www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 14

 

HOÀNG CỰC KINH THẾ NGÔN SỐ



 

 (Tiếp theo Kỳ 133) 
 

TÂM-HỌC ĐỆ-THẬP NHỊ

 

(022, Q. VIII(, tr. 109-130; 025 , tr. 702-722) 

         

          Học-thuyết cuả Lăo-tử là ĐẠO-ĐỨC.

Học-thuyết cuả Khổng-tử là NHÂN-ĐỨC.

          Học-thuyết cuả Mạnh-tử là TÂM-TÍNH.

          Học-thuyết cuả Thiệu-tử là ĐẠO TÂM.

Khang-tiết thường nói: Lăo-tử được thể cuả Dịch; Mạnh-tử được dụng cuả Dịch, tự phân thành hai khúc. Thiệu-tử có câu thơ: "Tuyết nguyệt phong hoa vị phẩm đề". Đó là muốn bảo sự-vật đều có tạo-hoá. Lại có câu thơ: "Thi vi dục tự thiên-quân nỗ, Ma lệ đương như bách-luyện kim". Hỏi: nỏ ba vạn cân phải như thế nào? Đáp: Không phát tên bừa băi. 

          Người đời c̣n đam mê thuật-số nên cho rằng Ngài thuộc về học-phái Tượng-số. Đối với Ngài, Ngôn, Tượng và Số chỉ là nẻo về cuả Ư: 

          Ngài viết: "Dịch hữu ư-tượng: lập ư giai sở dĩ minh tượng. Thống hạ tam giả hữu ngôn-tượng, bất nghĩ vật nhi trực ngôn dĩ minh sự. Hữu tượng-tượng, nghĩ nhất vật dĩ minh ư. Hữu số-tượng: thất nhật (240, 512, 632¸632_Tượng), bát nguyệt (190),

(Dịch có ư-tượng, sở dĩ lập ư là để làm sáng tỏ tượng. Thống-hợp ba tượng thiên-điạ-nhân để biểu đạt tượng, không nghĩ đến vật mà nói thẳng để làm sáng tỏ sự việc. Có tượng-tượng, nghĩ đến một vật để làm sáng tỏ ư. Có số-tuợng: mùng bẩy, tháng tám). Chú-ư: chỉ-số là số thứ-tự Văn-Vương cuả quẻ, chỉ-số là là số thứ-tự cuả hào. Chỉ-số 0 là Lời Thoán: tỷ như, 240 là lời Thoán quẻ Phục. C̣n như, 632_Tượng ám-chỉ tiểu-tượng truyện cuả hào nhị, quẻ Kư-tế.

 

