www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 15

 

MINH DỊCH



 

 (Tiếp theo Kỳ 134) 
 

Đời Minh quả là thời-kỳ đê-trào Dịch-học mặc dầu có trên 40 nhà trị-dịch. Từ thời Thành-tổ sai bọn Hồ-Quảng 胡廣, Dương-Vinh tu bổ Ngũ-Kinh Đại Toàn , thuần là lập lại Dịch-thuyết cuả Chu-Hi 朱熹, Hồ Nhất-Quế 胡一桂, Hồ Bỉnh Văn 胡秉, không có ǵ là tinh-vi mới lạ cả. Kỳ dư có Lă-Nam với Chu Dịch Thuyết Dực 周易說, Hàn Bang Kỳ 韓邦奇 với Dịch-hoc Khải Mông 易學啟蒙, Mai Trạc 梅鷟 với Cổ Dịch Khảo Nguyên , Dương-Thời 楊時với Kiều-tập Chu-Dịch Cổ Kim Văn Toàn-thư  喬輯周易古今全書, Tiêu-Hoành 僬竑với Dịch-Thuyên 易筌, Hác-Kính với Chu-Dịch Chính-giải 周易, Tào Học Thục 學佺 (Thuyên) với Chu Dịch Thông-luận 周易通論, Hoàng Đoan-Bá 端伯 với Dịch-Sớ , Trần-Đệ với Phục-Hy Đồ-Tán 羲圖, Lư Bản-Cố 李本固 với Cổ-Dịch Vựng-biên 古易, Chu Mưu-Vi với Chu-Dịch Tượng-thông 周易, Hoàng Đạo-Chu 黃道周 với Dịch Tượng Chính 易象正 và Tam Dịch Đỗng-Ky三易. Tiêu-Hoành 僬竑 đề ra thuyết "Lập thành sinh sinh", Trần-Đệ với thuyết "Viên dung vô-ngại" đượm mùi Thiền, đều có chỗ khả thủ.

 Trong các nhà trị Dịch này ta có vài nhà nổi tiếng như Dư Bản (1482-1529), tự Tử-hoa với Hoàng-cực Kinh-thế Thích-nghĩa , Hồ Cư Nhân , tự Thúc-tâm , thụy Văn-Kính với Dịch Tượng Sao , cùng với Tào-Đoan (1376-1434), Tiết-Tuyên với Độc Dịch Lục , Hồ Quảng (1370-1418) và Trần Nhân Tích , đồng-tác-giả cuả Chu Dịch Đại-toàn , Lai Tri Đức với Dịch-kinh Tạp-chú , Đại-sư Thích Trí Húc với Chu Dịch Thiền-giải 周易禪解, Hà Khải với Cổ Chu Dịch Đính-hỗ , Thái Thanh với Dịch Kinh Mông-dẫn , Trần Sĩ Nguyên với Dịch-tượng Câu-giải , Diêu Sĩ Lân với Can Bửu Dịch-giải v.v. Nhưng các vị tôi thích lại là các ông Lai Tri Đức, Hồ Cư Nhân và nhất là Vương Dương Minh. 

Lai Tri Đức (1525-1604) là tác-giả cuả Dịch-kinh Tạp-chú mà bản hoàn-thiện là Đính-chính Dịch-kinh Lai chú Đồ-giải , do Trịnh Sán đính-chính và Lư-Hoàn phụ-khải. Sách đă được Trung-quốc Khổng-học-hội, Đài-bắc, xuất bản năm 1971. Tuy sách này không có bán, nhưng tôi đă đọc rất kỹ. 

Trong Nguyên-tự, ông có ghi được 2 điểm son:

·         Phát-huy triệt-để dịch-thuyết về Thác Tổng bằng vô-số dịch-đồ ngoạn-mục cuả riêng ông cũng như cuả tiền-nhân. DKTC , không đề tên tác-giả,   chỉ giữ lại 8 Dịch-đồ. và đổi chỗ tự-quái mỗi quẻ từ trước ra sau Thoán. Chỉ tiếc một điều là mọi bản DKLCĐG đều thiếu "Tần-thuỷ-hoàng Đồ".

