www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

 3   |    4   |   5 

6   |    7   |   8

  9   |   10  |   11

  12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 13)

 

III  LỊCH TẦU

  

Ôn Tập

 

Ôn cố nhi tri tân khả dĩ vi sư hĩ.
 

溫故而知新可以為師矣。
 

Ôn cũ mà biết mới, có thể làm thầy người ta vậy.

Khổng-tử (Luận-Ngữ, II/11)


Đây là bài giải toán-đề Hải-đảo mà Giáo-sư Đặng Hồng Tiệm đă có nhă ư gửi cho: bài áp-dụng hai lần định-lư Thales, cột trụ của Toàn-đẳng H́nh-học (Geometrical Congruence). Ta có thể dùng định-lư này để chứng-minh định-lư Pythagoras mà không cần phải vẽ h́nh. Cao hơn một bậc là H́nh-học Phóng-chiếu (Projective Geometry): khỏi phải chứng-minh mà chỉ việc định-nghĩa.

Đặt: x = chiều cao hải-đảo,  y = khoảng cách đến hải-đảo và   a = 123 bộ.

  

Đặt h’ = C’D’ , Ta có thể lấy  h ≠ h' , nhưng khi h = h’ , tính toán giản-dị hơn. Vậy th́ ta đặt C’D’ = h.

Đặt:  d = khoảng cách giữa hai cột = 1000 bộ

 z = y + d       (3)

Biện-luận: Theo h́nh vẽ:

Áp-dụng bằng số: a=123 bộ; b=127 bộ;d=1000 bộ;h=30 thước =5 bộ.

Chiều cao hải-đảo là (1 dặm = 300 bộ):

 x = 4 dặm 55 bộ

C̣n khoảng cách đến hải-đảo là:

 y = 102 dặm 150 bộ.


CUỘC CẢI-CÁCH LỊCH CUỐI-CÙNG:
LỊCH TH̀-HIẾN 

Xuất-xứ tiếng ghép "Th́-hiến時憲" chính là thiên 'Thuyết Mệnh說命’ trong Kinh Thư (1H, tr. 175a): "Duy thánh th́ hiến. 惟聖時憲。 Chỉ có Thánh-vương đặt ra phép-tắc về thời-gian". Truyện chép: "Hiến, pháp dă. Ngôn thánh-vương pháp thiên dĩ lập-giáo. 憲,法也。言聖王法天以立教。Hiến là phép. Bảo rằng: Thánh-vương theo phép trời mà lập-giáo". Gọi Lịch-thư là Th́-hiến-thư 時憲書chính là giả-tá vậy, cốt để tỵ-húy Hoàng-đế Cao-tông Hoằng-Lịch tức Vua Càn-Long 乾龍.

Lịch này được soạn từ cuối Đời Minh và dùng pháp-độ Tây-phương để biên thành Sùng-trinh Lịch-thư 崇禎và được thực-trắc trong 40 năm ṛng. Lịch chưa được chính-thức ban-hành, Nhà Minh đă bị diệt năm Giáp-thân (1644). Như vậy phép lịch của Quách Thủ Kính đă được dùng trong suốt 363 năm mà không hề được hiệu-chính lại khí-ứng. Bởi thế nên ngày sóc, tuế-thực dần dần sai lệch. Vả chăng hàm-số bậc 3 mà Quách Thủ Kính đă dùng để tính vị-độ Mặt Trời, Mặt Trăng không đủ chính-xác để biểu-diễn vận-hành các thiên-thể. Hồng-vũ nguyên-niên (Giáp-tuất, 1368), cải Thái-sử-viện thành Ty Thiên-giám và cũng đặt ra Ty Thiên-giám Hồi-Hồi.