  1. Tâm là Thái-cực (Tâm tức đạo. Đạo ở nơi ta, nên khởi trước trời đất).
  2. Ḷng người nên như nước ngừng, ngng t định, định ắt tĩnh, tĩnh ắt sáng tỏ.
  3. Cái học tiên-thiên chủ nơi thành, khả dĩ thông thần minh. Không thành ắt không thể đắc đạo.
  4. Tư-tính do trời phú, học-vấn do người tạo ra. Tư-tính từ trong phát ra, học-vấn từ ngoài nhập vào. Tự thành-minh là tính; tự minh-thành là học.
  5. Cái học cuả người quân-tử lấy nhuận thân làm gốc thửa trị-nhân, ứng-vật chỉ là thứ-yếu (Thành ư ắt đức nhuận thân. Nên ngoài cái đó ra, có thể tự ḿnh suy lấy).
  6. Cái học chí-lư, không chí thành th́ không đạt đuợc (Chí Lư là tính-mệnh. Chí thành ắt tận-tính, trí-mệnh.
  7. Thành là chủ tính đầy đủ, vô-đoan, vô phương sở. (Thành là Thiên-đạo. Có thiên tính, ắt Thiên-đạo ở ḿnh ta, không ngưng nghỉ mà thần t́nh).
  8. Năng thuận theo thiên-lư mà động là tạo-hoá tại nơi ḿnh ta (Tạo-hoá tức thiên-lư). Được thiên-lư là không những nhuận-thân mà c̣n nhuận-tâm nữa. Không những nhuận-thân, đến như tính-mệnh cũng nhuận luôn (Thân-tâm tính-mệnh, chỉ là một lẽ thông-suốt).
  9. Thuận theo lư ắt là chuyện thường, ngoài ra là khác thường (Dung là b́nh-thường, dị là phản thường).
  10.  Con người tất có đức-khí rồi sau mới mừng, giận, không xứng làm khanh tướng, chỉ làm thất-phu, dù có học cao hơn thiên-hạ cũng bằng không.
  11.  Lấy vật vui với vật, lấy vật buồn với vật. Cái đó phát ra là trúng tiết (Quan-vật vốn dĩ là đạt đạo Trung-Dung).
  12.  Trung-Dung chẳng thể không phải là thiên-giáng, điạ-xuất, lẽ toan lường sự vật, t́nh tế-độ nhân-quần, làm những việc mà trong ḷng b́nh-an, đó là đạt vậy (Tức nghiă cuả tuần-lư, cuả thuận theo lư) (Vật-lư với nhân-t́nh đều b́nh-yên với tâm ta, tức thị nếu đạo c̣n có một chỗ chưa ổn không phải là đạo nữa. Có một lời mà có thể thi-hành suốt đời là đức nhân, duy chỉ c̣n chữ thứ. Điều đó rất gần với đạo Trung-Dung).
  13.  Trong phép Trung-Dung, từ trong ra là trời, từ ngoài vào trong là người (Tự thành-minh là trong mà ngoài, tự minh-thành là ngoài mà trong).  
  14.  Học mà chưa đạt được mức giữa trời và người th́ chưa đủ để gọi là học (Thiên-lư, nhân-sự chỉ là một mà thôi).
  15.  Thái-cực là cực cuả Đạo. Thái-huyền là huyền cuả Đạo. Thái-tố là sắc cuả gốc. Thái-nhất là khởi đầu cuả số. Thái-sơ là ban đầu cuả sự việc. Thành-công cuả chúng ắt giống nhau.
  16.  Tất cả sự việc cuả thiên-hạ đều dung Đạo để hoàn-thiện, ắt lo mừng không thể đến được (Tâm tức Đạo, Đạo tức Tâm. Lo mừng dễ theo mà đến).
  17.  Thái-canh có thể hoà, huyền-tửu có thể nhạt. Ắt là Tạo-hoá có thể hoà, có thể nhạt. (Thái-canh vốn dĩ không hoà. Huyền-tửu vốn dĩ không nhạt. Ban đầu, Tạo-hoá cũng như thế. Thiệu-tử cũng lấy Thái-canh, huyền-tửu để mô-tả trạng-huống vũ-trụ lúc giữa giờ tư ngày đông-chí. Từ Phục sang Lâm, sang Thái giống như canh từ từ đậm-đà, rượu từ từ mầu-nhiệm. Kịp đến Đại-tráng, sang Quyết, sang Kiền, chính là giao-thời Đường-Ngu/Ung-hi chăng? Đă ḥa lại nhạt như Cấu đến Khôn. Ắt là lúc canh tuyệt-vời, rượu mầu-nhiệm).
  18.  Ta với vật không là một, ta có thể làm ra vật. Thánh-nhân làm lợi cho vật mà không có ta (Như trời đất không có ta, vật tự sinh thành. Thánh-nhân và trời là một).
  19.  Thây kệ ắt t́nh, t́nh ắt che lấp, che lấp ắt tối tăm (Tối tăm là thần không sáng). Nhân vật ắt có tính, có tính ắt có thần, có thần ắt sáng láng (Minh là thần không tối-tăm). Ngầm trời, ngầm đất, không đi mà đến, không bị âm-dương bắt lại, là thần vậy (Âm-dương không ǵ lớn bằng trời đất. Ngầm trời mà là trời, ngầm đất mà là đất, là tính đă đạt, há âm-dương có thể bắt lại được sao?).
  20.  Khí ắt dưỡng-tính, tính ắt tăng-gia khí, nên khí c̣n th́ tính c̣n, tính động th́ khí động vậy (Chia đôi ắt sai vạy).
  21.  Đẵn, chặt là tài-lực, minh-biện là trí-thức, khoan hoằng là đức-khí. Ba cái đó không thể thiếu một (Tài-lực đă đủ, ắt trí-thức sung-măn, đức-khí sâu rộng).
  22.  Kinh-luân trời đất gọi là tài cao, cử-sự thành-công gọi là chí gồm hợp, bao hàm, chứa đựng gọi là lường (Kinh-luân trời đất là tài cuả thánh-nhân. Trí tất đi xa, lường tất chứa nhiều, nghị-lực có triển-vọng thành thánh).
  23.  Phàm thiện ác cuả con người, h́nh dung nơi lời nói, phát-hiện nơi hạnh-kiểm. Ban đầu có nó, con người biết ngay. V́ thế nên người quân-tử phải cẩn-thận khi ở một ḿnh (thận độc).
  24.  Gặp thời rồi sau mới phát ra lời, là ứng-biến mà nói, nói không do ta vậy (Ứng-biến mà phát ra lời, do trời ứng thời, sinh vật. "Trời có nói ǵ đâu? Bốn muà vẫn vận-hành, trăm vật vẫn sinh-trưởng. Trời có nói ǵ đâu?" [Luận-ngữ, XVII/19]. Thánh-nhân có nói cũng chỉ như thế mà thôi).
