. Ngoài ra c̣n viết 'Học Dịch Bút-đàm Sơ-tập', 'Học Dịch Bút-đàm Nhị-tập', 'Dịch-số Ngẫu Đắc', 'Độc Dịch Tạp-thức', 'Ngu Nhất-Lục Dịch-thuyết Đính', (Trịnh Hiến-Nam trước, Hành Tân-Trai án-ngữ), 'Thẩm-thị Cải-chính Thiệt Thi Pháp'. Tất cả các sách này được gom vào 'Hàng-thị Dịch-học Thất Chủng'.

        Thượng Bính-Hoà 尚秉和 (1870-1950), được tôn-xưng là Từ-khê Lăo-nhân, tự Tiết-chi, vốn quê ở huyện Hành-đường. Từ đời Minh đến nay gia-thế không nghèo lắm mà cũng chẳng giầu chi. Đời đời làm ruộng và cũng có học-hành. Thân-phụ ứng-thí nhưng không đỗ đạt, cho đến chết cũng chỉ là cống-sinh. Có hai con: con trưởng là Thức-hoà, tự Tốn-thần; con thứ chính là Bính-Hoà, sai đi du-học để hoàn tất chí cuả ḿnh. Đầu tiên, học-tập ở  thư-viện ấp Long-tuyền, theo học với Ngụy Phụng Thần tiên-sinh. Năm Kỷ-sửu đi thi hương, Tốn-thần đỗ Đằng-lục được bổ vào Quốc-sử-quán,  người ta nói có thể làm quan được. Nhưng v́ c̣n trẻ, khí c̣n thịnh, nên không nhận chức.

Măi đến năm Quư-sửu (1853) mới đỗ Tiến-sĩ, được bổ vào Bộ Công. Năm Quang-tự thứ 32 (1906) được vào Tiến-sĩ-quán. Kịp xẩy ra Cách-mệnh Tân-hợi (1911), chán ngán việc chính-trị, chỉ biết vùi đầu vào trước-tác. Ông có viết ra các sách: Chu-Dịch Cổ-phệ-khảo 周易古筮考, Tả-truyện Quốc-ngữ Dịch-tượng Thích 左傳國語易象釋, Tiêu-thị Dịch-lâm Chú 焦氏易林, Tiêu-thị Dịch-hỗ 焦氏, Chu-Dịch Thời-huấn Khí-đồ Dịch-tượng-khảo 周易時訓氣圖易象考, Liên-sơn Quy-tàng Quái-danh Quái-tượng Khảo 連山歸藏卦卦象考, Dịch Chú , Dịch-lâm B́nh-nghị 易林平, Độc Dịch Ngẫu Đắc Lục 讀易偶得, Thái-Huyền Thuyết Dịch 太玄說, Thái-Huyền Phệ-pháp Chính Ngộ 太玄筮法正誤 , Chu-Dịch Thượng-thị-học 周易尚氏學

          Vu Tỉnh-Ngô 于省吾 (1896-1984), tự Tư-bạc, hiệu Song-kiếm chủ-nhân cùng là Trạch-lũy cư-sĩ, người Hải-thành, Liêu-ninh. Trước Đệ-nhị Thế-chiến, họ Vu có viết được tam-bộ-thư gồm có: 'Thượng-thư Tân-chứng 雙劍尚書新證' và 'Mao Thi Tân-chứng 毛詩新證' và 'Dịch Kinh Tân-chứng 易經新證', xuất-bản năm 1936. Ở đầu sách có Bài Tựa cuả Thượng Bính-Hoà và Bài Tự-tự cuả chính tác-giả. Xin trích-dẫn một đoạn trong có Bài Tự-tự cuả ông:

