www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 18

 

TOÀN VIỆT-DỊCH THÔNG-KHẢO

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 142) 
 

Lại nói, người diễn ca trước tiên Kinh Dịch hẳn là Trạng Bùng Phùng Khắc-Khoan (1528-1613) với sách Chu Dịch Quốc-âm-ca 周易國音歌, nay đă thất-truyền.

Ngoài ra, ta c̣n có một số sách Hán Nôm khác giảng nghiă Chu Dịch và các đề-tài liên-hệ, phần nhiều do các tác-giả vô-danh phỏng soạn như: Dịch-lược, Dịch-kinh Chính-văn Diễn-nghiă , Dịch-nghiă Tồn-nghi , Dịch-truyện Tiên-chú Bị-khảo , Chu Dịch Khải-mông Đồ-tượng , Dịch Xuân Tinh-nghiă , Dịch-học Khải-mông , Chu Dịch Đồ-thuyết , Dịch-quái Diễn-ca v.v.. 

Các danh-sĩ cũng để lại cho chúng ta một vài bộ Kinh Dịch như: 

  • Dịch-Kinh Quyết-nghị cuả nho-sinh Nguyễn-Quỳnh 
     (1675-1735), nội-tổ của Tố-như-ông.

  • Dịch Phu Tùng-thuyết và Dịch-Kinh Phu-thuyết cuả Bảng-nhăn Quế-đường Lê Quư-Đôn (1726-84);

  • Chu Dịch Vấn-giải Toát-yếu   và Dịch-Kinh Đại-toàn Tiết-yếu Diễn-nghiă cuả Thám-hoa Hoa-đường Phạm Quư Thích   (1760-1825);

  • Chu Dịch Quốc-âm Giải-nghiă do Đặng Thái Bàng biên soạn;

  • Trúc-đường Dịch-Kinh Tuỳ-bút cuả Tiến-sĩ Ngô Thế-Vinh ;

  • Dịch Phu Tùng-kư cuả Tiến-sĩ Nguyễn-Nha ;

  • Dịch-Kinh Giảng-nghiă cuả Phạm-Đan-Sơn ;

  • Dịch-quỹ Bí-áo-tập cuả Thái Thiện-Dưỡng ;

  • Chu Dịch Cứu-nguyên cuả Ứng-hoà Lê-Văn-Ngữ ;

  • Hy-Kinh Lăi-trắc do Tế-tửu Tùng-niên Phạm Đ́nh Hổ (1768-1839) soạn, gồm những câu vấn-đáp về Dịch-kinh Đồ-thuyết.


    Năm 1970, nhà Điạ-lư danh tiếng Dương Thái Ban, anh nuôi cuả ông bạn cố-tri Đại-học Khoa-học Sài-G̣n Đinh-Tiến-Lăng, có cho tôi mượn hai bản Hy-Kinh Lăi-trắc: bản chính cuả Cụ đă rách mấy tờ cuối, c̣n bản photocopy cuả đại-tá Hoàng-văn-Đức, nguyên Cục-trưởng cục Quân-y, rơ và đầy đủ hơn. Sách này thiên về Điạ-lư. Đoạn nào đắc-ư, tác-giả tóm tắt bằng mấy câu lục bát Nôm để người đọc dễ nằm ḷng. Trong sách có một bài thơ Hán Nôm giúp ta nhớ phân-bố nhị-thức cuả 64 quẻ Dịch áp-dụng khai-triển cuả nhị-thức Newton bậc 6:

(a+b) 6  =  a6 + 6 a5b + 15 a4b2 + 20 a3b3 + 15 a2b4 + 6 ab5 + b6

Tôi xin mạn phép chuyển-ngữ toàn Hán bài thơ đó (Xem H́nh 18.2, bên dưới):

H́nh 18.2  Dương-Hỏa Âm-Phù Lục-dương Lục-âm Toàn-đồ

 

Nhất dương tự Phục chí Sư, Khiêm.