  25.  Không có tư-ư, không đoán chắc trước, không cố-chấp, không  riêng tư (Luận -Ngữ, IX/4). Hợp mà nói ắt là một, phân mà nói, ắt là hai. Hợp mà nói ắt là hai, phân mà nói, ắt là bốn. Bắt đầu bằng có tư-ư, thành ở nơi ta. Có tư-ư rồi sau mới đoán chắc trước, đoán chắc trước, sinh từ tư-ư. Có cố-chấp, rồi sau mới có ta, ta sinh từ cố-chấp. Tư-ư có tâm, ắt có đợi chờ, một (tiên-kỳ) cố-chấp không hoá, ta có riêng ḿnh vậy (Thánh nhân không có cái ta, tự vô-tư. Tư-ư khởi từ tư-lự, tạp-niệm, ắt có riêng ḿnh).
  26.  Con người hành-đạo nên làm sao cho quỷ-thần không ḍm ngó được. Đó là đạt vậy (Nhờ vô-tư-lự mói được như thế).
  27.  Cái học chí-lư, không chí-thành không đạt được. Cái học vật-lư có lúc không thông, không nên cưỡng thông, cưỡng thông ắt có cái ta dính dấp vào. Có cái ta ắt thất-lư, mà nhập vào tâm-thuật rồi (Cái học chí-lư quán-thông thiên-điạ vạn-vật mà thu về một mối. Không chí-thành, không thể nào làm sáng tỏ, tinh-thành hoá rất mực nó được. Chỉ có vô-ngă mới năng thâm-tạo, tự đắc).
  28.  Tâm nhất mà chẳng phân, ắt năng ứng vạn-vật. Sở dĩ người quân-tử hư-tâm mà bất-động vậy (Thần cuả tâm vốn hư, thể cuả nó vốn hư, không thể phân ra được.).
  29.  Sự việc không có lớn nhỏ, chỉ có Đạo ở bên trong. Năng an-     phận ắt gọi đó là Đạo, không năng an-phận, ắt gọi đó là phi-     đạo (Mạnh-tử bảo: Bản-tính người quân-tử lúc nào cũng y-nhiên thượng-tại. Lúc đắc-chí mà làm viêc lớn, nó chẳng gia-tăng; lúc thất-thời mà chiụ cùng-khốn, nó chẳng tổn-giảm. Bỏi v́ đó là định-phận cuả con người vậy [Mạnh-tử, Tận Tâm Thượng, Tiết 21]).
  30.  Đổi đất mà ở, ắt không c̣n cái ta nữa (Vơ-Tắc làm việc lớn, Nhan-Hồi gặp đường cùng, đổi đất đều là như thế. Định-phận nên mới thế. Đều là không có cái ta).
  31.  Lời phát ra chân thành ắt tâm không mệt mỏi mà thung-dung. Về lâu, về dài, người khác tin cậy. Làm ngụy-nhiệm, vận-mệnh nhất thời, hoặc có thể khinh người. Kéo dài tất bại (Lời do t́m ṭi không thể giả-dối được).
  32.  Con người quư có đức. Tiểu-nhân có tài có thể có được. Nên tài không thể cậy, đức không thể không có (Tài với chân-thành có họp lại, rồi sau mới thành người quân-tử được).
  33.  Chỉ có thiên-điạ, nhật-nguyệt mới lo lắng xa xôi mà thôi. Cho nên con người đương tồn-tại nơi xa, không thể thấy nơi gần (Thiên-điạ, nhật-nguyệt chung cổ là thiên-điạ, nhật-nguyệt chung cổ ấy. Trời đất trung-dung ấy là cái ta gọi là lo lắng. Thành, ắt là có hằng-tâm, nên ở gần. Thấy gần, bỏ rơi xa là người không có hằng-tâm ru?).
  34.  Người quân-tử ở nơi ruộng đất ắt làm việc nơi ruộng đất. Ở miếu-đường ắt lo việc miếu-đường, nên không nhập mà tự được. (Lịch-sơn là một Thuấn. Đường triều cũng là một Thuấn. Tân-dă là một Doăn, Thương-đ́nh cũng là một Doăn. Duyên-cớ ǵ không vui với đất sao?)
  35.  Trí-số, hoặc năng thi-hành vào một buổi sáng, bởi chưng có lúc cùng. Duy chí-thành cùng tồn-tại với trời đất. Không có trời đất, ắt chí-thành có thể nghỉ ngơi. Nếu trời không thể không có được, ắt chí thành cũng không thể nghỉ ngơi được (Dùng trí, dùng số tương-đương với chí-thành không ngơi nghỉ).
  36.  Chế xe trong nhà cho thiên-hạ đi được nhờ bánh xe ăn khớp với đường đi. Nếu thuận nghiă-lư, hợp nhân-t́nh, chỗ nào có nhật-nguyệt chiếu đến, là có thể đi được (Chế xe ắt có độ-số, hành-sự ắt có nghiă-lư).
  37.  Muốn lấy trí cuả thiên-hạ làm trí cuả ḿnh, muốn lấy thiện cuả thiên-hạ làm thiện cuả ḿnh, ắt rộng răi. Tự-dụng ắt hẹp ḥi (Rộng răi, ắt như trời đất; hẹp ḥi ắt như vật).
  38.  Chí nơi đạo nghiă là tâm với đạo nhập tiềm, đích xác không bị nhổ ra, gọi là chí. Có được nơi ta mà thửa số, thửa tượng, thửa thửa tài-năng, thửa thần đều giác-ngộ có h́nh, có thể tin cậy vào, gọi là đức nhân. Là đạo chở nơi sở tàng mà dùng, mà xuất. Đạo ở nơi đức nhân cuả sở nguyện mà nhập, ở nơi sức tinh-minh cường cố, mà có chiủ bảo hoàn toàn thuần-tuư, ắt đức chủ nơi nhân. Nương tựa nhau mà hoá, mà không thấy chí ở đâu, gắng sức tiến lên (Đạo-đức lấy đức nhân mà giữ, đó là lư nhất quán).
  39.  Nhan-tử không phạm hai lần cùng một lỗi. Khổng-tử nói: có điều không hoàn-thiện chưa từng không hay biết. Đă hay biết chưa từng tái-phạm. Phải đấy. Đó là đă phạm môt lần, không được tái-phạm. Hàn-Dũ cho rằng sẽ phát ra trong ḷng mà c̣n tuyệt khử lỗi ấy ru, Nhan-tử cũng lỗi ru, đó là tư-ư, năng đạt Đạo chăng? Hoặc nói: với thiện lại càng them như ác sao? Đáp: Thánh-nhân ắt không như vậy. Tư-tâm-quá và thiện-ác giống nhau.
  40.  Dưỡng-tâm mà học khó khăn ở chỗ không trực-đạo khử lợi. Muốn do trực-đạo, đảm-nhiệm chí-thành, ắt không ǵ là không thông. Đạo trời đất chỉ có thẳng thắn mà thôi. Nên lấy thẳng thắn mà cầu. Nhược bằng dùng trí, dùng số đi đường tắt mà cầu, là khuất-tất trời đất, thuận theo nhân-dục. Chẳng cũng khó khăn sao? (Thẳng mà không uốn cong, tức là tâm cuả trời đất vậy. Theo đường thẳng với tâm chí-thành, lợi dục vứt bỏ, trí-số không dùng, ắt trời đất không nghi-ngờ).