Trong cuốn Dich Kinh Tân-chứng, ông đề cao Từ-Tượng-Số trong toàn bộ

Kinh Dịch. Theo ông, Dịch Từ-Tượng-Số cuả thời Tần/Sơ-Hán, trải qua Đông-Hán đă mất mát gần hết. Hoạ chăng, các dật-tượng chỉ c̣n t́m thấy trong Tả-truyện và Quốc-ngữ. Đời Tam-quốc, Vương-Bật tảo-tượng, loại bỏ hết các thực-tượng, để suy-diễn không lư, Dịch-nghiă không c̣n sáng tỏ nữa. Muốn biết Dịch-lư, cần giải nghiă quái-hào-từ. Muốn giải Dịch-từ cần am hiểu Dịch-tượng. Tượng đă biết rồi, ắt từ rơ ràng, từ rơ ràng ắt lư minh-hiển. Không rơ tượng, ắt từ lộn xộn, mà lư cũng mù mờ, mông muội. Từ đời Hán đến nay, dùng tượng giải từ duy chỉ có Ngu-Phiên (164-233) đời Tam-quốc, Chu-Chấn (1072-1138) đời Tống, Ngô-Trừng (1249-1333) đời Nguyên và Lai Tri-Đức (1525-1604) đời Minh. Tuy Dịch-thuyết cuả mấy nhà này vẫn c̣n lưu-hành, nhưng dịch-lư vẫn chưa sáng tỏ hẳn, mà c̣n đắm ch́m đi t́m tượng ở những nơi bá vơ rồi lâp ra những Dịch-thuyết tầm phào. Đó là lỗi cuả các người hiền vậy. C̣n như sáu pho Dịch-vỹ do Trịnh-Huyền (127-300) cuả đời Đông-Hán chú, hay những ǵ Mạnh-Hỉ, Kinh-Pḥng nói về nạp-giáp, quái-khí, thế-ứng, phi-phục, hay Trịnh-Huyền bàn về hào-thần đều chỉ là chi ly, dư-duệ, không thể tận-tín được. Gần đây có ông Tiết-chi Thượng Bính-Hoà, dùng Dịch-lâm cuả Tiêu Diên-Thọ đời Tây-Hán để t́m dật-tượng, nhờ đó dịch-tượng vốn u-ám, tối tăm, đă lần hồi sáng sủa, công ấy quả lớn thật. Trong mấy trăm Thanh-nho bàn về Dịch, chỉ có Cao-bưu Vương Dẫn-Chi (1766-18343), và Đức-thanh Du-Việt (1821-1906), tinh-thông về huấn-hỗ, giả-tá, đă giải-thích được khá nhiều Dịch-từ. Chỉ tiếc là ít phát-minh được Dịch-tượng. Các vị khác như Hồ-Vị, Giang-Vĩnh (1681-1762) cắt nghiă bằng Hà-Lạc,  Trương Huệ-Ngôn (1761-1802) thuật lại Dịch-thuyết cuả Ngu-Phiên, Phương Thân Chi sao lục dật-tượng, đều có công với Dịch-học. C̣n như Tiêu-Tuần (1763-1820) chuyên dựa vào thông-biến để giải Dịch, càng biện-luân càng rối mù nên tôi không coi trọng. Thuyết-quái-truyện đời nay không toàn vẹn. Các tượng trong Thoán, Hào-từ, Thuyết-quái-truyện thiếu đến sáu bẩy phần mười. Nếu tăng-cường bằng dật-tượng, suy từ Tả-truyện và Quốc-ngữ, Tuân Cửu-gia, Dịch-lâm, Cổ-văn-tự (Giáp-cốt-văn, Kim-thạch-văn), đời Thương, Chu th́ dịch-tượng được tỏ tường đến tám, chín phần mười. Dịch-học cốt yếu ở chỗ thấu lẽ biến-thông cuả sự vật, tượng cuả vạn-vật. Chỉ bằng vào thuyết-quái th́ tượng không đủ, tượng không đủ th́ từ không rơ, từ không rơ th́ thể không đạt, tượng mù mờ th́ lư không-tưởng. Vương-Bật h́ hục trong thừa, thừa, tỷ, ứng, Tŕnh Y-Xuyên miệt mài trong chốn hư-sơ, quả-yếu, Chu-tử sa lầy trong hiệp-vận và tách xa đời Khổng-tử. Than ôi ! Dịch-học c̣n ǵ nữa đâu ? Thời xưa cổ-nhân dùng Kinh Dịch làm sách bói, để thiết-giáo bằng thần-đạo. Ngày nay thế-giới văn-minh khoa-học, lại c̣n hẹp ḥi chui đầu vào bói toán cát hung, th́ tôi cũng chẳng dám bàn ǵ thêm. Hơn nữa, Khổng-tử đă học Dịch để không phạm thêm lỗi lớn. Tuân-tử bảo là người giỏi Dịch không bói, quả là đă hiểu Dịch một cách sâu xa. Thiệu-tử cũng nói : "Người biết Dịch bất tất phải dẫn dụng, giảng-giải mới là biết dịch. Lời Mạnh-tử chưa hề nói đến Dịch mà Đạo Dịch đă bàng bạc đó đây. Như Mạnh-tử có thể gọi là thiện-dụng Dịch" (Hoàng Cực Kinh Thế, Quan Vật Ngoại Thiên Hạ, Đạo Tâm Đệ-thập-nhi, Tiết 44).