Dự, Tỷ tiềm hưng Bác ngưỡng chiêm.

Cấu khởi nhất âm Đồng, Lư, Súc.

Phương tri Hữu, Quyết nghiă đô kiêm.

Tráng, Nhu, Đại-súc, Đoái, Khuê, Phu.

Cách nhị Ly, Gia, đáo Vơng du.

Quá, Đỉnh, Tốn hoàn-hương Tụng, Độn.

Âm, dương-đồ các hữu thiên thu.

Thái, Quy, Tiết, Tổn, tứ an-bài.

Phong, Kư, Bí, Tùy, Phệ, Ích khai.

Hằng, Tỉnh, Cổ tam, Khốn, Vị, Hoán.

Song Hàm, Lữ, Tiệm, Bĩ phương lai.

Lâm, Minh, âm giáng Chấn, Truân, Di,

Thăng, Giải, Khảm, Mông, Quá, Kiển phi,

        Cấn, Tụy, Tấn, Quan viên thập-ngũ.

          Tung hoành ngũ-liệt báo quân tri.

 

一陽自復至師謙, 豫比潛興剝仰瞻; 姤起一陰同履畜, 方知有夬義都兼.

壯需大畜兌睽孚, 革二离家到妄遊, 過鼎巽還鄉訟遯, 陽陰圖各有千秋.

泰歸節損四安排, 豐既賁隨噬益開, 恆井蠱三困未渙, 雙咸旅漸否方來.

臨明陰降震屯頤, 升解坎蒙過蹇披, 艮萃晉觀完十五, 樅橫五列報君知.

  

Có những sách chỉ chuyên dạy làm văn sách về Kinh Dịch trong các kỳ Thi Hương như: Hy-kinh Sách-lược , Dịch-kinh Sách-lược 易經策略, Chu Dịch Sách-lược 周易策略, Dịch-kinh Tinh-nghĩa-lược , Dịch-Kinh Đại-đoạn Sách-mục 易經大段策目, Dịch Xuân Kinh Sách-lược 易春經策略 (Kinh Xuân Thu). 

Có những sách chỉ chuyên về bói toán như: Bốc Dịch Lược-biên 易略編, Bốc Toán-pháp 卜算法, Bốc-chiếm Tạp-biên 卜占 , Bốc-phệ Chính-tông , Thái Ất Thống-tông Bửu-giám 太乙統宗寶鑒, Thái Ất Dị-giản-lục 太乙易簡錄 cuả Lê Quư-Đôn, Dịch-số Cầu-thanh-pháp 易數求聲法 v.v.

_    Các sách như Tả Ao Phụ Hưng Tiên-sinh Điạ-lư Quư-cơ Chân-truyền , Tả Ao Điạ-lư , An-Nam Cửu-long-kinh , Điạ-học Toản-ước-tập , Thiên-Nam Điạ-thế Chính-pháp , Thiết-đàn-tử Điạ-lư Nguyên-cơ  元機, Lĩnh-Nam Nguyễn-thị Tâm-ấn Bí-chỉ-thiên   v.v. lại chuyên về Kham-Dư tức Phong-thuỷ tức Điạ-lư. 

Ngay cả về Đông-y chúng ta cũng có “Hải-thượng Lăn-Ông Y-tông Tâm-lĩnh Toàn-trật” 海 上 懶 翁 醫 宗 心領 全 帙 cuả Lê-Hữu-Trác 黎有晫 (1724-1791), trong đó đầu thiên “Vận-khí Bí-điển 運氣秘典” có chép lại câu cuả cổ-thư: “Có học Kinh Dịch mới học được thuốc”, bởi v́ các lư-thuyết quan-trọng trong Đông-y đều dưạ vào Kinh Dịch cả. Câu này cũng kháp hợp với một câu khác của cổ-nhân: “Thâm ư Dịch giả tất thiện ư y, tinh ư y giả tất do thong ư Dịch 深於易者必善於醫,精於醫者必由通於易。 “(Người giỏi Dịch ắt lành nghề thuốc, người rành nghề thuốc ắt bởi tinh-thông Dịch). Danh-y đời Đường Tôn Tư Mạc nói: “不知易不足言太醫” (bất tri dịch bất túc ngôn thái-y).