  41.  Sự việc không có lớn bé, đều có lẽ cuả trời với người. Tu thân là người. Gặp chuyện không lường trước được là trời. Sở dĩ được mất không động tâm, là nhờ thuận theo trời. Cưỡng-thủ mà được là trái lẽ trời. Nghịch lẽ trời thể nào hoạn hoạ sẽ đến (Kinh Thi nói: Vĩnh ngôn phối mệnh, tự cầu đa phúc = Luôn luôn nói phối-mệnh, tự cầu nhiều phúc).
  42.  Nhan-tử không nổi giận, không phạm cùng một lỗi hai lần. Nổi giận, phạm cùng một lỗi hai lần, đều là t́nh, không phải là tính.
  43.  Không tới nơi tính-mệnh, không đủ để gọi là hiếu-học (Không thiên lệch, không nhị-tính là t́nh. Khi học, ắt tính-mệnh hợp nhất).
  44.  Người biết Dịch bất tất dẫn-dụng giảng-giải mới là biết Dịch. Mạnh-tử viết sách, chưa từng đề-cập Dịch mà Dịch-đạo đă bàng bạc bên trong. Tuy nhiên, hiếm có người thấy điều đó. Người năng dùng Dịch đă là biết Dịch. Như Mạnh-tử có thể gọi là thiện-dụng Dịch vậy (Dụng Dịch ở bản thân, không ở lời nói).
  45.  Dịch lấy làm sách hầu như lấy lẽ thuận tính-mệnh mà thuận theo tự nhiên. Khổng-tử dứt hẳn bốn điều (Xem tiết 25), theo   tâm lấy một lẽ mà thông suốt tất cả. Chí mệnh vậy. Nhan-tử tâm chỉnh-tề luôn luôn trống không, là hiếu-học vậy. Tử Cống học nhiều để cầu đạo, nhưng không biết xé ḷng, diệt tư-kiến, trao than cho lư-luận, là không thụ-mệnh vậy. Xuân Thu noi theo lư cuả tự nhiên mà không lập tư-ư, nên là sách tận-tính (Lư gốc ở tự nhiên, nay đục đi, ắt là mất).
  46.  Rơ rệt ở điều nhân, dấu kín nơi việc làm (Thượng-Hệ V/4). Khổng-tử khéo dấu kín việc làm sao? (Cải lỗi ắt cái ǵ dấu kin, hiển-lộ ra; tồn-thần ắt cái ǵ rơ rệt dấu kín đi).
  47.  Bá-Di, Liễu Hạ-Huệ, mỗi người được một đầu mối cuả thánh-nhân. Bá-Di được thanh-tao cuả thánh-nhân. Liễu Hạ-Huệ được chữ hoà cuả thánh-nhân. Khổng-tử lúc hành-đạo, lúc không, nên được chữ thời cuả thánh-nhân (Phát-minh lời cuả Mạnh-tử để đắc đạo 'Đại Trung Chí Chính').
  48.  Cái khó khăn cuả thánh-nhân là không để mất nhân-nghiă, trung-tín mà thành sự-nghiệp. Như thế nào? Khá tại nơi dứt hẳn bốn điều (Thành sự-nghiệp gốc ở nhân-nghiă, trung-tín, tức tôn-chỉ 'tu thiên, tự khắc tu-nhân có theo'. Cốt-yếu ở chỗ 'dứt hẳn bốn điều', bèn năng tập-thành. Cái đó phải chăng là thánh-nhân đạt đích mà không đổi lời?).
  49.  Con người tất phải trong nặng, trong nặng tất ngoài nhẹ. Nếu trong nhẹ tất ngoài nặng. Hiếu lợi, hiếu-danh, chẳng ǵ là không làm (Trong là nghiă-lư, ngoài là lợi dục).
  50.  Nghiă nặng ắt trong nặng, lợi nặng ắt ngoài nặng (Biện bác nghiă lợi ở tại thẩm xét trong ngoài. Cân nhắc nặng nhẹ, lấy nghiă làm trọng, ắt năng trong nặng mà ngoài đều nhẹ. Nếu lấy lợi làm trọng ắt chỉ có ngoài là trọng, mà nội lại trở thành nhẹ. Cho nên trong nặng là dấu kín, ngoài nặng là hiển lộ).
  51.  Năng chữa được bệnh người khác chữa được, không thể gọi là lương-y. Chữa được bệnh người khác không chữa được, mới là lương-y cuả thiên-hạ. Năng xử-trí được các việc người khác không xử-trí được, ắt năng làm được các việc người khác không làm được (Năng làm cái ǵ người khác không làm được mới là lương).
  52.  Người ta nên lo ở chỗ tự-măn. Tự măn ắt ngừng. Nên vua Vơ không tự-măn, nương theo đó mà thành người hiền. Tuy học vẫn đang thường, nếu không đủ không thể học sâu thêm để thành cao hơn (Vua Vơ là đại-thánh-nhân. Không tự-măn.Thiên-hạ không có ai tranh công-năng với. Nên hiền hơn thiên-cổ. Người học giỏi, tuy hữu dư thường như bất-túc).
  53.  Phàm đặt mất đằng trước được, ắt được cũng không vui. Đặt được đằng trước mất, ắt khó xử khi mất. Tất đi đến chỗ mất thu-hoạch (Được mất tất vô-tâm, ắt có thể miễn thất-thu).
  54.  Ba người cùng đi ắt có một người làm thầy, đến như kết bạn với người hiền cùng làng, người hiền trong thiên-hạ cho là chưa đủ. Huống hồ thượng luận cổ-nhân. Có thêm được ǵ không? (Con người không thể e sợ tự-túc).
  55.  Con người năng dụng tâm tất có sở đắc. Cái khác nhau cuả được có ít nhiều là trí-thức sâu hay nông (Dụng tâm nơi cái học cuả thánh-hiền, ắt miễn được quả-lậu mà thâm-tạo)
  56.  Người thiên-hạ nói có đọc sách không thiếu, người năng đọc sách thiếu. Nếu được thiên-lư chân-lạc, chẳng sách nào là không đọc được, chẳng kiên-cố nào mà không phá được, chẳng lư nào mà không tinh được (Quả thực thiên-lư chân-lạc đầy đủ trong sách).
  57.  Nay có người trèo lên  hai đài cao bằng nhau. .Phải có một đài cao hơn đài kia mới phân-biệt được cao thấp. Một nước, một nhà, một thân đều như thế cả. Năng xử-lư một thân, ắt năng xử-lư một nhà. Năng xử-lư một nhà, ắt năng xử-lư một nước. Năng xử-lư một nước, ắt năng xử-lư một thiên-hạ. Tâm là gốc cuả thân, nhà là gốc cuả nước, nước là gốc cuả thiên-hạ. Tâm năng vận động thân. Nếu điều ǵ ta không muốn, liệu thân có thi-hành được không? (B́nh quân đạo cuả thiên-hạ, gốc ở tâm).
  58.  Tinh-thần con người quư ở chỗ giữ kín mà dùng. Nếu phô-trươmg ra ngoài ắt khó ḷng không thất-bại, như dao sắc vq65t đến có thể đụng chạm. Nếu cậy dao sắc mà cầu cắt vật, ắt cả dao lẩn vật đều bị thương. (Tinh-thần nên như đông-tàng mà chờ xuân-phát. Cậy dao sắc là không biết đến sở tàng).