·         Đề-cao vai tṛ quan-trọng cuả Tượng. Ông viết: "Từ khi Vương Bật tảo-tượng đến giờ, nại cớ tượng thất-truyền, các nhà chú Dịch không lư ǵ đến tượng nữa. Tượng là kính vạn-hoa cuả vạn-vật. Nếu bỏ tượng đi th́ lấy ǵ sách-chiếu. Không biết tượng làm sao chú Dịch nổi." Trần Mông Lôi (1651-1723) đời Thanh, trong phàm-lệ sách Chu Dịch thiển-thuật, phê-b́nh rằng: "Duy có Họ Lai thủ-tượng rất tường-tận."    

Hồ Cư Nhân (1434-1484), tự Thúc-tâm , được truy-thuỵ Văn-kính và được tùng-tự tại Khổng-miếu, là người đất Dư thiên. Trong Dịch Tượng Sao (18 Q), ông sao-tích lại những suy-tưởng khi đọc Dịch trong 20 năm. Trong 2 quyển đầu, ông ghi lại các luận-thuyết Đồ-Thư cuả tiên-nho kèm theo những tâm-đắc cuả riêng ḿnh. Sau đó, ông mới sao lục những điều tự-kư cũng như cùng người khác luận Dịch hoặc trực-diện hoặc qua thư-từ. Quyển chót gồm toàn thi ca tóm lược dịch-thuyết giản-minh và xác-thiết cuả ông. Tuy là môn-sinh Ngô Dữ Bật , ông giỏi Dịch hơn thầy ḿnh nhiều. Cho nên dời Minh đều cho là thuần nho, tài có thể sánh với Tào Đoan, Tiết-Tuyên đời bấy giờ. Trưóc-tác cuả ông được lưu vào sài-lục, đến nay được xưng là đạo-học chính-tông. Dịch-thuyết cuả ông giản-minh mà xác-thiết, không chi ly viển vông. Năm Vạn-lịch thứ 25, tức năm Ất-dậu (1597), ngự-sử Lư-Di tâu lên vua cho ông được tùng-tự tại Khổng-miếu. Đ́nh-sớ xưng tác-phẩm cuả ông gồm có Dịch-truyện và Xuân Thu Truyện. Đến nay đă tán-dật gần hết. Trong Kinh-nghiă-khảo, Chu Di-Tôn nói: "Cư Nhân có Dịch Thông-giải, nhưng chưa thấy mặt sách, nên chưa chép vào. Phải chăng sách ấy có tên khác là Dịch Thông-giải chăng? Bản này đầy đủ, nên nghi là hậu-nhân dựa vào nguyên-tự mà làm trùng biên thứ, không phải là thủ-trước cuả Cư-Nhân. 

Vương Thủ Nhân (1472-1528), tự Bá-an , người đất Dư-diêu, tỉnh Chiết-giang. Hồi bé ông tên là Vân và không biết nói. Năm lên năm, được đổi tên thành Thủ Nhân liền biết nói. V́ ông cất nhà ở động Dương-minh cách đông-nam Việt-thành, Hàng-châu, 20 dặm nên  học-giả hàm-xưng ông là Dương Minh Tiên-sinh . Năm Hoằng-trị thứ 12 (1499) ông đỗ đệ-nhị-giáp tiến-sĩ, rồi vào tập-sự ở bộ Công. Năm sau làm chủ-sự bộ H́nh. Dù ông văn vơ song toàn, có tài làm đại-tướng và là một chính-trị-gia và kinh-tế-gia vô song, nhưng hoạn-lộ rất gian-truân v́ bọn gian-thần gièm-pha v́ ghen ghét. Tuy vậy ông cũng lập được công-nghiệp và vơ-nghiệp hiển-hách. Ngoài ra ông c̣n phát-huy được tâm-học giống tâm-học của Lục-tử.