周易六壬,並須精熟。 如此乃得為大醫” (Chu Dịch, Lục Nhâm đều nên tinh-thục. … Như thế có thể gọi là đại-y). Trương Cảnh-Nhạc nói: 張景岳易具醫之理,醫得易之用” (Dịch gồm đủ cả y-lư; Y được cái dụng của Dịch). “易醫相通,理無二致” (Y Dịch tương-thông, lư duy có một). 

Ngoài ra ta c̣n có các sách về Đông-y khác như Y Dịch của Trương Giới Tân viết bằng Hán-văn có cả phần diễn-ca bằng chữ Nôm; như Y-Đạo Quốc-ngữ Ca của Tứ-dân Y-quán Nguyễn-đức Vượng soạn; như Y-Đạo Sách-lược gồm 5 bài văn sách vấn-đáp về nhân-thân, tạng-phủ, kinh mạch, khí huyết và một số bệnh thường gặp; hay như Y Tăng Vấn-đáp của y-sĩ Nguyễn Bá Đạt soạn v.v. 

Sau hết, trong số dăm ba dịch-thư của Trung-Hoa được khắc in lại, có quyển Chu Dịch do các Tống-nho tập-chú là khác lạ: bên trên các trang sách, có ghi bằng son lời bàn về Dịch của các sử-gia hay danh-sĩ nước ta như Lê-văn Hưu, tác-giả bộ “Đại-Việt Sử-kư”, Phan Phu Tiên, tác-giả bộ “Đại-Việt Sử-kư Tục-biên”, Ngô Sĩ Liên, tác-giả sách “Đại-Việt Sử-kư Toàn-biên”, Nguyễn Nghiễm, thân-phụ Nguyễn-Du, Ngô Th́ Sĩ (1726-80), tác-giả Việt-sử Tiêu-án, Lê Quư Đôn, đă nói ở trên v.v. Sách này có giữ trong Thư-viện Viện Nghiên-cứu Hán Nôm, Hà-nội, biên-hiệu số AC.367. 

Hai Việt-Nho cuối-cùng hẳn là Tam-nguyên Vị-xuyên Trần-Bích-San (1838-1877), và Tam-nguyên Yên-đổ Nguyễn Khuyến

Cụ Trần-Bích-San người làng Vị-xuyên, huyện Mỹ-lộc, tỉnh Nam-định. Thông-minh rất mực, khi vào học với hoàng-giáp Tam-đăng Phạm-văn Nghị cụ tên là Trần Tằng-Tiễu. Sau v́ hạnh tốt văn hay, thầy mới đổi tên cho là Bích-San. Đỗ giải-nguyên trường Nam (1864) và hội-nguyên cùng đ́nh-nguyên (1865). Vua Tự-đức ban cho hiệu Hy-Tăng để sánh với Vương-Tăng đời Tống cũng liên-trúng tam-nguyên.

Làm tri-phủ Thăng-b́nh, tri-phủ Điện-bàn rồi án-sát B́nh-định (1867). Về kinh  giữ  quyền Hộ-bộ sự-vụ, rồi Lễ-bộ sự-vụ (1869). 

Sau ba bận trèo đèo Hải-vân, Cụ có cảm-tác bài thơ nổi tiếng sau đây:

臺。

回。

月。

埃。

氣。

才。

開。

 

Tam niên tam thướng Hải-vân-đài,

Nhất điểu thân khinh độc văng hồi.

Thảo thụ bán không đê nhật-nguyệt,

Kiền-Khôn chích nhăn tiểu trần-ai.

Văn sơn-thủy phi kỳ khí,

Nhân bất phong-sương vị lăo-tài.