  59. b Ôi! Cứng cáp cuả cung, có cứng có mềm. Vậy cùng một cây cung, hai người giương, ắt người có sức mạnh không cho là sức ḿnh có thừa mà cho là cung yếu quá. Người vô-lực không cho là sức ḿnh chưa đủ mà cho là cung cứng quá. Sao chẳng chiụ suy nghĩ thêm? Một cái cung không có mạnh yếu. Sức hai người mạnh yếu khác nhau (Thơ Thiệu-tử có câu: Thi vi dục tự thiên quân nỗ = Thi-hành muốn mạnh như cây nỏ ba ngàn cân).
  60.  Học lấy nhân-sự làm trọng. Kinh-điển ngày nay là nhân-sự đời xưa.
  61.  Làm việc nên lượng sức. Lượng sức mới năng lâu dài. (Không lượng sức mà làm càn, chỉ là tạm bợ mà thôi).
  62.  Thuốc tốt không thể lià xa tay giống như lời phải không thể lià xa miệng (Lương-ngôn lợi hạnh, lương-dược lợi bệnh).
  63.  Mầm ác cuả trời một phần mười là do có thể tránh né được.  Mầm ác cuả người chín phần mười là do không thể trốn tránh được.
  64.  Kẻ vô-đức oán trách người. Đồ dùng nhỏ dễ đầy, ắt dừng lại, không tiến-bộ (Khí thiếu kém, cho nên oán trách, khí đầy đều vô-đức để nuôi dưỡng).
  65.  Đường đi không thể không rộng. Rộng ắt ít trở-ngại (Người quân-tử thản nhiên và rộng răi. Sở dĩ đường đi tất rộng).
  66.  Phàm con người v́ học mà mất tự-chủ-trương thái quá (Không tự-chủ-trương ắt đường tiến không dũng mănh. Chủ-trương thái quá, ắt sư tâm tự-dụng).
  67.  Biết cái ǵ, nhận là biết, chẳng biết ǵ, nhận là chẳng biết. Đó là tính cuả thánh-nhân vậy. Nếu chẳng biết mà cuỡng tri, chẳng phải là t́nh th́ tại sao lại mất tính, mà t́nh ắt chúng nhân (Tính ắt thành, t́nh ắt sai vậy).
  68.   Con ngựa có thể mượn sức người cưỡi. Bỏ ḿnh theo người đi theo người vậy (Mượn thí-dụ con ngựa để nêu rơ khó khăn gặp phải khi bỏ ḿnh theo người).
  69.  Có ai ra khỏi nhà mà không do nơi cửa chăng? (Luận-Ngữ, VI/15) Cửa là Đạo vậy. Chưa có ai không do đạo mà năng cứu giúp. Không do nơi cửa là loại khoét lỗ, rạch kẽ nơi cửa (Mượn lời Khổng-tử để làm sáng tỏ cái mà Mạnh-tử gọi là ác không do thửa đạo).
  70.  Nghe nhiều mà chọn điều lành để noi theo. Thấy nhiều mà biết phân-biệt. Tuy thấy nhiều, tất có phân-biệt (Nghe nhiều, thấy nhiều đều là thẩm xét xem giữ cái ǵ, bỏ cái ǵ, ắt không bị đắm ch́m).
  71.  Làm việc nhân, không nhường thầy ḿnh. Xúc tiến đạo làm người. (Đương tự-nhiệm vậy. Làm việc nhân do chính ḿnh nhận trách-nhiệm, không cần khiêm-tốn ắt tiến lên thành người).
  72.  Lưu Cù hỏi về vô-vi. Đáp: chần  chừ sau mới nói, người khác mới không chán thửa lời; vui vẻ sau mới cười, người khác mới không chán thửa cười; nghiă lư rồi sau mới tuyển người, người khác mới không chán thửa tuyển, Cái đó gọi là vô-vi vậy. (Đó là Công Minh Giả xưng tụng với Công-Thúc lời cuả Văn-tử, mà Phu-tử nghi ngờ. Lấy Văn-tử tất không đủ để đề-cập vấn-đề. Thiệu-tử mượn câu chuyện để nói về vô-vi. Vô-vi là đạo cuả thánh-nhân ).
  73.  Loài kim nên tôi luyện hàng trăm lần mới tinh-khiết. Con người cũng như thế. (Thiệu-tử có câu thơ: Ma-lệ đương như bách luyện kim = Mài kỹ như mài bách-luyện kim).
  74.  Đạo dùng binh tất đợi nhân-dân giầu có, kho lúa đầy ắp, kho tiền dư giả, binh mạnh, danh chính, được cả thiên-thời lẫn điạ lợi, rồi sau mới cử binh (Đó là đạo vẹn toàn cuả đế-vương).
  75.  Bá-Di thủ nghiă nên không ăn luá tẻ cuả Nhà Chu cho đến chết đói. Vả lại chết chỉ được đức nhân mà thôi.
  76.  Lăo-tử biết thể cuả Dịch. Năm ngàn lới đại-để thuyết-minh lư cuả sự vật (Chu-tử nói: Khang-tiết nói: Lăo-tử được thể cuả Dịch, Mạnh-tử được dụng cuả Dịch, sai rồi. Lăo-tử tự khắc có thể-dụng cuả Lăo-tử, Mạnh-tử tự khắc có thể-dụng cuả Mạnh-tử. Gán gấp như thế là cố-chấp. Thể-dụng cuả Lăo-tử là cho. Thể-dụng cuả Mạnh-tử là tồn-tâm dưỡng-tính, xung quảng kỳ tứ đoan).
  77.  Bọn Trang-tử, Tuân-tử biện-luận sai lạc (Thánh hiền há háo từ sao? Sở dĩ bọn Trang-tử, Tuân-tử chuộng lời).
  78.  Trang-tử với Huệ-tử đi chơi trên bờ đê cuả hào. Trang-tử nói: con cá du bơi lội tung tăng, đó là niềm vui cuả cá. Điều đó là khai-thác triệt để tính cuả ḿnh để suy ra tính cuả loài vật. Không phải tính cuả cá là nhu vậy. Vật trong thiên-hạ đều như thế cả. Như Trang-tử có thể gọi là giỏi thông vật. ().
  79.  Trang-Chu hùng-biện trong mấy ngàn năm, chỉ là một người mà thôi. Bào Đinh thả ḅ, lần lữa bốn lần. Khổng-tử col nước LăyLương rồi nói: đạo đi trên nuớc vô-tư, đều là lời nói chí-lư (Thuyết thả ḅ gần với đạo; thuyết đi trên nước gần với thần).
  80.  Trang-tử viết ra Thiên 'Đạo Chích' để làm sáng tỏ 'chí ác'. Tuy chí-thánh cũng không năng hoá được. Bởi chưng bậc thượng-trí với kẻ hạ ngu không thay đổi được. (Trang-tử nhân văn thấy đạo. Không phải là mượn chuyện 'Đạo Chích' để khinh nhờn. Khổng-tử bèn phát-minh lời nói cuả chính ḿnh).  
  81.  Nhà nho nưóc Lỗ chỉ có một người là Khổng-tử (Xin xem Trang-tử

