www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 17

 

TAM GIÁO DỊCH

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 136) 
 

Ba tôn-giáo lớn cuả Á-đông là Khổng-giáo, Lăo-giáo và Phật-giáo Thiền-tông đều chọn Dịch làm điểm tựa, nên ta có chia thành: Khổng-giáo-Dịch, Đạo-giáo Dịch (?) và Thiền-giải-Dịch (?). 

Theo nghiă hẹp, Khổng-giáo-Dịch là Dịch riêng cuả Khổng-tử, xoay quanh Thập-Dực trong đó quan-trọng hơn cả là hai thiên Đại-tượng-truyện và Tạp-quái-truyện, c̣n theo nghiă rộng lại là ḍng chính cuả Dịch-học tức Dịch-học cuả Cửa Khổng, Sân Tŕnh.

          Dịch viết ra cốt để minh đạo. Ngũ-đế trị thiên-hạ bằng đạo, Tam-vương trị thiên-hạ bằng đức, c̣n ngũ-bá lại dùng công. Thế-vận thời cổ, dần dà từ đế tụt xuống vương, từ vương tụt xuống bá, Đạo không dưng th́nh ĺnh đến  với ta, bèn lấy trung-hào làm sáng tỏ công, tŕnh bầy 9 quẻ cuả Trọng-ni để sùng đức, tuần-tự mà tiến, từ công tiến lên đức, sau đó gắng gỏi tiệm-cận thăng lên đến Đạo. 

          Đạo Dịch là Đạo 'Một âm, một dương'. Âm là nhu, dương là cương. Đức cuả cương chủ kiện, Đức cuả nhu chủ thuận. Kiện ắt dị tri, thuận ắt  giản-năng. Dị-tri tức lương-tri cuả con người, giản-năng tức lương-năng cuả con người. Lương-tri gốc ở trời, thuộc mệnh, lương-năng gốc ở đất, thuộc tính. Con người nắm đức dị-giản cuả trời đất, tri-năng đều tốt lành, cương nhu gồm đủ. Tính-mệnh ngụ nơi thân. Kịp khi giao với hậu-thiên, lương-tri hoá ra giả-tri, lương-năng hoá ra giả-năng, âm dương không điều-hoà, cương-nhu không xác đáng, tính loạn mệnh dao động, mất hết bỉnh-thụ tốt lành cuả giản-tri-năng cuả trời đất. Cái mà Mạnh-tử gọi là khác biệt giữa con người và cầm-thú là cơ-hi, thứ-dân trừ khử đi, quân-tử ǵn giữ lại. Bảo-tồn lương-tri, lương-năng ấy, ắt là quân-tử. Mất lương-tri, lương-năng ấy, ắt là thứ-nhân. Đạo người quân-tử tăng-trưởng, nhờ giữ ǵn nó. Đạo kẻ tiểu nhân âu-lo, v́ thứ-nhân đánh mất nó. Bởi vậy, đạo quân-tử là phục-hồi lương-tri, lương-năng ấy, mà đẩy lui giả-tri, giả-năng, nên tăng-trưởng. Đạo kẻ tiểu nhân âu-lo, v́ thuận theo giả-tri, giả-năng, mà vứt bỏ lương-tri, lương-năng, nên âu-lo. Lương-tri, lương-năng thuộc về tiên-thiên, giả-tri, giả-năng thuộc về hậu-thiên. Phục-hồi chân cuả tiên-thiên, ắt hoàn thành tính, mệnh, nhập vào sinh-lộ, nên đạo tăng-trưởng. Thuận theo giả -tri, giả-năng cuả hậu-thiên, ắt tính ám-muội, mệnh thụ thương, nhập vào tử-lộ, nên đạo âu-lo. Sáu mươi tư quẻ lấy Kiền, Khôn làm cửa ngơ, chỉ bảo con người lấy đạo cương-nhu giản-dị. Kỳ dư 62 quẻ c̣n lại, chỉ bảo con người lấy đạo biến-hoá giản-dị. Sáu mươi tư quẻ, ba trăm tám mươi tư hào chẳng hề dậy con người biết bất giản-dị mà biến-hoá nó nhưng quy nơi nó. Biến-hoá giản-dị, phục-lương mà làm quân-tử. Không biến-hoá giản-dị, ắt tri-năng bất-lương mà làm tiểu-nhân. Quân-tử hay tiểu-nhân, chỉ tại biết hay không biết biến-hoá, chuộng phân-biệt. Đạo kim-đan là đạo người quân-tử. Đạo người quân-tử tức đạo nghịch-vận âm-dương. Cái gọi là kim-đan là tính hỗn thành giản-dị lương-tri, lương-năng. Cái gọi là hoàn-đan tức là hoàn lại bản-diện cuả lương-tri, lương-năng. Cái gọi là kim-dịch đại-đan tức là đoán-luyện tính hỗn thành giản-dị lương-tri, lương-năng, vĩnh-cửu bất-hoại. Cái gọi là hoả-hầu chính là 64 quẻ biến-hoá giản-tri-năng, đều quy về lương-đạo. Cái gọi là dược-vật tức là cái cương-nhu giản-dị tri-năng đều đạt được lương-đức. Cái gọi là thánh-thai tức là cái cương-nhu giản-dị tri-năng đều quy lương cả. Cái gọi là thoát-thai tức là cái cương-nhu hỗn thành giản-dị bất-câu. Tri-năng nhập thần, hữu-vô bất lập. Đan-kinh, Tử-thư, mười ḥm, một vạn quyển, không ngoài Dịch-lư. Dịch-lư 64 quẻ, 384 hào, không vượt ra khỏi đạo cương-nhu giản-dị tri-năng đều tốt lành. Đạo mưu toan cho quân-tử, không mưu toan cho tiểu-nhân. Đặc-biệt viện lẽ rằng quân-tử năng điều-hành đạo cương-nhu giản-dị, nghịch-vận âm-dương, phục-hoàn bản–lai nguyên-vật cuả lương-tri, lương-năng. Nhất thiết phàm-phu tiểu-nhân, nhận giả làm chân, thuận theo âm-dương hậu-thiên để làm mờ ám thiên-căn, để tự-hủy. Biết tu Đại-đạo tiên-thiên nghịch-vận ấy chăng? 