Hưu-đạo Tần-quan chinh lộ hiểm,

Mă đầu hoa tận đới yên khai.

đă được cụ Tô-nam Nguyễn-Đ́nh Diệm Việt-dịch:

    Nhẹ bỗng ḿnh chim lối Hải-vân,

                                  Ba năm qua lại đủ ba lần.

                                  Nửa con mắt ngó trần-ai hẹp,

  Sát ngọn cây trông nhật-nguyệt gần.

   Chửa dạn phong-sương tài chửa luyện,

Không pha sơn-thuỷ bút không thần.

                                   Mây lồng cổ ngựa hoa đua nở,

                                   Có hiểm ǵ đâu lối ải Tần! 

Trong công-đường, lúc nào cụ cũng cho treo bài Hữu-minh mà tôi c̣n nhớ rơ qua trung-gian cuả cố-giáo-sư Hoàng-Trần Hoạch, cháu ngoại Cụ, và ân-sư Sơn-mai Hoàng-Khôi (Xem Tranh “Học-phong Việt-nho”, bên dưới mà phần Bài Hữu Minh được trích-lục dưới đây) :

  潭﹐雁 影。

聲。

應﹐事 空。

_

 

 Nhạn độ hàn-đàm, nhạn quá nhi đàm bất lưu ảnh;

    Phong lai sơ trúc, phong quá nhi trúc bất lưu thanh.

Cố quân-tử sự lai nhi tâm tắc ứng, sự khứ nhi tâm tuỳ không. 

Xin lược dịch ra là:

Đầm thu nhạn đậu rồi bay,

C̣n đâu bóng nhạn, đầm hay không đầm?

Trúc non gió thổi ầm-ầm,

Thoảng qua, tiếng gió khôn cầm, trúc ơi!

Cho nên quân-tử ở đời,

                                 Sự lai tâm ứng, sự dời tâm an.

 

 

Độc Chu-Dịch Kư                      Bài Kư Đọc Dịch

 

Âm Dương bất trắc vị chi thần.             Âm Dương bất-trắc như thần,

Vô-thể, vô-phương dĩ tụ-phân.     Vô-phương, vô-thể, tụ-phân sáu chiều.

Hy Văn Chu Khổng hiêu hiêu tại:       Hy, Văn, Chu, Khổng hiêu hiêu,

Giải Kinh hoàn thị hệ-kinh-nhân.      Giải-kinh phảng-phất ít nhiều hệ-kinh.



 

HỌC PHONG VIỆT NHO

  

        Cụ Nguyễn Khuyến (1835-1910), hiệu Quế-sơn, trước tên là Nguyễn-văn Thắng, là người làng Yên-đổ, tục gọi là làng Và, huyện B́nh-lục, tỉnh Hà-nam, Bắc-Việt. Cụ sinh giờ Nhâm-dần, ngày Tân-măo, tháng Mậu-dần, năm Ất-mùi tức ngày rằm tháng giêng năm Minh-mệnh thứ 16, trong một gia-đ́nh khoa bảng nhưng nghèo. Dân làng Và xưa và nay quen gọi tiên sinh là Cụ TAM v́ trong ḷng họ bao giờ cụ cũng vừa là Tam Nguyên, vừa là Tam Tuyên Tổng-đốc. 

Ông Mền thân sinh Cụ đă mang hận suốt đời Tú-tài. Thụ-giáo ông Hoàng-giáp Phạm-văn Nghị, cụ nổi tiếng là học tṛ hay chữ nhất trường. Năm 18 tuổi, cụ cùng với ông Thân đi thi Hương nhưng không đậu.  Chỉ ít lâu sau, ông Mền mất v́ bạo-bệnh. Kể từ đó anh Khóa Thắng tạm bợ làm nghề thầy đồ, nay Lạng-phong (Nho-quan), mai Kỷ-cầu (Thanh-liêm) kiếm ăn nuôi thân, c̣n mẹ già đă có chị Khóa lo.Nhưng rồi anh Khóa cũng phải trở lại trường tiếp tục sôi kinh nấu sử và không bao giờ vắng mặt những buổi b́nh văn. Trước khi đi dự, anh Khóa Thắng không quên gửi cái dậm ở một nhà người quen gần trường, để sau khi tan học lấy dậm ra đồng kiếm tôm, cua. cá, trọn buổi mới về.