     Nam-hoa-kinh).

  1.  Thiên Tề-vật-luận sách Trang-tử không tránh khỏi so-sánh, thẩm xét.  So-sánh, thẩm xét ắt tranh, tranh ắt bất-b́nh, bất-b́nh ắt bất hoà.
  2. Trang-tử khí hào như sự việc cuả Lă-Lương, nói là đạt đích. Đạo Chích nói sự việc không thể ra làm sao. Chính thánh-nhân cũng không biết nói năng ra làm sao. Ông câu nói rằng sự việc không thể cưỡng-bách. Tuy thánh-nhân cũng không thể cưỡng-bách. Điều đó nói lên lẽ hữu-vi/vô-vi. Thuận lư ắt vô-vi, cưỡng-lư ắt hữu-vi vậy. (Văn xuất nơi khí. Trang-tử văn-khí hào-hùng. Đạo Chích, Lă-Lương bèn nói tới đạo. Sự việc cuả Đạo Chích, ông câu không giáo-hoá được. thánh-nhân cũng khốn cùng. Bởi chưng lấy lư mà xem, thuận-lư ắt vô-vi mà đến, cưỡng lư ắt hữu vi chẳng làm được ǵ cả.).
  3.  Trang-tử nói: đầu bếp tuy không điều khiển việc bếp núc, Thi-Chúc không vượt cái thớt, chai rượu mà thay mặt bếp. Người quân-tử không suy nghĩ vượt khỏi điạ-vị ḿnh, không ngôi mà hành-động (Lời cuả Trang-tử, cùng với Đại-Dịch, Trung-Dung phát-minh lẫn nhau).  
  4.  Tài cuả Quư-Trát gần bằng tài cuả Bá-Di (Lấy nhường nước mà nói).
  5.  Thúc-Hướng, Tử-Sản, Án-tử ngang tài nhau (Tài vào khoảng Bá-trọng).
  6.  Quản-Trọng dùng trí-số, về già biết vật-lư. Đại để, tài-lực hơn người (Quản-Trọng tài cao, nên có kiến-thức trác-việt).
  7.  Trọng-Cung có thể khiến nam-diện, có thể khiến tùng-chính (Tùng-chính ắt vinh-hiển nơi đức nhân).
  8.  Tài-trí thay Lưu-Hầu. Giỏi giấu thửa dụng (Tử-pḥng tài-trí nhưng chưa có đức nhân. Thửa tàng là quyền-mưu, khác với thánh-nhân.).
  9.  Trong loại cuả ḿnh, Tố-vấn, Mật-ngữ có thể gọi là đạt đích. (Huyền-châu, Mật-ngữ là phụ-lục cuả Tố-vấn).
  10.  Tố-vấn, Âm-phù là sách thời Thất-quốc (Thời Thất-quốc không xa đời thánh-nhân mấy. Hai sách này, hẳn không phải do người thời Lương-Hán viết ra).
  11.  Nhà Phật bỏ quân-thần, phụ-tử, phu-phụ, há là lẽ tự nhiên sao? (Nhân-luân, trật-tự cuả trời, tự nhiên).
  12.  Văn-trung-tử [Vương-Thông] nói: Người dễ vui, tất buồn nhiều. Người khinh-thi tất hiếu đoạt. Hoặc nói: thiên-hạ đều tranh lợi bỏ nghiă, chỉ ḿnh ta như thế sao? Khổng-tử nói:  bỏ cái người ta tranh nhau, lấy cái người ta vứt bỏ, chẳng là người quân-tử ru? Như loại ấy là lời nghiă-lư. Tâm-tích ấy đă phán-quyết từ lâu. Như loại ấy là lời tạo-hoá vậy (Điều ấy là trích-lục cách-ngôn. Như lấy Đức Phật làm Thánh-nhân tây-phương, ắt sai lầm rồi).
  13.  Hoặc hỏi: nỗi khó khăn cuả tài là ǵ? Gặp đại-sự mới biết tài khó, sau mớ thấy tài khó khăn. Sao chỉ nói tài khó khăn? Đáp: tài là lương-chất cuả trời. Học là sở dĩ thành thửa tài. Cổ-nhân coi người không do học-vấn mà lập công-nghiệp, hà tất bảo rằng học. Đáp: Chu-Bột, Hoắc-Quang năng thành đại-sự mà vô-học. Cho nên mới chưa tận-thiện. Con người mà vô-học, ắt không năng soi sáng lư, ắt cố-chấp mà không thông (Học để mở rộng tài-năng. Không học ắt tài nhỏ, hoặc may mắn thành sự-nghiệp, cuối cùng không năng tận lư).
  1.  Tài mà hơn người tất cương. Trong thắng-lợi là khắc cương. Sở ĩ lập sự-nghiệp. Sở dĩ xử-sự trong hoạn-nạn được là nhờ nghiă-lư đủ, chí-khí định, không phải là nhờ huyết-khí. Nếu người đó nhiệm-dụng huyết-khí, không phải là cương cuả thiên-đức, phản thành tà ác. Đức Khổng-tử nói: Thân-Trành là người ham muốn nhiều, tất không thể gọi được là cương [Luận-Ngữ, V/10], nếu là cương, tất vô-dục. Kiền kiện không ngừng, có thể thấy cương được (Dương cuả khí là cương cuả chất vậy. Dương cương như Kiền, ắt vô-dục).
  2.  Người quân-tử biết rơ về điều nghiă là người hiền vậy. Kẻ tiểu-nhân chỉ biết rơ về điều lợi mà thôi. Nghiă lợi cùng quên, chỉ có
  3.  thánh-nhân mới làm được. Người quân-tử sợ điều nghiă nên có việc không dám làm. Kẻ tiểu-nhân chẳng sợ ǵ cả. Thánh-nhân hành-động ắt không vượt ra ngoài khuôn-khổ, c̣n sợ nghiă sao? (Khuôn-khổ nghiă là ṿng ngoài cuả h́nh vuông. Người quân-tử sợ điêu nghiă, thánh-nhân ắt không vượt ra ngoài khuôn-khổ. Ban đầu đă không sợ sệt. Chẳng có sợ tự không nhập vào sợ).
  4.  Học chưa đến mức vui trong bụng chưa thể gọi là học được (Biết học mà hiếu học, hiếu học mà vui học, không những nhuận thân mà tính-mệnh cũng nhuận luôn. Cái học tương-truyền cuả thánh hiền phải nên như thế).
  5.  Ghi nhớ, học hỏi chưa đủ để làm sự-nghiệp. (Cái ngọn văn-từ chỉ là một phần vạn sự-nghiệp cuả thánh-nhân).
  6. Học tại không ngừng, nên Vương-Thông nói: xả thân mà thôi (Đó chính là cái Luận-Ngữ I/1 gọi là 'Thời-tập', Lễ-Kư [Biểu-Kư Đệ-tam-thập-nhị] gọi là 'Gắng gỏi'. Vương-Thông đă đạt chăng? Nên mới trưng-dẫn để kết-thúc ư 'Chí thành không ngơi nghỉ').