          Ôi ! Dịch  tùy vật mà đặt tượng, tùy việc mà răn bảo. Cơ qua lại, động-tĩnh, lư tăng giảm đầy vơi, kết-quả phải trái, mất c̣n không ǵ là chẳng đầy đủ. Kẻ thành đạt được nó, thu vào mà thu vào mà tu thân, tồn-thành. Chi nó để kinh-thế tế-vật. Nên mới trăm điều nghĩ, một sự đến, khác đường nhưng đồng-quy về một chỗ, quán cổ kim, thông bốn biển. Phù-hợp với Dịch, làm ǵ cũng có lư, trái nghịch với Dịch, hướng đời sai lạc. Thế mới cảm thấy trong cuộc đời dâu bể này, sai lầm ngôn-hạnh cần phải trừng răn và mới   thấu chí-ngôn, tinh-nghiịch gă cuả cổ- thánh-triết vậy.

          Trong Bài Tựa, viết hồi tháng Chạp năm Bính-tư (1936), Thượng Bính-Hoà viết:         

          Thánh-nhân xem tượng, buộc lời. Quái-hào-từ từ đó sinh ra. Dật-tượng được phục-hồi đến tám, chín chục phần trăm. Nhờ Dịch-Lâm cuả Tiêu Diên-Thọ và cũng nhờ dật-tượng, đến tám, chín chục phần trăm những nhầm lẫn trong chú-sớ Tả-truyện được sáng tỏ lại. Chỉ c̣n mỗi kỳ-tự, quái-tự là chưa được thông-suốt hết.

          Kinh Dịch trải qua ba ngàn năm lịch-sử, ngữ-khí đă đổi thay, văn-tự đă bao lần canh cải. Giản-thư thời-đại xa vời, diệu vợi, truyền Dịch phân-kỳ, các nhà trị Dịch dở khóc dở cười làm vậy. Nay những ai muớn giải kinh cần bắt đầu, từ tiểu-học (Philology). Đời Hán tiểu-học c̣n là văn-tự-học (Logography). Từ đời Tùy, đời Đường trở về sau, phạm-vi rộng mở, nên bao gồm văn-tự, thanh-vận (Phonology) và Huấn-hỗ (Commentariology).

          Họ Vu, bạn tôi, tinh-cứu, bác thức cổ-văn tiên Tần, đă từng viết hai cuốn sách là 'Thượng-thư Tân-chứng' và 'Mao Thi Tân-chứng', thật là hai quyển sách quư đời nay. Nay lại viết xong bốn quyển 'Chu Dịch Tân-chứng'. Thấy tôi cũng thường cùng chí-hướng, mới nhờ tôi viết tựa. Tôi đọc thấy cũng lấy Kim-văn hoặc Giáp-cốt-văn chứng-giải Dịch trong những từ hắc buá như 'dụng phữu = dùng đồ sành, đồ gốm', 'Nạp ước tự dữu', 'Hoạch phỉ kỳ xú', 'Đoài vi phu quyết', đáng tin v́ có chứng-cứ hẳn hoi. Ư-nghiă không thể đổi được. Trước đây tôi căn-cứ vào Dịch-lâm, có xiển-minh một số Dịch-tượng, khác với thế-nhân có đến quá bán. Nay tôi thấy Tư-Kịp cũng đồng-bệnh với tôi. Học Dịch chẳng qua là học tượng-số, đều dựa vào huấn-hỗ. Chẳng may, huấn-hỗ thời Tây-Hán trải qua Đông-Hán đă mất gần hết. Tượng đă mất th́ nghiă-lư tượng-số cũng tối tăm lây. Nay chỉ c̣n trông nhờ vào họ Lư. Mà Lư Đỉnh-Tộ thường chép lại cuả các nhà thời Hán/Ngan/Ngụy. Về sau, Tống-nho cùng Thanh-nho đưa ra lắm thuyết, đa-số cũng chỉ dựa vào Tuân-Sảng, Ngu-Phiên mà thôi.