Ông mới làm quan được non 7 năm, vua Vơ-tông bất-minh, v́ tin dùng

tên yêm-hoạn Lưu-Cẩn nên hạ ngục các gián-quan. Ông dâng sớ xin tha, bèn bị vua sai đánh 40 trượng và đầy ra làm dịch-thừa coi trạm Long-trường ở Quư-châu. Sau đó ông dẹp đươc nhiều đám giặc và nổi loạn lớn, nhưng không bao giờ được tưởng-thưởng. Khi thân-phụ ông là Long-sơn-công mất, ông đang làm Nam-kinh Binh-bộ Thượng-thư, tước Tân-kiến-bá. Ông ở nhà đ́nh-gian, rồi được cho nghỉ ở nhà dạy học. Được 6 năm ông lại bị triệu ra dẹp loạn Đoán-Đằng-Giáp. Đánh xong đám giặc này, ông bệnh nặng, rồi mất năm Mậu-tư (1528), nhưng v́ bị bọn Quế Ngạc ganh ghét nên măi đến năm Long-khánh nguyên-niên (1567) đời vua Mục-tông ông mới được phong tặng Tân-kiến-hầu, ban tên thụy Văn-thành và Thủ-Ức con ông được tập bá-tước. Đến năm Vạn-lịch thứ 12 (1584) đời vua Thần-tông, ông được đem vào tùng-tự tại Khổng-miếu, xưng là Tiên-nho Vương-tử. 

Các môn-đệ đem công-nghiệp, ngôn-hạnh và học-thuyết cuả ông chép thành các sách: Truyền-tập-lục (3 Q), Văn-lục (5 Q), Biệt-lục (10 Q), Ngoại-tập (7 Q), Tục-biên (6 Q), và Phụ-lục (7 Q), gộp chung lại thành Vương Văn-thành-công Toàn-thư . Quan-trọng hơn cả là "Truyền-tập-lục" và "Đại Học Vấn" trích từ "Phụ-lục", có bàn luận rất kỹ trong "Dịch-kinh Truyền-tập-lục" của Ito Togai (Y Đằng Đông Nhai). Xin xem phần "Dịch-Thư Trước-luận" (CHƯƠNG 21). 

         Học-thuyết của ông không ngoài lục-quan: Vũ-trụ-quan, Nhân-tính-quan, Đạo-đức-quan, Chính-trị-quan, Giáo-dục-quan và Siêu-tri-thức-quan. Quư cụ Phan Bội Châu (1863-1940) (Khổng-học Đăng), Đào Trinh Nhất (Vương Dương Minh), Trần-Trọng-Kim (1883-1940) (Nho-giáo) và Đỗ-đ́nh Thạch tức Pierre Daudin (1900-1973) (Le Confucianisme), có đề-cập học-thuyết này. Nay tôi chỉ xin lạm bàn vài câu. 

          Thể của TÂM là TÍNH; dụng của TÂM là LƯ. TÂM có thể tuần LƯ mà “TRÍ TRI, CÁCH VẬT ” tức thị “TRÍ LƯƠNG TRI ”. Tâm chỉ-huy TRI và HÀNH; vận-hành của TÂM chính là LƯƠNG-TRI vậy. LƯƠNG-TRI đó biết phân-biệt thiện-ác, biết hành thiện khử ác, nên năng TRI HÀNH HỢP NHẤT .

          Theo ông, Phật Lăo mới chỉ giảng đến "MINH MINH ĐỨC "; Nho-gia mới giảng thấu "THÂN DÂN " để mà "CHỈ Ư CHÍ THIỆN " ngơ hầu tiến sâu vào đại lộ "TU, TỀ, TRỊ, B̀NH". Mặt khác, dùng tiếng Nhà Phật mà nói: Tŕnh-tử, Chu-tử chủ-trương “Trí Tri Tại Cách Vật”, nên gần Tướng-tông. Lục Tượng Sơn và Vương Dương Minh lại chủ-trương: "Cách Vật" tức "Cách Tâm", "Minh Tâm" ắt "Kiến Tính". Thuyết của Lục-tử, Vương-tử coi nặng TÂM, nên gần Tính-tông hơn.         

Ông đă đạt được ba cách tu thân của Khổng-tử: " ;修 人;修己 姓。Tu kỷ dĩ kính; tu kỷ dĩ an nhân; tu kỷ dĩ an bách tính" (Tu thân để kính-trọng, để an-uỷ người và bách-tính).         