Minh-sử 明史 (Q. 31, Chí 7, Lịch 1, Lịch-pháp Duyên-cách 曆法沿革, 3I, tr. 412-439) c̣n ghi các sai lệch của Lịch Đại-thống, nhưng lúc đầu Triều-đ́nh có vẻ kém trí-thức về lịch-pháp hoặc giả quá bảo-thủ, nên không biết cải-cách lịch ra làm sao. Tháng Giêng năm Canh-ngọ (1450) có nguyệt-thực, giám-quan tính sai giờ nguyệt-thực nên không cứu-hộ kịp, mà phải tội. May phúc Hoàng-đế Cảnh-thái tha cho. Năm Kỷ-hợi (1479), có nguyệt-thực tháng Một, giám-quan không tính trước. Hoàng-đế Thành-hoá phán rằng : "Thiên-tượng huyền-vi", rồi không  bắt tội. Ngược lại, năm Tân-sửu (1481) có người bàn nên cải lịch lại bị kết tội ăn nói hồ-đồ! Vài thiên-văn-gia đem những quan-trắc ra để biện-chứng lịch sai phải đổi, th́ các giám-quan hay đại-thần Bộ Lễ lại ngụy-biện từ-chối hay tŕ-hoăn. Thậm chí năm Canh-tí (1540), giám-quan tâu rằng ngày sóc nhật-thực mà không có, Hoàng-đế Chính-đức cả mừng và bảo: "Trời thương!"

Suốt 50 năm, nhiều người thấy Ty Thiên-giám tính sai nhật-nguyệt-thực dài dài. Các lịch-gia như Trịnh-vương thế-tử (tức Chu Tái Dục 朱載, con Trịnh-vương Chu-Hậu-Cán), năm Ất-mùi (1595) có tấn-hiến hai sách Thánh Thọ Vạn-niên-lịch聖壽萬年 Luật-lịch Dung-thông 融通 và dâng sớ xin đổi lịch-nguyên ra Gia-tĩnh Giáp-dần (1554) để hiệu-chính tuế-sai 1 sao 75 nhẫn và 4 số ứng đổi làm: khí-ứng = 55.6089 ngày, nhuận-ứng = 19.3619 ngày, chu-ứng = 238.2239 ngày và giao-ứng = 20.4734 ngày. Năm sau, kiểm-sự Hà-nam H́nh Vân Lộ 邢雲路 cũng dâng sớ cải lịch. Cần nhắc lại là thời bấy giờ, bên Âu-châu, năm 1582 (Nhâm-ngọ), Giáo-hoàng Gregory XIII (Cách-lặc-ca-lư đệ-thập-tam格勒哥里第十三) đă đổi ngày 5 Tây tháng 10 thành 15 Tây cùng tháng. Năm Vạn-lịch thứ 44, tuế-thứ Bính-th́n (1516), H́nh Vân Lộ tấn-hiến Thất-chính Chân-số 七正真數.

Mặt khác, thời đó, các giáo-sĩ đạo Da-tô, đa-số thuộc Ḍng Tên (jesuits), đă theo các nhà buôn sang Trung-quốc. Phần nhiều họ có tŕnh-độ văn-hóa rất cao về Triết-lư, Toán-pháp, Thiên-văn, Ngữ-học, và Chính-trị. Họ hiểu ngay rằng muốn chinh-phục quảng-đại quần-chúng, cần phải thông hiểu ngôn-ngữ, văn-tự, và triết-lư bản-địa ngơ hầu đối-đáp bằng cơ với sĩ-phu, đại-quan hay ngay cả với Hoàng-đế. Nhất là Thiên-văn có thể dùng để bắc nhịp cầu truyền-bá Thiên-chúa-giáo. Năm Vạn-lịch thứ 10 (1582), người Ư Matteo Ricci (1552-1610), giáo-sĩ đầu tiên đổ-bộ lên Quảng-đông, vừa giảng đạo, vừa học văn-hoá Tầu, trong 19 năm ṛng. Ông lấy tên là Lị-Mă-Đậu 利瑪竇. Ricci thường được coi là cha đẻ của Trung-hoa-học Thái-Tây. Năm Quí-măo (1601), ông lên Bắc-kinh, và nhân-danh vua Bồ-đào-nha tiến vua Vạn-lịch đồng-hồ. Ông được ở lại kinh, giao-thiệp với quan-lại, nhân-sĩ và giảng đạo. Cuối cùng, ông cải-giáo được một số nhân-sĩ trong đó có Từ Quang Khải 徐光啟 (1562-1633), đậu tiến-sĩ khoa Giáp-th́n (1604). Họ Từ theo học Toán-pháp, Thiên-văn và Cơ-khí với Ricci và vài giáo-sĩ khác và có cộng-tác với họ dịch sách "Les Éléments" của Euclid thành Kỷ-hà Nguyên-bản 幾何原本 và nhiều sách Toán-pháp khác. Có thể nói không ngoa đa-số danh-từ toán-học hiện-đại của Tầu đều bắt nguồn từ các sách dịch này.