        Hồ Phác-An 樸安 (1878-1947), vốn tên là Hữu-Biện, tự Trọng-minh, Trọng-dân, Tụng-minh, hiệu Phác-an, người thôn Khê-đầu,  Kinh huyện, An-huy. Ông là một nhà trị Dịch sáng giá. Năm 13-14 tuổi, đọc Chu Dịch Bản Nghiă cuả Chu-tử, ông có hỏi hương-sư: "Hào thượng-lục quẻ Khôn: rồng đánh nhau nơi hoang dă, máu đen, máu vàng. Thông thường, máu đỏ hồng, tại sao máu rồng lại đen vàng? Rồng là giống vật ǵ? Hiện giờ không c̣n. Hoặc cho rằng: rồng đánh nhau đă lâu, máu đă khô, biến sang mầu đen". Hương-sư không trả lời được. Một hôm khác lại hỏi: "Quái-từ quẻ Lư: xéo đuôi cọp, không cắn người, hanh. Hào từ lục-tam lại nói: xéo đuôi  cọp, cắn người, hung. Cùng một quẻ, sao lại phân ra cắn người và không cắn người. V́ cớ ǵ?". Hương-sư nói:"Không cắn người nên hanh. C̣n cắn người th́ hung". Lại hỏi: "Đồng nam, trinh-nữ, người đời thường nói đến. Hào-từ sơ-lục quẻ Quan: đồng quan (Như thể đứa trẻ con trai), là đạo tiểu-nhân. Hào-từ lục-nhị: khuy quan, nữ trinh (Như thể ḍm xem đứa con gái), là nết xấu. Thánh nhân đă nói đến từ lâu". Hương-sư  nổi giận, nói: "Làm ǵ có thánh-kinh, mà lại nói như thế". Tôi nói: "Nam nữ cấu tinh, vạn-vật hoá sinh. Há không phải là thánh-kinh sao? Rút cuộc là vật ǵ, kết cấu ra sao? Sau khi kết-cấu, làm sao hoá sinh vạn-vật?". Hương-sư thịnh-nộ gia tăng không nói thêm ǵ nữa. Đến bữa cơm chiều, tôi gắp một miếng thịt kho, thốt nhiên than rằng: "Không thể tin thánh-kinh được". Hương-sư hỏi vặn lư do. Tôi nói: "Hào-từ lục-ngũ quẻ Phệ-hạp: Như thể cắn miếng thịt khô, được nén vàng, không phải là phát tiểu tài sao?". Hương-sư nói: "Tṛ đúng là thằng khờ đi học", rồi cười lớn. Từ đó về sau tôi nghi ngờ Kinh Dịch, nên không đọc nó nữa. Trước 30 tuổi, chỉ đọc mỗi Chu Dịch Bản Nghiă cuả Chu-tử, không đọc bản nào khác. Bất quá, chỉ nghe người ta nói: : "Kinh Dịch là mộtg quyển sách thần-bí, không thể hiểu được". Sau 30 tuổi, bắt đầu đọc 'Dịch Chú' cuả  Vương-Bật, 'Chính Nghiă' cuả Khổng Dĩnh-Đạt, 'Chu Dịch Chiết Trung' cuả nhóm Lư Quang-Điạ, 'Dịch Truyện' cuả Tŕnh-Di, 'Chu Dịch Tập Giải' cuả Lư Đỉnh-Tộ, ''Chu Dịch Tập  Giải Toản Sớ' cuả Lư Đạo-B́nh, mới biết rằng Dịch-học phân ra hai phái Hán, Tống. Dịch-học cuả Vương-Bật tuy khác Hán-Dịch, mà Tống nho cũng không tôn sùng, mặc dầu Tŕnh Truyện có nhiều chỗ giống. Tôi tuy có đọc qua bốn, năm loại Dịch, nhưng đại-nghiă cuả Dịch vẫn c̣n mông lung lắm, đành gác sách lên kệ, không đọc nữa. Bẵng đi vài năm, đến năm Dân-quốc thứ năm (1916), Hàng Tân Trai, ra khỏi tù Vương Thế Khải, có họp các bạn đồng-viện Quốc-hội và nói rằng: "Được chân truyền Dịch học". Hai, ba năm sau, có họp các bạn đồng-viện Quốc-hội tại Quảng-châu, để giảng Dịch. Nhiệt-trào học Dịch sôi động một thời. Thượng-hải có thiết-lập 'Chu Dịch Học-xă'.