          Cốt-yếu cuả Khổng-Dịch là ở tại Tạp-quái-truyện, mà ta đă xét kỹ ở các chương trước. Nay xin  ôn lại các điểm chính-yếu.

Đây là Bảng 16 hỗ-quái kèm theo trị-số nhị-phân cũng như các biệt-quái liên-hệ: 

Bảng 17.01 Biểu Hỗ-quái

Muốn có 4 biệt-quái ở cột 5 ta chỉ cần thêm lần lượt vào ở trên và ở dưới tứ-hoạch–quái ở cột 1 hào trên và hào dưới cuả tứ-tượng (:, ;, <, =). 

 

Tạp-Quái-Truyện Trưc-Đồ
 

Theo Bảng 17.1 phụ với H́nh 17.1, ta biết rằng, hai trung-hào oản-kết (quán-xuyến) thành bốn loại : trùng âm, nhất âm nhất dương, trùng-dương và nhất dương nhất âm, đúng là 'phương dĩ loại tụ = Các loài tụ lại từng phương' (Hệ-Thượng I/1).   

                             Bảng 17.2 Thống-Hỗ, Chung-Hỗ, và Bốn Muà

Trùng-âm tượng muà đông, trùng-dương tượng muà hạ, nhất âm nhất dương tượng hai muà xuân-thu. Chính là vẫn-hợp với các câu : 'Nhất hàn nhất thử = Một rét, một bức' (Hệ-Thượng I/3) ; 'Hàn-thử tương thôi nhi tuế thành yên = Rét, bức đắp đổi mà năm tháng thành ra vậy' (Hệ-Hạ V/2) ; 'Dữ tứ-thời hợp kỳ tự = Hợp với thứ-tự cuả bốn muà' (Kiền Văn-Ngôn 30).  

