www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 18

 

TOÀN VIỆT-DỊCH THÔNG-KHẢO

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 143) 
 

Duy-Biến Sử-Trắc

 

Ngoài ra tôi có thuật nhi bất tác một môn học cũ mà mới mệnh-danh là Duy-biến Sử-trắc (Change Cliometrics), dùng Dịch-toán mà viết Việt-sử. 

Nhận thấy Hoàng-cực Kinh-thế quá phức-tạp và tuyến-tính, và Thái-ất Thần-kinh, sở-trường của Tŕnh-quốc-công Nguyễn Bỉnh Khiêm, dựa vào song-tuyến-tính ngẫu-nhiên và gốc thời-gian “Thất-tinh tụ-hội” thiếu chính-xác, tôi đành viết các quẻ cuả Kinh Thượng và Kinh Hạ trên 2 dải Möbius cá biệt, cắt chúng tại hai yếu-điểm Quyết (nhất dương sinh) và Cấu (nhất âm sinh), và được bốn khúc: 

 1.Kiền Bác; 2. Phục Ly; 3.Hàm Quyết; 4.Cấu Vị-tế.

Xoay ngược 2 khúc cuối lại, đổi chỗ 2 khúc đầu rồi ráp lại thành một h́nh vành khăn hoặc một dải MÖbius duy-nhất với hậu-ư Bó Thớ (Fiber Bundle) gồm 4 khúc mới: 

          1'. Phục Ly; 2'.Kiền   Bác; 3'. Quyết Hàm; 4'.Vị-tế Cấu,

trên đó lịch-sử vạn-quốc tự cổ chí kim, từ đông sang tây, cứ lăn không trượt và đụng nẩy tại chỗ ráp. Ở đó có một giếng thế nguyên-lượng, giữ vai tṛ bức tường Planck mà Đế dí dỏm dựng lên để không ǵ vượt nổi. Lịch-sử mỗi nước sẽ vẽ một đường ghềnh trên dải Möbius sở-quan với khởi-điểm và thời-xích (metrics) cá-biệt. 

Cần nhắc lại là dải Möbius là 1 mặt ghềnh chỉ có 1 mặt. Muốn có 1 dải Möbius ta chỉ cần lấy 1 dải giấy dài h́nh chữ nhật, vặn nghéo nửa ṿng rồi ghép 2 đầu A, B với nhau như H́nh 23. ngoài ra, nếu ta cắt đôi dải Möbius dọc theo trung-tuyến ta vẫn có một dải Möbius khác, dài gấp đôi.

                     H́nh 18.4 Cách thiết-lập một dải Möbius 

Để tiện việc tính toán Bắc-sử, tôi lấy chẵn 1 năm là 366 ngày. Trong trung-chu-thiên đang xét này, mỗi hào là 10 năm. Thời-khoảng mỗi trung-chu-thiên là 3660 năm, được mệnh-danh là thời-xích. Như vậy ta chỉ cần thời-khoảng của 61 quẻ: không kể quát <Kiền|Khôn> là cửa ngơ cuả vũ-trụ và lịch-sử, và quát trụ dẹt <Kư-tế|Vị-tế> chỉ tính làm một quẻ (một  mặt), 60 quẻ c̣n lại mỗi quẻ quản 60 năm.  

Đối với Sử Vạn-quốc, ta chỉ cần đổi thời-xích và khởi-điểm. Bắc-sử được ghi lại từ thời Phục-Hi ở quẻ Phục, cho đến tạn ngày mai (tạn = asymptotically), lấy từ Kiều: Cỏ non xanh tạn chân trời), với đầy đủ “Tạo-hoá hí-trường (God ET Field)”, “Sóng lớp phế-hưng” và “Chuông hồi kim cổ” cuả Bà Huyện Thanh-quan.         

Rất may là Nước Văn-lang ta tức Mlàng thời Hùng-vương có cùng “vùng phụ-cận cuả tâm tỷ-cự” với Châu Đào-Đường cuả vua Nghiêu là vùng Động-đ́nh-hồ, nên có cùng chu-kỳ sử-trắc là 3660 năm. Khởi-điểm lập-quốc được gọi là lạc-điểm. Nam-sử bắt đầu từ thuở Kinh-duơng-vương dựng nước ngay tại cửa ngơ Kiền-Khôn cuả Dịch, vào quăng năm Nhâm-tuất (2879 B.C.). Như thế Việt-sử đang ở Hào Lục-tam quẻ Dự với hào-từ: "Hu Dự, hối, tŕ hữu hối" (Ngó kẻ trên mà đam mê là hối-hận, muộn màng lại càng hối-hận) . Thảo nào!        

Không ǵ bằng dùng Dịch-truyện giải Dịch-văn khi đọc và học Dịch cũng như  dùng Đạo xem Đạo,  dùng Tính xem Tính,  dùng Tâm soi Tâm, và dùng Vật xét Vật khi đọc Hoàng-cực Kinh-thế của Thiệu-tử.  Các Tống-nho khác chỉ mới biết dùng Dịch để viết văn mà thôi.  