"Tận-tâm-luận" của Thầy Mạnh, Thầy Lục, Thầy Vương quả là một tam-đoạn-luận trác-tuyệt và hùng-hồn cho Nho-giáo vậy.         

Sau khi Họ Vương mất Diêu-giang-phái chia thành 9 chi-phái (X. Nho-giáo, Tập II, tr. 289-306): 

1) Chiết-trung Vương-môn , ở vùng Chiết-giang có người lỗi-lạc như Tiền Đức Hồng (1496-1574), hiệu Tự-sơn, chủ-trương "Tứ-vô" ( 之心,無 意,無 知,無   vô tâm chi tâm, vô ư chi ư, vô tri chi tri, vô vật chi vật), hoặc thao-thủ như Vương-Kỳ (1498- 1583), biệt-hiệu Long-khê . C̣n Từ-Ái (1487-1517), tự Viết-nhân , hiệu Hoành-sơn , lại mất sớm, như thầy Nhan-Hồi vậy. Ông là em rể của Dương-minh-tử, đỗ tiến-sĩ, ra làm quan đến chức lang-trung Bộ Công.  Khi Dương-minh ở Long-trường về Dư-diêu, Từ Ái đến xin làm đệ-tử. Ông là người đầu tiên hiểu thuyết "Tri hành hợp nhất" của sư-phụ. V́ mất sớm nên sách của ông chỉ mới nói dến hai thuyết "Tri hành hợp nhất" và "Mặc-toạ trừng-tâm " (Lặng ngồi, làm sáng tỏ tâm ḿnh).         

2) Giang-hữu Vương-môn , ở đất Giang-tây, có được những danh-nho như Trâu Thủ Ích , tự Khiêm-chi 謙之, hiệu Đông-khuếch , Âu-dương Đức , Nhiếp Báo , La Hồng Tiên (cháu ngoại xa của Trần Đoàn), tự Đại-phu, hiệu Niệm-am , Trần Cửu Xuyên , là người hợp nhất được cái " xung mạc vô trẫm" (yên lặng mờ-mịt không có triệu-trẫm) với cảm-tính của ḿnh v.v.

3) Nam-trung Vương-môn , ở vùng Nam-kinh, đất Giang-tô, có  Hoàng Tỉnh Tăng , Chu Đắc Chi , Đường Thuận Chi v.v.

4) Sở-trung Vương-môn , ở vùng Hồ-bắc và Hồ-nam có Tưởng Tín , Kư Nguyên Hanh v.v. không kế-thừa mà c̣n phá-hoại sư-thuyết.

5) Bắc-phương Vương-môn , trong đó có Mục Khổng Huy , Mạnh Thu , Nam Đại Cát v.v.         

6) Việt-Mân Vương-môn , ở vùng Phúc-kiến, Quảng-đông, trong đó chỉ có Tiết-Khản tự Thương-khiêm, hiệu Trung-ly , và Chu Khiêm-trai là khá hơn cả. 

7) Chỉ-tu , do Lư Tài lập ra. Ông cho chân-truyền của Khổng-tử và Tăng-tử là lấy "Chỉ ” để tồn-tâm dưỡng-tính và lấy "Tu " để tỉnh-sát. Ông dùng dĩ-phát mà lập-giáo mà chẳng dùng bản-chỉ vị-phát vô-tri.  

 8) Thái-châu , thuộc tỉnh Giang-tô, do Vương Cấn (1483-1540), tự Nhữ-chỉ, hiệu Tâm-trai , cao-đệ của họ Vương lập ra. cái học cuả ông chủ về cách-vật, nên ông triệt-để "khiết-củ ", cho rằng tâm ta như một cái ê-ke (T-square), quốc-gia như một h́nh vuông: tâm chính, quốc-gia cũng phải chính. thân tâm ta là gốc cuả "cách-vật trí-tri". Làm ǵ cũng phải phản-tỉnh, phản-kỷ. 