H́nh 17.1 Hỗ-Quái Viên-Đồ

Kiền A cứng, Khôn B mềm

Hai quẻ trên không hỗ thành quẻ khác nên không được coi là hỗ. Các hào cương nhu cuả quẻ Dịch đều từ Kiền, Khôn mà ra. Chính là cái ta gọi là thể. Dưới đây quẻ nào hai trung-hào đều là âm, đều thống-hỗ Khôn. Quẻ nào hai trung-hào đều là dương đều thống-hỗ Kiền.  Quẻ nào hai trung-hào một âm, một dương đều thống-hỗ Kư-tế-Vị-tế. Kiền là cứng, Khôn là mềm, Kư-tế-Vị-tế là cứng mềm phân-biệt. 

Tỷ  H (hỗ Bác) vui, (hỗ Phục)  G lo, (thống-hỗ Khôn)

Lo, vui lấy nghiă từ bản-quái. Đó là đối-đăi cuả Dịch. Mà hỗ-quái lại tùy thuộc bản-quái. Sở dĩ bản-quái ban cho tạp-quái nghiă-lư và thứ-tự, lấy nghiă từ lưu-hành cuả Dịch. Tỷ-Sư hỗ Bác-Phục lại tái-hỗ Khôn. 

Lâm  S (hỗ Phục),  Quan  T (hỗ Bác), (thống-hỗ Khôn)

Nghiă cuả Lâm, Quan là cùng đi với  hoặc cùng t́m đến nhau.  

Truân C (hỗ Bác), Mông D (hỗ Phục), (thống-hỗ Khôn)

Thời Truân hiện rơ ra mà chẳng mất cố-xứ, thời Mông phức-tạp mà rơ rệt.

Sáu  quẻ trên đây đều hỗ Bác-Phục, mà Bác-Phục lại hỗ Khôn, giống như thiên-đạo có lúc thịnh, có lúc suy vậy. 

Chấn  s (hỗ Kiển), Cấn t (hỗ Giải), (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Chấn là dấy lên, Cấn là ngừng lại.

Bác-Phục chưa lên đến cùng cực, mà được Kiển-Giải như thịnh-hàn chưa lui hẳn mà đă được xuân-khí rồi. 

Tổn  I (hỗ Phục), Ích  j (hỗ Bác), (thống-hỗ Khôn)

Tổn-Ích là lúc mới bắt đầu sự thịnh-suy.

Hai quẻ đều hỗ Bác-Phục, là xuân sắp đến mà rét thịnh lại. 

Đại-súc Z (hỗ Quy-muội), Vô-vơng Y (hỗ Tiệm),  (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Đai-súc là thời, Vô-vơng là có tai-nạn.  

Tụy m (hỗ Tiệm), Thăng n (hỗ Quy-muội),  (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Tụy là tụ-họp mà Thăng là chẳng trở lại.

Bốn quẻ đều hỗ Tiêm-Quy-muội, là quẻ ba dương, ba âm, rét bức quân bằng, tượng tuồng như muà xuân, nên đi sau Bác-Phục.  

Khiêm O (hỗ Giải), Dự P (hỗ Kiển),  (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Khiêm là tự xem nhẹ, mà Dự là lười biếng vậy.  

Phệ-hạp U (hỗ Kiển), V (Hỗ Giải),  (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Phệ-hạp là ăn, là không mầu sắc vậy.

Bốn quẻ hỗ Kiển-Giải, Kiển-Giải hơi thiên sang dương. Bảo là hơi thiên sang dương có nghiă là Kiển-Giải đều là thể dương, bởi chưng khảm, cấn, lôi, khảm đều là dương-quái. Hai quẻ Gia-nhân-Khuê là tốn, là ly, là ly, là trạch, là âm-quái vậy. Âm-dương nặng nhẹ đă phân. Bên dưới cứ phỏng theo như thế mà luận.           

Đoài z (hỗ Gia-nhân), Tốn  y  (Khuê),  (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Đoài hiện ra mà Tốn là náu đi vậy.

Hai quẻ hỗ Gia-nhân-Khuê,  Gia-nhân-Khuê hơi thiên sang âm, nên nếu đối-chiếu với Kiển-Giải, ắt rét bức vẫn quân bằng, cho nên theo sau Kiển-Giải. 

Tùy Q (hỗ Tiệm), Cổ  R (hỗ Quy-muội), (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Tùy là không duyên cớ, Cổ là chỉnh-bị vậy.