Một trăm tiết trên đây phát-minh cái học tiên-thiên được bảo-tồn trong thành-minh, sở dĩ thành-minh nên được giữ kỹ trong tâm. Cho nên ta lấy tâm-học để kết-thúc sách. Bởi vậy cái học Kinh-Thế, khí từ trong khởi ra. Quẻ từ trong biến động. Suốt ngày xem sách và nghe ngóng cho điều-hợp với thiên-hạ, ư và lời cuả tạo-hoá, đúng theo luân-lư phát-xuất từ tự-nhiên mà bên trong rỗng tuyếch. Ấy là Tam-Hoàng tận-đạo để thiện-hoá thiên-hạ. Trọng-ni tuyệt-tứ (Tử bất ngứ: quái, lực, lọan, thần = Đức Khổng nói đến những việc: quái-dị, dụng-lực, phản-lọan, quỷ-thần, Luận-Ngữ II/20), mà hành-động không vượt ra ngoài khuôn-khổ thay. Cho nên bảo đó là tâm-học. Họ như là tiều-phu, ông câu đối-đáp, vô-danh công-truyền cũng là ư đó vậy thôi. Chỉ có bài tựa Kích-nhưỡng-tập nói rằng: "Tính là h́nh-thể cuả Đạo, tâm là vỏ ngoài cuả tính, thân là bờ cơi cuả tâm, vật là thuyền xe cuả thân, có khác nhau ǵ đâu?" Một âm, một dương gọi là đạo. Rơi rớt vào mối đầu cuả kế-thiện. Đạo duy phát-dụng mà thôi. Sau khi chiụ ở trong thành tính, ắt cương-nhu h́nh-thể có thể thấy được. Tính thống nơi tâm ắt là vỏ ngoài vậy. Tâm ở nơi thân, ắt là bờ cơi. Muôn vật đều đầy đủ nơi ta. Vật đến như thuyền, ắt bèn sao chẳng tải từ hiếu mà thi-hành cho ta ư? Nên lại nói rằng: "Lấy đạo xem tính, lấy tính xem tâm, lấy tâm xem thân, lấy thân xem vật". Trị ắt trị thôi, bởi chưa dời khỏi hại. Không bằng lấy đạo xem đạo, lấy tính xem tính, lấy tâm xem tâm, lấy thân xem thân, lấy vật xem vật. Tuy muốn làm tổn-thương nhau, phỏng có được không? Nếu như thế, ắt lấy nhà xem nhà, lấy nước xem nước, lấy thiên-hạ xem thiên-hạ. Theo đó có thể biết được. Cái đó cũng là chuyện tự nhiên. Ta có khác ǵ đâu? 