        Năm 1939, bị stroke, bán thân bấi toại, trở thành phế-nhân, chỉ biết lấy đọc Dịch làm thú tiêu khiển. Nhân nhớ lời Hàng Tân-Trai, Tiêu-Tuần tôn sùng Hán-học, năng quán-hợp hào-tượng cuả 64 quẻ, không một chữ, một lời mà không quán-thông, Kỷ Đại-Khuê tôn sùng Tống-học, nên năng xiển-phát tính-lư, biến-thông hoá-hợp hào-tượng cuả 64 quẻ, là điều các nhà giảng Dịch lịch-đại chưa làm được. Về sau, Đoan-Mộc Quốc-Hồ, hợp Hán, Tống vào một ḷ, nhất nhất lấy Kinh Truyện hỗ-chứng, không một chữ, một lời là hư-thiết. Lúc ấy, lại tổng-hợp ba sách cuả Tiêu-Tuần (Dịch Thông Thích, Dịch Đồ Lược, Dịch Chương Cú), hai sách Dịch-vấn và Quan  Dịch Ngoại Thiên cuả Kỷ Đại-Khuê, Chu Dịch Chỉ cuả Đoan-Mộc Quốc-Hồ, mà đọc lại kỹ. Một năm hoàn tất. Tiêu-Tuần giỏi lắm: bàng-thông, tương-thác thời hành, ba hàng (tam liệt). Giỏi hơn nữa, là 4 quẻ, 384 hào, hung có thể biến thành cát, lệ (nguy-hiểm) có thể biến thành vô-cữu, duy thành lưỡng-kư-tế. Bản quái đă không thể thăng-giáng được, quẻ khác không thể bàng-thông. Bởi chưng con người là động-vật cuả trời đất. Nội-bộ tư-lự bất-động, ngoại-bộ chân tay bất-động, tức là phế-nhân, Thánh-nhân thấy động cuả thiên-hạ, mà xem thửa hội-thông, duy có động rồi sau mới có hội-thông, lặng hẳn bất-động không phải là bất-động mà  là không loạn động. Nhị-ngũ đi trước, sơ-tứ-tam-thượng theo sau, tức bất loạn động. Tiêu-Tuần gọi là 'đáng vị'. Sơ-tứ-tam-thượng đi trước nhị-ngũ, tức thị loạn động, Tiêu-Tuần gọi là 'thất đạo'. Duy bất loạn động nên có thể cảm mà toại-thông. Lư cuả thiên-hạ, người ngày nay, chân tay không chuyên cần v́ ngoại-bộ bất động vậy. Tư-lự không dùng v́ nội-bộ bất động vậy. Rút cuộc thành lưỡng-kư-tế. Tinh-ư cuả họ Tiêu là ở chỗ đó. Dường như chưa có ai hiểu rơ mà phát-biểu. Kỷ Đại-Khuê, bất quá chỉ nói đến Hà-đồ, Lạc-thư, Tiên-thiên, Hậu-thiên mà thôi.

 

Dịch cuả Đoan-Mộc Quốc-Hồ, tạp-quái, thác-quái, phản-quái, mệnh-quái, hệ-quái, thanh-vận-quái, cho nhiều thí-dụ nhưng tối tăm. Dịch không đáng như thế. Biên-giả cực lực phản-đối ư-kiến thiên lệch này cuả  họ Hồ.

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 147

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com