Hai quẻ hỗ Tiệm-Quy-muội, lấy nghiă rét-bức quân bằng. Cho nên theo sau Kiển-Giải. Các quẻ kể trên hỗ Kiển-Giải, Tiệm-Quy-muội, Gia-nhân-Khuê, đều cùng hỗ Kư-Vị-tế, là không quẻ nào là chẳng rét-bức quân bằng. 

Bác W, Phục (hỗ Khôn)

Bác là mục nát, Phục là trở lại vậy.

Hai quẻ chỉ hỗ Khôn, không hỗ quẻ nào khác, xuân đă sâu, mà lại được Bác-Phục nữa, bởi chưng đương lúc thịnh xuân, lại c̣n trở rét, nên chi cho Bác-Phục theo sau Tiệm-Quy-muội. 

Tấn c (hỗ Kiển), Minh-di d (hỗ Giải), (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Tấn là  ban ngày vậy, Minh-di là bị tổn-thương vậy.

Hai quẻ hỗ Kiển-Giải hơi thiên sang dương, thời-tiết đó rét dễ khuyếch-tán lắm, nên chi cho theo sau Bác-Phục cuả Tiệm-Quy-muội. 

Tỉnh p (Hỗ Khuê), Khổn  o (hỗ Gia-nhân), (thống-hỗ Kư-Vị-tế)

Tỉnh là thông mà Khốn là cùng gặp vậy.

Hai quẻ hỗ Khuê-Gia-nhân, hơi thiên sang âm, để xô về phiá bức, nên bốn quẻ kể trên hợp thủ hai quẻ âm dương quân-b́nh thượng-thừa để dẫn-khởi (bootstrap) Quyết-Cấu. 

Hàm _ (hỗ Cấu), Hằng ` (hỗ Quyết), (thống-hỗ Kiền)

Hàm thời chóng, Hằng thời  chầy.

Hai quẻ hỗ Cấu-Quyết, phản-đối với Bác-Phục bên trên, như thiên-đạo có thịnh-dự vậy. Như thế là vào hè rồi. Cấu-Quyết hỗ Kiền trùng-dương. Bác-Phục hỗ Khôn trùng-âm. Đại-quá-Di, một hỗ Kiền, một hỗ Khôn, âm-dương quân bằng. Âm-dương nặng nhẹ cuả sáu quẻ kể trên đă quân-phân. Bên dưới cứ phỏng theo như thế mà luận. 

Hoán { (hỗ Di), T Tiết | (hỗ Di), (thống-hỗ Khôn)

Hoán là lià, Tiết là khựng lại.

Hai quẻ hỗ Di. Phàm hai quẻ chỉ hỗ một quẻ, tỷ như Hoán-Tiết đều hỗ Di, Phong-Lữ đều hỗ Đại-quá. Đại-quá-Di, một quẻ hỗ Kiền, một quẻ hỗ Khôn. Đại-quá-Di, hợp lại thành tổ-hợp âm-dương cân bằng, tương-đối với Kư-Vị-tế đằng trước, thửa tượng là muà thu. Cho nên theo sau Cấu-Quyết, chẳng phải sau hạ là thu hay sao ?. Hạ-chí nhất âm sinh, trùng động, ve kêu, đượm ư thu. 

Giải h, Kiển g (hỗ Kư-Vị-tế)

Giải là hoăn lại, Kiển là tai-nạn.

Khuể f, Gia-nhân e (hỗ Kư-Vị-tế)

Khuê là ở ngoài, Gia-nhân là ở trong.

Hợp bản-thể bốn quẻ lại mà xem, sẽ thấy Giải-Kiển hơi thiên về dương, Khuê-Gia-nhân hơi thiên về âm, thửa tượng giống như trời làm tạnh, làm mưa, cân bằng chẳng hỗ quẻ nào khác. Phàm 16 quẻ, nên hợp bản-thể lại mà xem, mới thấy cùng luật. Bên dưới cứ phỏng theo như thế mà luận. 

L (hỗ Tiệm), Thái K (hỗ Quy-muôi)

-Thái th́ tương-phản (mâu-thuẫn nhau).