Tựu trung, Rừng Văn Biển Dịch bát ngát, thức-giả chỉ c̣n biết xoay vần không trượt, lần theo các nẻo đoản-tŕnh-tuyến (geodesic) và đẳng-giác-tuyến (loxodromy) cuả thời-không duệ-trí hữu-hạn vô-biên này, trong đó tử-không-gian lục-hư đươc điều-hướng theo h́nh vẽ sau đây của toán-gia Fred Bishop:    

      H́nh 18.5  Định-hướng trong Không-gian 6 chiều 
   

Văn-triết-toán-gia Bertrand Arthur William Russell (1872-1970) đă nói: “Toán là một môn trong đó chúng ta không bao giờ hiểu nghĩa những ǵ chúng ta nói cũng như  không biết chúng ta nói đúng hay sai” (Mathematics is the one subject in which we never know the meaning of what we say, nor whether what we say is true).           

Ngay chính thiên-tài vật-lư John Stewart Bell (1928-1990), tác-giả của định-lư Bell nổi tiếng và sách “Speakable and unspeakable in Quantum Mechanics” cũng không hiểu nổi những ǵ ông phát-kiến về toàn-tướng-tính (globality) của vũ-trụ.          

Trong sách “The mathematical analysis of logic”, Cambridge, 1849, George Boole (1815-64) đă đặt ra một đại-số ad hoc cho luận-lư của ông, mà ngày nay ta biết với tên “Boolean Algebra”. 122 năm sau, toán-gia George Spencer-Brown (1923- ) đă tách rời đai-số khỏi luận-lư để trả về cho toán-học, trong tác-phẩm để đời “Laws of Form”, do George Allen and Unwin Ltd., London, xuất-bản, tháng 4-1979. Ông đă khám-phá số-học thực-thụ của đại số của Boole. Môn Toán mới của ông rất trừu-tượng nên không những áp-dụng cho luận-lư mà c̣n có thể dùng để thiết-kế mạch điện trong máy điện-toán chẳng hạn.

          Khi ông đưa sách này cho thầy học cũ của ông là Lord Bertrand Russell đọc, ông này bảo là một tuần sau trở lại để ông phê-b́nh. Đến ngày hẹn, ông lại bảo sáu tháng nữa hẵng trở lại. Sau 6 tháng, ông thú-nhận là chẳng hiểu ǵ mấy nhưng có lời phẩm-b́nh sau đây: 

          “In this book G. SPENCER-BROWN has succeeded in doing what, in mathematics, is very rare indeed. He has revealed a new calculus, of great power and simplicity.”           

Sách này đắc-dụng khi t́m hiểu nội-trúc kiến-thức của chúng ta về vũ-trụ như toán-học đă biểu-đạt cũng như ngoại-trúc mà ta thường thấy trong Tân-vật-lư.

          Riêng đối với người học Dịch nay chân-lư có thể có 4 dạng:  đúng, sai, vô-nghĩa và ảo. Nghĩ cho cùng, Toán-học và Dịch-học cho phép chúng ta nói càng ngày càng ít lời về càng ngày càng nhiều vấn-đề. 

          Ngoài ra ta có thể dùng toán của ông để mô-tả Dịch: 

          Trong Vô-cực, biểu hiện bằng 1 mặt phẳng vô-hạn, nhất-nguyên toàn vẹn, mọi điểm đều giống nhau (pleroma). Ngay khi ta vẽ một ṿng tṛn nhỏ tượng-trưng Thái-cực, ta sẽ có khu-biệt đầu tiên (first distinction), từ đó sẽ nẩy sinh vô-số thế-giới nhị-nguyên (creatura) của âm-dương hay của Geb và Nut (Ai-cập).  

          Từ khu-biệt đầu này, ta có thể bắt đầu vượt từ trong ra ngoài hay từ ngoài vào trong ṿng tṛn. Di-động căn-bản này được biểu-thị bằng phù-hiệu \\  và tương-đương với 1 biến-dịch. Dĩ nhiên, biến-dịch 2 lần tương-đương với bất-dịch. Do đó di-động kép là 1 bất-động. Ta có hai định-đề: 

           Nếu ta tổ-hợp hay ghép các phù-hiệu này với nhau, ta sẽ dược vô-số biểu-thức và định-lư luận-lư cũng như các luật về thay thế hoặc loại-trừ, cho phép ta lập thành những biểu-thức càng ngày càng phức-tạp và ngược lại giản-hoá những biểu-thức phức-tạp. Mời quư-độc-giả kiếm đọc sách này một lần cho biết. Các độc-giả khuynh-toán c̣n có thể thưởng-thức chứng-minh ngoạn-mục của các định-đề Sheffer trong các đại-số cuả Boole.         

Mặt khác, theo lời tác-giả, nếu ta khai-thác triệt để di-động đầu, ta sẽ tạo được một vũ-trụ bao gồm tất cả cơ-sở của Toán-Khoa-Kỹ và có thể tạo ra được cả thời-gian nữa. Chính ông đă xin được một chuyên-bài (patent) cho một hệ-thống chuyển đường rầy xe lửa dùng luận-lư-hệ của ông. Xin bái-phục ông!     

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 145

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com