Năm Tự-Đức thứ 17 (1964), đỗ Giải-nguyên trường Hà-nội. Năm sau thi Hội không đỗ bèn đổi tên là Khuyến để tự cảnh-giác, rồi vào Kinh-đô Huế học trưởng Quốc-tử-giám. Năm Tự-Đức thứ  24 (1871) liên-trúng Hội-nguyên và Đ́nh-nguyên là đủ Tam-nguyên; do đó người đời mới gọi cụ là Tam-nguyên Yên-đổ.

Sơ-bổ đốc-học Thanh-hoá, rồi thăng bố-chính Quảng-ngăi. Năm Tự-Đức thứ  35 (1882) được cử làm thông-biện Hà-nội lo việc thương-thuyết với Pháp. Chính vào thời-kỳ này, thể theo lời yêu-cầu cuả Tổng-đốc Hà-nội Trần Đ́nh Túc, cụ có làm bài Văn tế Ngạc-nhi (đại-úy Francis Garnier) bị giặc cờ đen giết: 

Nhớ ông xưa,

Tóc ông quăn, ─ Mũi ông lơ

Ông ở bên Tây ngang tàng ─ Ông sang bên Nam bảo-hộ.

Quan ông to, ông có lon vàng đeo tay; ─ Công ông cao ông có mề-đay đeo cổ.

Mắt ông chiếu kính thiên-lư, đít ông cưỡi lừa ─ Vai ông đeo súng lục liên, miệng ông huưt chó.

Ông định dẹp cờ đen, ─ để yên con đỏ,

Nào ngờ: nó cắt đầu ông đi ─ nó bêu xác ông đó.

Khốn nạn thân ông ─ Đ... mẹ cha nó.

 

Nay tôi:

Vâng mệnh các quan, ─ Tế ông một cỗ.

Xôi một mâm ─ Rượu một hũ

Chuối một buồng ─ Trứng một ổ

Ông ăn cho no ─ Ông uống cho đủ

Hồn ông lên Thiên-đường ─ Phách ông vào Điạ-hộ

Ông ơi là ông ─ Nói càng thêm hổ._


            Bài này không được đọc, chỉ được truyền-khẩu thôi.

Sau đó cụ được làm Sơn Hưng Tuyên Tổng-đốc. Sống trong thời loạn lạc, cụ có thái-độ bất-hợp-tác với người Pháp. Ngán ngẩm thế cuộc, nhân đau mắt nặng, cụ từ quan về nhà dạy học. 

Kể từ khi chữ Quốc-ngữ chính-thức thay thế chữ Nho và chữ Nôm, cũng có mươi bộ Dịch được xuất-bản, như 'Kinh Dịch' cuả cụ Ngô-Tất-Tố (Mai-lĩnh xb), 'Chu-Dịch' cuả cụ Phan Bội-Châu (Khai-trí xb), 'Dịch-Kinh Tân-khảo' cuả ông Nguyễn Mạnh-Bảo (Hoa Sen xb), 'Kinh Chu-Dịch Bản-nghiă' cuả cụ cử Nguyễn-duy Tinh (Trung-tâm Học-liệu xb), 'Kinh Dịch, Đạo cuả Người Quân-tử' cuả Nguyễn Hiến-Lê (Văn-nghệ xb), 'Dịch-Kinh Đại-Toàn' cuả bác-sĩ Nguyễn-văn Thọ (tác-giả tự xb) v.v..