Hai quẻ này hỗ Tiệm-Quy-muội, lấy âm-dương quân-b́nh dẫn-khởi hạ-văn thịnh-thử. 

Đại-tráng b (hỗ Quyết), Độn a (hỗ Cấu), (thống-hỗ Kiền)

Đại-tráng là ngừng lại, Độn là lùi đi.

Đại-hữu   N (hỗ Quyết), Đồng-nhân M (hỗ Cấu), (thống-hỗ Kiền)

Đại-hữu là đông người vậy, Đồng-nhân là thân-thiện vậy.

Cách q (hỗ Cấu), Đỉnh  r (hỗ Quyết), (thống-hỗ Kiền)

Cách là bỏ cái cũ, Đỉnh là lấy cái mới.

Sáu quẻ này đều hỗ Quyết-Cấu tương-phản với sở-hỗ cuả sáu quẻ Sư-Tỷ, Lâm-Quan, Truân-Mông đằng trước, bên đó thịnh-hàn đối với bên đây thịnh thử. 

Tiểu-quá ~ (hỗ Đại-quá), Trung-phu } (hỗ Di), (thống-hỗ Kiền)

Tiểu-quá là quá chớn, Trung-phu là tin.

Phong w (hỗ Đại-quá), Lữ  x (hỗ Đại-quá)

Phong là nhiều nguyên-cớ, kẻ thân ít là Lữ thứ vậy

Ly ^ (hỗ Đại-quá), Khảm ] (hỗ Di)

Ly th́ đi lên mà Khảm th́ đi xuống vậy.

Sáu quẻ hoặc hỗ Đại-quá, hoặc hỗ Di. Hỗ Đại-quá nghiă là bức chưa lui, hỗ Di nghiă là trước thấy trời trở rét, chính là cảnh-tượng tàn-thu vào tháng chín âm-lịch (tam-thu). 

Tiểu-súc I (hỗ Khuê), J (hỗ Gia-nhân)

Tiểu-súc là có ít, là ở chẳng nguyên vậy.  

Nhu E (hỗ Khuê), Tụng F (hỗ Gia-nhân)

Nhu là chẳng tiến, Tụng là chẳng thân.

Bốn quẻ đều hỗ Khuê-Gia-nhân, hơi thiên về âm để đổ xô về phiá rét  

Đại-quá \ (hỗ Kiền), Cấu l (hỗ Kiền)

Đại-quá là ngă đổ, Cấu là gặp, mềm gặp cứng vậy.

Tiệm u (Hỗ Vị-tế), Di [ (hỗ Khôn)

Tiệm là con gái về đợi con trai mà đi vậy, Di là nuôi điều chính.

Kư-tế (hỗ Vị-tế), Quy-muội v (hỗ Kư-tế)

Kư-tế là đă định rồi, Quy-muội là sự trọn vẹn cuả người con gáí.

Vị-tế (hỗ Kư-tế), Quyết k (hỗ Kiền)

Vị-tế là đường cùng cuả người con trai, Quyết là quyết, là cứng quyết được mềm. Đạo cuả người quân-tử tăng-trưởng, đạo cuả kẻ tiểu-nhân th́ đáng lo vậy.

1.

A

Kiền

2.

B

Khôn

3.

H

Tỷ

4.

G

5.

S

Lâm

6.

T

Quan

7.

C

Truân

8.

D

Mông

9.

s

Chấn

10.

t

Cấn

11.

i

Tổn

12.

j

Ích

13.

Z

Đại-

Súc

14.

Y

Vô-

Vơng

15.

m

Tụy

16.

n

Thăng

17.

O

Khiêm

18.

P

Dự

19.

U

Phệ-

Hạp

20.

V

21.

z

Đoái

22.

y

Tốn

23.

Q

Tùy

24.

R

Cổ

25.

W

Bác

26.

X

Phục

27.

c

Tấn

28.

d

Minh-

Di

29.

p

Tỉnh

30.

o

Khổn

31.

_

Hàm

32.

`

Hằng

33.

{

Hoán

34.

|

Tiết

35.

h

Giải

36.

g

Kiển

37.

f

Khuê

38.

e

Gia-

Nhân

39.

L

40.

K

Thái

41.

Z

Đại-

Tráng

42.

a

Độn

43.