Thời đó lịch Tầu không c̣n chuẩn-xác nữa. Công việc tại Khâm-thiên-giám đă trở thành cha truyền con nối và các thiên-văn-gia chẳng c̣n hiểu ǵ về nguyên-lư thiên-văn của lịch-học. Năm Quư-mùi (1403) triều Minh (1368-1644), khi Minh Thành-tổ thiên-đô từ Nam-kinh (vỹ-tuyến 32003’ bắc) lên Bắc-kinh (vỹ-tuyến 39036’ bắc), các ông này cũng không biết cách áp-dụng công-thức lập sẵn để điều-chỉnh nghi-khí cho đúng vỹ-tuyến địa-phương! Ngày mùng một tháng Một năm Canh-tuất (1610), họ rất lung-túng khi đă tính sai nhật-thực nửa tiếng đồng-hồ.

Khi các giáo-sĩ Ḍng Tên khởi-sự cải lịch, họ dùng hệ-thống thiên-văn Cổ-Hy-lạp của Ptolemy (85-165), trong đó Địa-cầu là trung-tâm của vũ-trụ và mọi thiên-thể, kể cả mặt Trời và ngũ-tinh, đều chuyển-động tṛn đều quanh nó. Quỹ-đạo Mặt Trời và hành-tinh lần-lượt được gọi là quân-luân và bản-luân (epicycles).

Sau 14 thế-kỷ, những quan-niệm thiên-văn này dần dần trở thành lạc-hậu. Thiên-văn-gia Ba-lan Nicolaus Copernicus (1473-1543) tức Ca-Bạch-Nệ 歌白泥 tuy vẫn dùng Bản-luân, Quân-luân như xưa, nhưng nhận thấy Địa-cầu và ngũ-tinh đều quay xung quanh Mặt Trời. Năm 1543, ông xuất-bản sách De Revolutionibus orbium cælestium (Luận về Công-chuyển các Thiên-cầu) nhưng sau bị Toà Thánh La-mă cấm năm 1616. Thuyết của có nhiều đỉểm sai, măi cả trăm năm sau khi ông mất, thuyết của ông mới được chấp-nhận. Bên Đan-mạch có thiên-văn-gia Tycho Brahe (1546-1601) chỉ dùng Lục-phân-nghi 六分儀 (sextant) mà cũng đo được vị-trí định-tinh một cách chính-xác. Ông cũng theo dơi vận-chuyển của hoả-tinh.

Sau khi ông mất, cộng-sự-viên và môn-sinh của ông là thiên-văn-gia người Đức Johannes Kepler (1571-1630) tức Khai-Phổ-Lặc 開普勒 lợi-dụng các số thầy ḿnh đă đo được và áp-dụng số-học và h́nh-học đă suy-diễn và phát-minh ba định-luật căn-bản về chuyển-động các hành-tinh:
 

  1. Mọi hành-tinh đều di-chuyển theo một h́nh thuẫn (ellipse) mà Mặt Trời chiếm một tiểu-điểm (focus).

  2. Bán-kính vectơ (tức đường hướng-kính) từ Mặt Trời đến hành-tinh quét những diện-tích bằng nhau trong những thời-khoảng bằng nhau.

