www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 14

 

HOÀNG CỰC KINH THẾ NGÔN SỐ



 

 (Tiếp theo Kỳ 131) 

 

Cần nhắc lại là Hi-di Tiên-sinh là khai-tổ cuả Hoa-âm-sơn Dịch-phái. Nhị-tổ là Bá-trưởng Mục-Tu 伯長穆修, Tam-tổ là Minh-dật Trùng-Phóng 明逸, tứ-tổ là Đỉnh chi Lư Chi Tài 挺之 李之才, c̣n ngũ-tổ là Thiêu Ung (1011-77), tự Nghiêu-phu, thụy Khang-tiết, mà ta quen gọi là Thiệu-tử. Tiên-sinh là tác-giả của Hoàng Cực Kinh Thế Thư, Ngư Tiều Vấn Đối và Tập Thơ Kích Nhưỡng Tập.  

Tống-sử, Ẩn-dật Truyện chép: Trần-Đoàn, tự Đồ-Nam, hiệu Phù-dao-tử, người Bạc-châu, Chân-nguyên. Hồi nhỏ, lên bốn, chơi ở bờ nước, có bà lăo áo xanh, ôm vào ḷng cho bú. Kể từ đó càng ngày càng thông-minh. Hồi trẻ đuợc cử Tiến-sĩ cập-đệ, nhưng không thích ra làm quan. Có chí lớn, tài vác kinh-luân. Trải qua thời Ngũ-quư loạn-ly, bèn chu-du bốn phương, nhưng không toại chí, bèn vào Vơ-đang ẩn-cư sau núi Hoa-âm. Chu Thế-tông triệu ông vào kinh-sư, ban cho hiệu Bạch-vân Tiên-sinh. Triệu Thế-tông cũng triệu và ban cho hiệu Hi-Di Tiên-sinh. Ông xin trở về núi Hoa-âm. Ung-Hi nguyên-niên lại tái-triệu, nhưng ông từ chối và nói rằng: phiến dă tâm này đă bị bạch-vân lưu-trú. Ông thụng cưỡi lừa trắng. Từ triều Tấn trở về sau, mỗi khi nghe trong triều có cách-mệnh, có người hỏi, ông trừng mắt không đáp. Một hôm cưỡi lừa xuống chợ Hoa-âm. Nghe tin Thái-tổ đăng-quang, ông mới cười lớn mà nói rằng: thiên-hạ từ nay thái-b́nh. 

Ông có để lại cho hậu-thế sách Ma-y Đạo-giả Chính Dịch Tâm-pháp của Ma-Y Đao-trưởng, sư-phụ ông, được ông truyền lại cùng tiêu-tức và Bài Tựa Long-đồ mà ta sẽ gặp ở CHƯƠNG 23: DỊCH BẢN ĐỒ KHẢO. 

         Mục Bá-trưởng, tên Tu, tự Bá-trưởng, người Vấn-dương. Thờ thầy là Trần-Đoàn và được ông này truyền cho Dịch-học. Hồi trẻ hào-phóng, cử Tiến-sĩ, điều-lư Hải-châu với chức phó-quan, thị-tài. Đinh Vị cùng Tu vốn gốc bố-y. Mỗi khi Tu có ư khinh-thị Vị, Vị bèn nói: ta đă là hiển-quan mà ông vẫn chưa là thăng quan. Có gâp nhau ở Hán-thượng cũng chỉ vái chào rồi đi. Tống Chân-tông thường hỏi thị-thần: Tu có văn công khanh mà sao chưa thấy tiến hiền? Đáp: Tu hạnh không bằng văn cho nên càng già càng nghèo. Nhà có Đường Hàn Liễu Văn Tập, có bản in bán  ra ở kinh-sư. Có nhiều sư-sinh giở ra đọc. Tu nói: nếu tiên-bối đọc hết một thiên, ta sẽ tặng cả cuốn. Từ đó không in them nữa. Minh-đạo sơ-niên, ông mất, thô 54 tuổi. Thức-giả thương tiếc. Thời đó, học tṛ học thanh-luật chưa biết cổ-văn. Tu thủ-xướng cổ-văn. Sau đó hai anh em họ Doăn mới hùa theo cổ-văn mà truyền Xuân-Thu Học của Tu. 