9) Trấp-sơn , do Lưu Tông Chu (1578-1646), tự Khởi-đông, biệt-hiệu Trấp-sơn, lập ra vào cuối đời Minh. Chính ông đă chấn-chỉnh lại được học-thuyết cuả Diêu-giang-phái. Ông chủ-trương "Bất lự nhi tri " và "Thận-độc ". (Theo "Đại-học" và "Trung-dung", "thận-độc" là thành-ư. Nghiă thận-độc cuả Dương-Minh là " Thận độc tức thị trí-lương-tri" là thận-trọng nơi lư độc-nhất cuả vũ-trụ). Khi nhà Minh mất, tỉnh Chiết-giang đầu hàng nhà Thanh, ông nhịn đói 20 ngày mà chết. Hoàng Tông-Hy , tự Thái-xung , hiệu Lê-châu , là cao-đệ của ông.  

Tóm lại, từ giữa đời Minh trở về sau triết-thuyết của Dương Minh Tiên-sinh truyền-bá rất nhanh tại Trung-quốc mà c̣n truyền sang cả Nhật-bản khoảng đầu đời Thanh qua danh-xưng Oyomei (âm Nhật-ngữ của ) và với Nakae Toju (Trung-giang Đằng-thụ ) (1608-48) cùng môn-đệ của ông là Kumazawa Banzan (Hùng-trạch Phiên-sơn ) (1619-91), tác-giả của Tập Nghĩa Hoà Thư . Kể từ đó cái học Dương Minh, rất thiết-thực và đầy nghị-lực, đă hoàn toàn thay thế cái học Tŕnh Chu và đạt được kết-quả mỹ-măn ngay thời-kỳ duy-tân trước thời Minh-trị. Huống hồ, môn phái Thái-châu rất thích-hợp với bản–tính người Nhật. Có thể nói không ngoa, đời nay không một trí-thức Nhật-bản chân-chính nào là không đọc sách của Dương Minh Tiên-Sinh.   

 

THƯ TỊCH KHẢO

 

030 Cổ Chu Dịch Đính Hỗ , Minh ● Hà Giai 何楷soạn, Văn-lâm-đường san-bản, 1752

031 Cổ Dịch Khảo Nguyên 古易考原, Minh Mai Trạc soạn, Tục Đạo Tàng bản, 1607.

271 Lai Chú Dịch-Kinh Đồ-Giải 易經圖解, Sơ-bản, Minh Lai Tri-Dức 來知德 chú, Vũ-lăng Xuất-bản-xă, Đài-bắc, Tháng 9-1987.

275  Chu Dịch Tượng-Tượng Quản Kiến 周易像象管見, Minh Tiền Nhất-Bản 錢一本 soạn, Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập IX, Sơ-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 10-1983.

276 Chu Dịch Tượng-Tượng Thuật 周易像象述, Minh Ngô Quế-Sâm 吳桂森 soạn, Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập IX, Sơ-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 10-1983. 

277 Tam-Dich Đỗng-Ky 三易, Minh Hoàng Đạo Chu 黃道周 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 15, Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 7-1995.

315 Chu-Dịch Thiền-giải 周易禪解 , Sơ-bản, Ngẫu Ích Trí-Húc Đại-sư 蕅益智旭大師 trước, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1979.

337 Minh Nho Học-án 明儒學案, 62 Q, Thanh Hoàng Tông-Hy 黃宗羲 trước, 
Thế-giới Thư-cục, Đài-bắc, 1961. 

358 Chu-Dịch Tráp-kư 周易劄記, Minh Độn Trung-Lập 逯中立 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập IX, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

390 Thiên Nguyên Phát Vi 天原發微, Tống Bào Vân-Long 鮑雲龍 soạn, Minh Bào-Ninh 鮑寧 biện-chính, in Thuật-số Tùng-thư 14, Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

399 Hoàng-Cực Kinh-Thế Thích-nghiă 皇極經世, Nhất-bản Nhị-loát, Minh Dư Tử-Hoa 余子華 soạn, Đổng Quốc-Tuấn 董國俊 hiệu-duyệt, Tiết-Thần 薛晨 đính-chính, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 4-1991.

422 Hoàng Cực Tâm Dịch Phát Vi 皇極心易發微, Nhất Bản, Minh Dương Thể-Nhân 楊體仁 trước, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 7-1995.

         

 

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 136

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com