  3. B́nh-phương chu-kỳ của mỗi hành-tinh tỷ-lệ thuận với tam-thừa trung-cự (semimajor axes) giữa hành-tinh và mặt Trời.
     

Một giả-thiết mặc-định cho ba định-luật này là phải chuyển-động trong một mặt phẳng đi qua tâm tỷ-cự (barycenter) của Mặt Trời.

Hai định-luật đầu được công-bố năm 1609 nơi Chương 38 sách De motibus stellæ Martis (Về chuyển-động của Hoả-tinh). C̣n định-luật thứ ba măi đến 1618 mới được công-bố trong sách Epitome astronomiæ Copernicanæ (Chỉ-nam về Thiên-văn của Copernic).

Luận-giả Án: Ngày nay ta biết cả ba định-luật đều không đúng hẳn. Hai định-luật đầu chỉ đúng cho hệ-thống hai thiên-thể trong đó các tác-động của thiên-thể ngoại-cuộc không được xét đến. Định-luật thứ 3 chỉ đúng khi khối-lượng của hành-tinh sở-quan không đáng kể đối với khối-lượng Mặt Trời. Về mặt Cơ-học Thiên-thể cả ba định-luật này trở thành định-lư và có thể suy ra bằng Toán Vi-tích-phân (Calculus) từ Định-luật Vạn-vật Hấp-dẫn của Newton.

Bên Trung-hoa, qua năm Kỷ-tị (1629), các giáo-sĩ Ḍng Tên đă chuyển sang hệ-thống Tycho Brahe (1546-1601) tức Đệ-Cốc  第谷, người Đan-mạch, với tuế-thực bằng 365.2421875 (giống như Lịch Hồi-Hồi đời Minh) và sóc-thực bằng 29.530593 giống như Lịch Đại-thống. Chu Tử Ngu tâu 朱子虞: "Người Tây-dương là bọn Bàng Địch Nga 龐迪莪tức giáo-sĩ Tây-ban-nha Didaco de Pantoja (1571-1618) và Hùng Tam-Bạt 熊三拔 tức giáo-sĩ Ư Sabbatino de Ursis (1575-1620) có đem theo lịch-pháp nước họ trong đó có nhiều điều mới lạ đối với lịch-pháp Trung-quốc. Xin sai các nho-thần dịch các sách Thiên-văn của họ để bổ-túc sách vở ta." Bộ Lễ bèn tuyển Từ Quang Khải và Lư Chi Tảo 李之藻cộng-tác với hai giáo-sĩ kể trên để dịch sách, đồng thời cũng sai Ty Thiên-giám chế nghi-khí để trắc-đạc, và sai H́nh Vân-Lộ, vẫn chuyên-trị cựu-pháp, tham-gia vào việc cải lịch.