          Trùng-Phóng, tự Minh-dật, người Lạc-dương, Hà-nam. Thiếu-thời hay qua lại  vùng Tung-sơn, Hoa-sơn. Vốn có chí sơn-lâm. Cha mất, bèn cùng mẹ ẩn-cư núi Chung-nam, Báo-lâm-như, Đông-minh-phong, kết cỏ làm lều. Lấy giảng-tập làm nhiệm-vụ. Sau có nhiều người đến xin học. Tự hiệu là Vân-khê bệnh-tẩu, lại có hiệu là Thoái-tứ. Nghe tiếng tác-phong của Trần Hi-di, bèn đến yết-kiến. Phóng giả làm tiều-phu, bái dưới đ́nh. Đoàn vời lên và nói: thầy là tiều-phu sao? Hai mươi năm nữa sẽ hiển danh trong thiên-hạ. Phóng nói: Phóng v́ đạo-nghĩa mà đến  đây, không phải là muốn thử tài đoán lường. Đoàn nói: con người sang hèn cũng có số cả. Sang không thể làm hèn, mà người hèn cũng không thể làm thành sang. Thày cốt tướng tốt. Tuy giấu ḿnh chốn sơn lâm, e rằng không ổn đâu. Song le, kẻ tài-danh là mỹ-khí của cổ-kim. Tiếng tăm của thầy khác người, rồi sẽ biết. Tống Thái-tông, Thái-b́nh Hưng-quốc năm thứ 6, Thái-tông nghe danh Phóng quả nhiên triệu vào triều. Phóng nại cớ c̣n mẹ già nên không vào triều. Thái-tông quư thửa tiết-khí, cấp cho 2 vạn quan tiền, ba ngàn cây lụa, 30 thưng gạo, bảo để lo an–táng thân-mẫu.

Chân-Tông triệu ông ở Chung-nam, cáo ốm không đến. Sau nhiều lần vua thỉnh, ông có làm chức gián-nghị đại-phu nhưng cuối cùng cũng xin về núi Chung-nam. Khi ông mất Tự-tông có phong làm Công-bộ Thượng-thư. 

        Lư Chi Tài, tự Đỉnh-chi, người Thanh-châu. Hiên ngang không ai bó buộc được. Thờ Mục-Tu làm thầy. Cử Tiến-sĩ, làm tư-hộ tham-quân Mạnh–châu kiêm thành-lệnh. Lúc đó, Thiệu-Ung làm nhà trên Bách-trượng-nguyên, núi Tô-môn. Ăn kham mặc thô. Chi Tài nghe Ung khổ học lại có chí làm nhà, nên mới hỏi sở học của Ung: học để tiến thủ khoa cử. Chi Tài nói: ngoài cái học khoa-cử ra c̣n có cái học nghĩa-lư, thầy có biết không?  Ung nói: dạ, chưa biết, xin dạy cho. Chi-Tài nói: ngoài nghiă-lư c̣n có vật-lư- học Ung nói: dạ, chưa biết, xin thụ-giáo. 

          Tiên-sinh không sách ǵ là không đọc, nhưng chuyên-chú vào Lục-Kinh, nên hiểu được thâm-ư cuả thánh-nhân. B́nh sinh không chú-trọng đến huấn-giải. Tiên-sinh có viết ra HCKT, lấy số cuả Nguyên, Hội, Vận, Thế mà suy ra tất cả. 

BÁCH-NGUYÊN HỌC-ÁN
 

Thiệu-Ung (1011-1077), tự Nghiêu-phu, thụy Khang-tiết, là tư-tưởng-gia then chốt thời Bắc-Tống. Cha ông húy Cổ ẩn đức không ra làm quan. Hồi c̣n ấu thơ, ông theo thân-phụ dọn nhà sang Cộng-thành, sau mới dời sang Hà-nam. Tự hùng kỳ tài, ước-vọng cao viễn. Trú ở đất Bách-nguyên trên núi Tô-môn, ăn mặc thô đạm, hết ḷng thờ cha. Khắc khổ tự gắng sức trong nhiều năm. Riết rồi than rằng: người xưa chuộng bạn thiên-cổ, riêng ta chưa đi được bốn phương. Sau đó, vượt Hoàng-hà, sông Phần, băng qua sông Hoài. Sông Hán, chu-lưu các vùng Tề, Lỗ, Tống, Trịnh, rồi mới trở về nhà. Hồi đó ở Bắc-hải, Lư Chi-Tài đang làm Cộng-thành-lịnh, có dạy cho ông Ha-đồ, Lạc-thư, và Tiên-thiên Tượng-số-học. Tiên-sinh thám-trách, sách-ẩn, diệu-ngộ thần-khế, tự ḿnh hiểu ra.  