 

LUẬN-GIẢ ÁN
 

H́nh-thức cuả sách là Kinh-Thế-Số, nội-dung cuả sách là Hoàng-Cực Xuân Thu. Bởi vậy lấy dịch xem dịch, lấy thần xem thần, lấy Hoàng-Cực xem Hoàng-Cực, lấy Kinh-Thế xem Kinh-Thế, lấy vũ-trụ xem vũ-trụ, lấy ta xem ta là thượng-sách.

 

 

THƯ TỊCH KHẢO

 

025 Dịch-kinh Hoàng-Cực Kinh-Thế Biện Thích 皇極經世辨釋, Trương Sùng Tuấn 張崇俊 trước, sơ-bản, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 9-1993.

299 Hoàng-cực Kinh-Thế Tự-Ngôn 皇極經世緒緒, Tống è Tam Xuyên Thiệu Ung Nghiêu-phu 三川邵雍堯夫 trước, Hiệu Kinh Sơn-Pḥng, Thượng-hải, 1920.

317 Hoàng-Cực Kinh-Thế Quan-vật Ngoại-thiên Diễn-nghiă 皇極經世觀物外篇衍義, Sơ-bản, Tống è Trương Hành-Thành 張行成 soạn, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 3-1991.

391 Hoàng-Cực Kinh-Thế Sách Ẩn 皇極經世索隱, 2 Quyển, Tống è   Trương Hành-Thành 張行成 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 6, Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

 392 Hoàng-Cực Kinh-Thế Quan-vật Ngoại-thiên Diễn-nghiă 皇極經世觀物外篇衍義, 8 Quyển, Sơ-bản, Tống è  Trương Hành-Thành 張行成 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 6, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

399 Hoàng-Cực Kinh-Thế Thích-nghiă 皇極經世, Nhất-bản Nhị-loát, Minh è Dư Tử-Hoa 余子華 soạn, Đổng Quốc-Tuấn 董國俊 hiệu-duyệt, Tiết-Thần đính-chính, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 4-1991.

407 Khang-Tiết Tiên-sinh Dịch-học B́nh-nghị 康節先生易學平, Sơ-bản, Sái Đức-An  蔡德soạn, Long-tuyền Xuất-bản-xă, Đài-bắc, Tháng 6-1973.

408 Hoàng-Cực Kinh-Thế Yếu-lược 皇極經世要略, Vương Chấn 王震 thuật, Tùng-Viên 松園 hiệu-ấn, Hoa-Chính Thư-cục, Đài-bắc, 1974.

424 Hoàng Cực Kinh Thế Bí-bản 皇極經世秘本, Tống è Tam Xuyên Thiệu Ung Nghiêu-phu 三川邵雍堯夫 trước, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 12-1997.

425 Dịch Nguyên Hội Vận 易元會運, Tái-bản, Mă Hàn-Như 馬瀚如 trước, Trung-Hoa Văn-hoá Học-xă, Hongkong, Tháng 04-1982.

426 Hoàng Cực Bí Số 皇極 秘數, Nhất-bản, Dịch Chính Sơn-nhân 易正山人 trước, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 07-1999.   

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 135

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com