Năm Quư-sửu (1613), Lư Chi Tảo dâng lên Tây-dương Lịch-pháp 西陽 chỉ-trích cựu-pháp và giới-thiệu thêm hai giáo-sĩ Long-Hoa-Dân 龍華民 người Ư tức Niccoḷ Longobardi (1559-1654) và Dương-Mă-Nặc 揚瑪諾, người Bồ-đào-nha, tức Emmanuel Diaz (1574-1659), tác-giả của sách  Thiên Vấn Lược (3Z). Tuy nhiên phái bảo-thủ vẫn c̣n mạnh, chỉ muốn đổi lịch theo cựu-pháp mà thôi. Trong khi đó họ Từ đă được thăng Thị-lang bộ Lễ, bậc thứ nh́ trong bộ này. Năm Kỷ-tị (1629) được giao trọng-trách sửa lịch. Ông triệu-tập các lịch-gia Tầu, Hồi-Hồi và Tây-dương lại để tiên-đoán nhật-thực tháng 5 gia dĩ so-sánh ba phép lịch Đại-thống, Hồi-Hồi và Tây-dương. Hiển-nhiên tân-pháp Tây-dương đúng nhất. Bộ Lễ bèn lập bốn cục chuyên-trị lịch-pháp là ba cục hiện-hữu và cục thứ tư chuyên về cựu-pháp canh-tân, gọi là Đông-cục để đối với Tây-cục tức cục Tây-dương. Ngày 14 tháng 7 năm Kỷ-tị, họ Từ được cử làm Lịch-cục-trưởng. Ông liền tiến-cử vào Tây-cục Lư Chi-Tảo và hai giáo-sĩ Long Hoa-Dân và Đặng Ngọc-Hàm 鄧玉函tức Johannes Schreck alias Jean Terrenz/Terrentius (1576-1630), người Thụy-sĩ. Năm sau, J. Schreck mất và họ Từ được thăng-chức Thượng-thư bộ Lễ và được vào Nội-các. Ông vẫn quản-đốc việc cải lịch. Ít lâu sau Long Hoa-dân cũng dời lịch-cục nên có thêm hai giáo-sĩ được cử vào Tây-cục: người Đức Thang Nhược-Vọng 湯若望 tức Johann Adam Schall Von Bell (1591-1666), tác-giả sách  Viễn-kính-thuyết (3AA) và người Ư La Nhă-Cốc 羅雅谷 tức Giacomo Rho (1593-1638). Lịch-cục đă đổi thành Thiên-văn-cục. Suốt ba năm, Quang-Khải nỗ-lực đốc-suất dịch sách cũng như cải-thiện tân-pháp bằng cách so-sánh thành-quả quan-trắc của ba lịch-pháp. Ba lần ông dâng vua lịch-thư: năm Tân-mùi (1631), 31 quyển, rồi 21 quyển nữa, năm Quư-dậu 30 quyển. Phái cựu-lịch cũng có Ngụy-văn Khôi 魏文瑰 tiến hai sách Lịch-nguyên và Lịch-trắc để cải-thiện lịch cũ.

Khi c̣n ở Âu-châu Schreck là viện-sĩ Viện Hàn-lâm Cesi (Academia de’ Lincei) cùng với Galileo Galilei (1564-1642), nên khi sang Trung-quốc, trong tám năm liền, ông có viết thư cầu-cứu với Galilei. Giáo-hoàng đương-thời Urban VIII đă cấm-ngặt Galileo không được quảng-bá và cổ-động thuyết thiên-văn của ḿnh, nên dù Shreck có hứa chắc là sẽ tuyệt-đối giữ bí-mật, Galilei cũng không thiết-tha ǵ tới việc giúp-đỡ các giáo-sĩ Ḍng Tên. Thời đó, Galilei có tranh-luận nhiều về thiên-văn với các giáo-sĩ Ḍng Tên Horace Grassi và Christopher Scheiner, nhưng rút cục ông cũng không gửi ǵ sang Tầu cả.

Năm 1623, Schreck nhờ một người bạn chuyển giùm nhu-cầu thiên-văn của ḿnh đến Johannes Kepler (1571-1630), kèm theo nhiều tín-kiện quan-trắc thiên-văn cổ xưa về nhật-nguyệt-thực của Tầu. Kepler là người theo đạo Tin Lành của Luther, nên có học thần-học với ư-định trở thành mục-sư. Tuy nhiên, khi sắp tốt-nghiệp, th́ giáo-sư Toán của tu-viện thành-phố Graz từ-trần, giáo-ban Toán của Đại-học Thübingen thuyết-phục Kepler bỏ thần-học để chuyển sang toán-học. Cho nên ít lâu sau khi tốt-nghiệp, Kepler đă nghiễm-nhiên trở thành một giáo-sư Toán-học. Thời đó ở Âu-châu đang có Thánh-chiến giữa Thiên-chúa giáo và Đạo Tin Lành.  Kế xẩy ra cuộc Chiến-tranh 30 Năm (1618-1648). Kepler bó-buộc phải dời Graz năm 1600, dời Prague năm 1612, dời Linz năm 1626 và thoát khỏi cuộc thảm-sát tại Sagan năm 1628. Cuối cùng, ông được thư của Schreck năm 1627, và hoan-hỉ giúp đỡ và chỉ sau một tháng hồi-âm bằng một bức thư rất dài, trả lời cặn-kẽ từng câu hỏi một và có gửi biếu Schreck vài tác-phẩm đă xuất-bản của ḿnh như Astronomia Nova (Tân Thiên Văn), Astronomia Pars Optica (Liên-hệ giữa Quang-học và Thiên-văn) và cả Tabulæ Rudolphinæ (Bảng Rudolphine) mới tinh-sương nữa. Các sách vở này vẫn c̣n được bảo-lưu tại thư-viện Thiên-văn-đài Bắc-kinh và chúng ta có thấy qua các ghi-chú trên sách là các giáo-sĩ Ḍng Tên đă nghiên-cứu chúng một cách kỹ-càng. Kepler có chia sẻ các tín-kiện nhật-nguyệt-thực Cổ-Trung-hoa với các thiên-văn-gia Âu-châu khác và họ đều nhận-xét rằng chúng không phù-hợp với tính toán. Sau này chính Laplace đă dựa vào các tín-kiện này mà kết-luận rằng Quả Đất từ từ quay chậm lại.