Dịch-hồi đó c̣n dang trên đà phát-triển. Trần Đồ-nam đọc Dịch, lấy số-học mà truyền cho Mục-Tu, Mục-Tu truyền cho Chi-Tài, Chi-Tài truyền cho Ung. Lấy tượng-học truyền cho Trùng-Phóng, Trùng-Phóng truyền cho Hứa-Kiên, Kiên truyền cho Phạm Ngạc Xương, Vân-Kiên, người Ngu-giang (Đông-đô Sự-lược). 

Hoàng-Cực Kinh-Thế T-Truyện皇極經世書傳, 8 Quyển, 74 Thiên (khuyết một Thiên áp chót), Tam-xuyên Thiệu-Ung Nghiêu-phu三川 邵雍 堯夫 soạn, Áo-châu Hoàng-Kỳ Tông Đại-truyện  奧洲 黃畿 宗大傳, Trung-Hoa Thư-cục ảnh-ấn. 

         Đây là Bộ sách về Dịch Tiên-thiên vỹ-đại và uyên-áo nhất về cả ba mặt Tượng-số, Tâm-học và Sử-trắc (Cliometry) tức Sử-toán nghiă là dùng Toán-học viết lịch-sử. Sách phát-minh vô-số Dịch-đồ ẩn-hàm. Tôi đă đọc kỹ quyển sách dài 11600 chữ này, với tâm thành cuả một nho sinh gốc toán, và đă phải dùng chiến-thuật "ruột tượng", nghiă là cất vào trang kép cuả sách những công-thức, luận-thức (algorithms), toán-thức (formulations), t́m được hay thêm vào khi đọc sách. Đáng kể nhất là 2 Dịch-dồ:  

1) Hoàng-cực Sinh-sinh-đồ để tự-sinh (SysGen) và tự-triển (bootstrap) mọi biệt-quái cho Nguyên (129600 năm), Hội (10800 năm), Vận (360 năm) và Thế (30 năm).

2) Siêu-viên-đồ gồm 4 Viên-đồ 64 biệt-quái Tiên-thiên chồng trập lên nhau hoặc lồng vào nhau và lệch pha một góc p/2 được dùng làm điạ-bàn cho Sử-trắc HCKTTT, khởi đầu từ thời Vua Nghiêu với một phép áp tuyến-tính (linear), khác với song-tuyến-tính (bilinear) cuả Thái-Ất, hay bảo-giác-tính (conformal mapping) cuả Sử-trắc Duy-biến (Change’s Cliometry). 

Suốt từ thời Chiến-quốc đến nay, duy có HCKTTT là có tầm vóc cuả Ngũ-kinh: sách không những phát-huy được Dịch Tiên-thiên cuả trường-phái Hoa-âm-sơn, mà c̣n chăm dạy hậu-thế Đạo-tâm cuả Dịch trong Bách-cú cuối sách, đường tắt tuyệt vời đi vào ḷng Kinh Dịch. Toàn sách có thể tóm vào một chữ Thời, gồm đủ Thể và Dụng, trong tinh-thần: "Thể không định-dụng, lấy biến làm dụng; dụng không định-thể, lấy hoá làm thể." 

Sách được chia thành 8 quyển mà 6 quyển đầu chép 62 thiên Quan-vật mà 12 thiên chót là Nội-thiên do Thiệu-tử đích thân viết. Quyển 7 (Quan-vật Ngoại-thiên Thượng) gồm 6 thiên: 

1) Hà-đồ Thiên-điạ Toàn-số;

2) Tiên-thiên Tượng-số;

3) Tiên-thiên Viên-đồ Quái-số;

4) Tiên-thiên Phương-đồ Quái-số;

5) Hậu-thiên Tượng-số;

6) Hậu-thiên Chu-Dịch lư-số. 

Quyển 8 (Quan-vật Ngoại-thiên Hạ) cũng gồm 6 thiên: 

1) Dĩ Nguyên kinh Hội Đại-tiểu-vận-số;

2) Dĩ Hội kinh Vận Sinh-vật Dụng-số;

3) Dĩ Vận kinh Thế Quan-vật Lư-số;

4) Thinh-âm Xướng-hoạ Vạn-vật Thông-số;

5) Khuyết-nghi;

6) Tâm-học gồm đúng 100 tiết. Thiên này rất quan-trọng v́ tóm tắt vẹn toàn Tâm-học của Thiệu-tử. Sách HCKTTT của Hoàng-Kỳ đă lột lọn nghĩa của thiên này. Nào là Thái-cực, Thái-tố, Thái-sơ, Thái-canh, Trung-dung, Tính-khí, Thận-độc, Chí-lư, Chí-thành.  Nào là Lăo, Quản, Khổng, Mạnh, Nhan, Tử-tư, Án-tử, Vương Thông cho chí Phật-thị (Đức Phật-tổ), Trang-tử, Huệ-tử, Thúc-hướng, Tử-Sản. 