C̣n nhớ trào đầu thập-niên 1950 cụ Cử Thanh, chủ-tịch sáng lâp “Hội Dịch Lư Việt nam” ở Sài-g̣n có Việt dịch sách Dịch Kinh Đại Toàn của Hồ Quảng (1370-1418) và Trần Nhân Tích đời Minh. Tiếc rằng sách này chỉ là cảo-bản viết tay cho các hội-viên chuyền tay học tập.

Tất cả các bản Việt-Dịch duy có mỗi bản cuả cụ cử Nguyễn-duy Tinh là tương đối ít sai về chữ, âm và nghiă và gồm đủ cả Kinh lẫn Truyện.

Ông Chủ-tịch thứ hai và cuối cùng của Hội là Giáo-sư Xuân-phong Nguyễn Văn Ḿ là người tôi có hội kiến vài lần cùng với ông bạn phó-chủ-tịch là kỹ-sư hàng-không Lê Phú Kính. Cả hai vị chủ-tịch của Hội đều đọc tên quẻ số 36 là Địa-hỏa Minh-sản (Minh-di) mà không một ai hiểu tại sao. Có lần để nhớ tương-quan Quái/Thủ qua quái-khí trong “Chính Quang Thuât ” của “Ngụy Thư ”, v́ luật bằng trắc, tôi đă phải dùng đến danh xưng này (Xin xem Chương 10: THÁI HUYỀN CHUẨN DỊCH, bên trên).

Cụ Cử Thanh có sáng-kiến là vận-mệnh Nước Ta trong những năm 1945-1970 ứng với quẻ #36 Điạ-hoả Minh-di mà Cụ đổi tên thành Minh-sản nại cớ rằng giai-đoạn này là di-sản cuả Việt-minh qua tay của HCM (HCMinh di-sản th́ cũng vậy). Tôi ức-đoán Cụ dùng Dịch-lư hay Thái-ất Thần-kinh như Cụ Trạng Tŕnh ngày xưa.

Cần nói ngay là Dịch cuả Văn-minh Hồng-hà (Hoà-B́nh) giống Dịch nguyên-thủy cuả Văn-minh Hoàng-hà ở chỗ trọng âm-dương giao-biến mà coi thường ngũ-hành Kim Mộc Thủy Hoả Thổ, một thứ-tự rất Việt-Nam có ghi trong Bạch-hổ-thông do Ban-Cố , tác-giả bộ sử bất-hủ Tiền-Hán-Thư , soạn. Chính các danh-y Hoa-Đà, Biển-thước và Quách Ngọc cũng chỉ luận bàn âm-dương mà có bao giờ nói đến ngũ-hành đâu. Trong khi Dịch cuả Văn-minh Dương-tử-giang lại coi nặng ngũ-hành sinh-khắc mà xem thường lư-thuyết âm-dương. Chu-tŕnh khắc đi theo năm cạnh ngôi sao (Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, Hoả khắc Kim), c̣n ṿng sinh lại đi theo chiều kim đồng-hồ trên ṿng tṛn ngoại-tiếp ngôi sao Ngũ-hành này (Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim). Ngũ-hành chỉ có thể phụ-hội với âm-dương. Ngũ hành đơn độc chỉ như cái xác không hồn. Ta có thể liệt-kê tính-chất của ngũ-hành trong bảng sau đây: 