Rằm tháng 9 năm Nhâm-thân (1632), có nguyệt-thực: giám-quan suy ra là Trăng bắt đầu bị "ăn" khắc #1 giờ Măo, nhóm Quang Khải lại tính là khắc #3 giờ Măo, c̣n cục Hồi-Hồi lại tính ra là khắc #0 giờ Th́n. Chưa đến nguyệt-thực mây đă che Trăng không làm sao kiểm nghiệm được. Quang-Khải có điều-trần cắt nghĩa tại sao ba cục lại tính khác nhau.

 

Tháng 10 năm Quư-dậu (1633), Từ Quang-Khải nhân bệnh nặng xin từ-chức Lịch-cục-trưởng và cử người cùng phái là Tham-chính Sơn-đông Lư Thiên-Kinh 李天經 thay thế. Một tháng sau Quang-khải qua đời.

 

Thiên-Kinh bèn dâng vua 29 quyển lịch-thư họ Từ để lại cũng như thành-quả của Tây-cục và hành-độ tính sẵn cuả thất-chính cho những năm sắp tới. Thiên-Kinh cũng tấn-hiến 32 quyển lịch-thư và cũng chế ra được các nghi-khí: nhật-quỹ 日晷, tinh-quỹ 星晷 và khuy-đồng 窥筒. Tháng 4 năm Ất-hợi (1635), ông lại dâng Vua sách Ất-hợi Bính-tư Thất-chính Hành-độ Lịch 乙亥丙子七正行度và 26 quy-tắc Tham-đính Lịch-pháp Điều-nghị 参訂曆法條議. Hai phái Tân, Cựu đua tranh rất hăng. Các lịch của bốn cục đều tính thấy rằng tháng Giêng năm Bính-tư (1636) sẽ có nguyệt-thực. Vua Sùng-trinh sai bốn cục tính rơ Biến-tŕnh. Đúng ngày, bốn cục-chủ cũng như các quan bộ Lễ đều lên Thiên-văn-đài trắc-nghiệm, thấy phép lịch Tây-dương đúng nhất. Vua tỏ ư muốn dùng nhưng c̣n lưỡng-lự v́ lúc bấy giờ các giáo-sĩ lợi-dụng ḷng tin của Vua để tuyên-truyền mạnh-mẽ đạo Da-tô vào Nội-cung.

 

Năm Quư-mùi (1643), ngày sóc tháng 3 có nhật-thực. Lại chỉ ḿnh Tây-cục tính đúng phân mà thôi. Vua phán: "Lịch Tây-cục quả đúng hơn vậy. Trẫm sẽ đổi Tây-pháp thành Đại-thống Lịch-pháp." Lịch chưa kịp ban-hành th́ Nhà Minh đă mất. Tháng 3 năm Giáp-thân (1644), cách-mạng-quân của Lư Tự Thành 李自成, mới xưng vương ở Tây-an từ đầu năm, tiến chiếm Bắc-kinh. Vua Sùng-trinh tự-sát.

   

 

 

    Xem tiếp Kỳ 15

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com