N

Đại-

Hữu

44.

M

Đồng-

Nhân

45.

q

Cách

46.

r

Đỉnh

47.

~

Tiểu-

Quá

48.

}

Trung-

Phu

49.

w

Phong

50.

x

Lữ

51.

^

Ly

52.

]

Khảm

53.

I

Tiểu-

Súc

54.

J

55.

E

Nhu

56.

F

Tụng

57.

\

Đại-

Quá

58.

l

Cấu

 

59.

u

Tiệm

60.

[

Di

61.

%,

Kư-

Tế

62.

v

Quy-

Muội

 

63.

+&

Vị-

Tế

64.

k

Quyết

      Bảng 17.1 Bảng  64 Quẻ Cuả TẠP-QUÁI-TRUYỆN

Kiền-Khôn là thể, Kư-Vị-tế là dụng. Cho nên Kiền-Khôn mở đấu Bản-Kinh và  Kư-Vị-tế kết-thúc Bản-Kinh. Phiá tả, sáu quẻ Bác-Phục, Tiêm-Quy-muội, Giải-Kiển là dương-quái (posigrams), đều lấy chấn, cấn làm chủ mà thống nơi Kiền-Khôn. Phiá hữu, sáu quẻ Cấu-Quyết, Đại-quá-Di, Khuê-Gia-nhân là âm-quái (negagrams), đều lấy tốn, đoài làm chủ, mà thống nơi Kư-Vị-tế. Tầng ngoài cùng chứa 64 biệt-quái. Tầng kế tiếp, chứa 16 hỗ-quái. Tầng kế, chứa bốn chung-quái. Lấy tượng-hạn mà xem, ắt quẻ nào hỗ Kiền, Khôn đứng đằng trước, quẻ nào hỗ Kư-Vị-tế đứng đằng sau. Nếu lấy tả-hữu mà xem, ắt các quẻ bên tả đều hỗ thành Kiền-Khôn, các quẻ bên hữu đều hỗ thành Kư-Vị-tế.   

Lấy hỗ-quái làm chuẩn, không ở tại hỗ-quái mà ở trong 14 quẻ.

Kiền hỗ thành Kiền, Khôn hỗ thành Khôn, c̣n Kư-Vị-tế, hỗ bắt chéo, như ta thấy bên trên. Trong sáu dương-quái, Bác-Phục, là chấn, cấn giao với khôn, Tiêm-Quy-muội, là chấn, cấn giao với tốn, đoài, Giải-Kiển là chấn, cấn giao với khảm. Cho nên, chấn, cấn lấy hỗ dương-quái làm chính. Âm-quái sáu : Cấu-Quyết, là tốn, đoài giao với kiền, Đại-quá-Di, là tốn, đoài giao với chấn, cấn ; Khuê-Gia-nhân là tốn, đoài giao với ly. Cho nên, tốn, đoài  lấy hỗ âm-quái làm chính. Lấy ba vạch mà nói, cấn là dương-cực mà chấn là dương sinh. Lấy sáu vạch mà nói, Bác là dương-cực mà Phục là dương sinh. Cho nên Bác-Phục tượng-hạn chấn mà đưa lên  đứng đầu dương-quái. Lấy ba vạch mà nói, đoài là âm-cực mà tốn là âm sinh. Lấy sáu vạch mà nói, Quyết là âm-cực mà Cấu là âm sinh. Cho nên Quyết-Cấu tượng-hạn tốn mà đưa lên  đứng đầu âm-quái. Dụng cuả Kiền-Khôn tại nơi Bĩ-Thái, C̣n dụng cuả Khảm-Ly ở nơi Kư-tế-Vị-tế. Cho nên Bĩ-Thái, là Kiền-Khôn giao mà làm tông cuả Kư-tế-Vị-tế. Mười quẻ này cũng không nằm  trong hỗ-quái mà nằm trong tạp-quái. Bởi chưng, các quẻ này không dùng hỗ-quái cắt nghiă mà dùng bản-quái. Kỷ dư, từ Tỷ-Sư trở về sau, từ Nhu-Tụng trờ về trước, đều lấy hỗ-thể mà phân-hạng.  
 
 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 138

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com