Ngũ-hành

Mộc

Hoả

Thổ

Kim

Thuỷ

Đặc-tính

Uốn được

Bốc lên

Gieo trồng, gặt hái

Đúc được

Chẩy thấp

Ngũ-đức

Nhân

Lễ

Thánh/Thành-tín

Nghĩa

Trí

Tứ-tượng

Thiếu-dương

Thái-dương

ÂmDươngQuânb́nh

Thiếu-âm

Thái-âm

Bát-quái

Chấn, Tốn

Ly

Cấn, Khôn

Kiền,Đoài

Khảm

Can

Giáp, Ất

Bính, Đinh

Mậu, Kỷ

Canh, Tân

Nhâm,Quư

Chi

Dần, Măo

Tỵ, Ngọ

Th́n,Tuất, Sửu,Mùi

Thân,Dậu

Tuất, Hợi

Phương

Đông

Nam

Trung-ương

Tây

Bắc

Mùa

Xuân

Hạ

Tứ-quư

Thu

Đông

Mùi

Tanh

Khét, khê

Thơm

Thối

Hôi

Mầu

Xanh

Đỏ

Vàng

Trắng

Đen

Mùi vị

Chua

Đắng

Ngọt

Cay

Mặn

Ngũ-thể

Gân

Máu

Thịt

Da, tóc

XươngTủy

Ngũ-tinh

Mộc-tinh

Hoả-tinh

Thổ-tinh

Kim-tinh

Thuỷ-tinh

Ngũ-âm

Giốc

Chuỷ

Cung

Thương

Soá

3, 8

2, 7

5, 10

4, 9

1, 6

28 Tú

Tú 1-7

Tú 22-28

 

Tú 15-21

Tú 8-14

Ngũ-thần

Tinh

Nhật

Địa-cầu

Tú/Thần

Nguyệt

Ngũ-đế

Phục-hy,

Đại-Vũ

Viêm-đế,

Văn-vương

Hiên-viên

Hoàng-đế

Thành

Thang

Tần Thủy

Hoàng-đế

Ngũ-lực

Lực yếu

Lực mạnh

Phản-hấp-lực

Lực

Điện-từ

Hấp-lực

Ngũ-sự

Hành-động

Nh́n

Nghĩ

Nói

Nghe

Ngũ-khí

Gió

Nóng

Sấm sét

Lạnh

Mưa

Ngũ-tạng

Can (gan)

Tâm (tim)

T́ (lá lách)

Phế(phổi)

Thận

Ngũ-quan

Tai

Mắt

Mũi

Miệng

Lưỡi

Ngũ-chí

Giận

Vui

Thich, muốn

Buồn

Sợ

 Bảng 18.1  Tương-quan Tượng-chứng cuả Ngũ-hành 

Vô-h́nh trung, Kinh Dịch vạn-biến, vạn năng dạy chúng ta Đạo Làm Người, bất chấp chủng-tộc, ngôn-ngữ, tín-ngưỡng, văn-hoá, chính-trị, giai-cấp, kiến-thức v.v. Ta chỉ cần áp-dụng bẩy nguyên-lư bất-dịch (tiềm-ẩn), tự-dịch, biến-dịch, giao-dịch, phản-dịch, đối-dịch và di-dịch cuả duy-biến biện-chứng-pháp (Dialectics of change) vào đời sống hằng ngày là bao ưu-hoạn, ưu-tư đều tan biến hết vào đan-điền tức Nhất-điểm (Seika no iten) cuả Hiệp-khí-đạo (Aikido), khi ngồi thở misogi, nằm ngay tại trực-tâm của tứ-diện mà đỉnh chóp là đỉnh đầu nơi huyệt bách-hội, và 3 đỉnh đáy nằm tại mút 2 đầu  gối và mút 2 ngón chân cái đè lên nhau. 

Ngay như lá cờ vàng ba sọc đỏ đây luôn luôn nhắc nhở chúng ta là ba vạch liền biểu-tượng quẻ Kiền Tiên-thiên ở phương nam và tượng-trưng ba miền Bắc, Trung, Nam. Màu đỏ sắt son là chính-sắc cuả Viêm-thiên tức Trời Nam. Nền vàng biểu-trưng mầu da cuả giống ṇi cũng như mầu quốc-thổ. Trời đất, âm-dương đầy-đủ cả. Mà ta biết rằng quẻ Kiền dẫn đầu 64 quẻ cuả Kinh Dịch với Đại-tượng-từ: 健。君 息。Thiên hành kiện. Quân-tử dĩ tự-cường bất tức) nghiă là: Trời vận-hành mạnh mẽ, quân-tử noi theo đó mà tự-cường không ngừng.

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 144

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com