Trong sách “Hoàng-cực Kinh-thế Quan-vật Ngoại-thiên Diễn-nghĩa 極經世觀 物外篇衍義”, Tống-nho Trương Hành Thành 張行成không những đă diễn-nghiă kỹ-càng “Quan-vật Ngoại-thiên”, mà ông c̣n khám-phá ra 3 tiết-mục khuyết-số là: 

1)    (317, tr. 91)

六者三天 也。四者兩地也。天統乎體而託地以為體地分乎用而承天以為用。天地相 依。體用 附。(6 là trời 3 vậy; 4 là đất 2 vậy. Thể thống-lĩnh trời, mà dựa vào dụng để làm thể. Đất phân nơi dụng mà thừa phụng trời để làm dụng. Trời đất nương tựa nhau. Thể dụng nương cậy nhau). 

Trong Kinh-thế Quái-khí-đồ, thể-số lấy 4 hào cho mỗi ngày nên 1 năm cả thẩy gồm 384 ngày, đó chính là trời 3 đất 2 vậy. Dụng-số lấy 6 hào làm 1 ngày. Vi chi mỗi năm thông-nhuận 256 ngày tức 256 quẻ, bởi chưng:

1440 + 96 = 1536 = 3 x 512 = 3 x 29 = 6 x 28 = 256 

2) (317, tr. 390)

辰之於天猶天地之體也地有五行天有五緯地止有水火天復有日月者月為真 水日為真火陰陽真精是 生五行所以天地之數各五陽數獨盈于七也是故五藏之外又有 心包絡命門而七者真心離火命坎水五藏生焉精神之主性命之根也。(Thần đối với trời giống như thể của trời đất vậy. Đất có ngũ-hành, trời có ngũ-vỹ. Đất chỉ có Thuỷ Hoả. Trời lại có Nhật Nguyệt. Nguyệt là chân-thuỷ; Nhật là chân-hoả. Cho nên mỗi thiên-điạ-số có 5 dương-số và đầy nơi 7 vậy. Bởi thế, ngoài ngũ-tạng c̣n có tâm-bao-lạc và mệnh-môn cho đủ 7. Có chân-tâm Ly hoả, mệnh-môn Khảm thuỷ, ngũ-tạng mới sinh ra để làm chủ tinh-thần và làm gốc tính-mệnh). 

3) (317, tr. 419)

八卦相錯者相交錯而成六十四卦 也Bát-quái tương-thác giả, tương giao thác nhi thành lục thập tứ quái dă. (8 quẻ giao nhau (Thuyết-quái III/1) mà thành văn; 8 quẻ chạm nhau (Hệ-Thượng I/2 ) là khí của chúng suy-biến nhau mà sinh-hoá.

Dựa vào hai câu thơ của Thiệu-tử:

若無楊子天人學            Nhược vô Dương-tử Thiên-nhân-học,

安有莊生內外篇            An hữu Trang-sinh Nội-ngoại thiên.

(Nghĩa là: Nếu không có Thiên-nhân-học của Dương Hùng, th́ làm sao có được Nội-ngoại-thiên của Trang-tử Nam-hoa-kinh.)

Ông cho rằng Ngoại-thiên cũng do Thiệu-tử soạn, môn-nhân chỉ biên-tập lại mà thôi. 

Thiệu-tử nói: “ 學,心 也,故 起,萬 也。”  (Tiên-thiên chi học tâm-pháp dă, cố đồ giai tự trung khởi, vạn-hoá, vạn-sự sinh hồ tâm dă) (Cái học Tiên-thiên là tâm-pháp vậy, nên đồ đều khởi từ tâm, vạn-hoá, vạn-sự sinh nơi tâm vậy). 

Ngài cũng nói:“ 是,蓋 矣。” (Đồ tuy vô văn, ngô chung nhật ngôn nhi vị thường ly hồ thị, cái Thiên Điạ Vạn-vật chi lư tận tại kỳ trung hỹ) (Đồ tuy không có văn-tự, ta nói suốt ngày mà chưa từng dời khỏi, nên mọi lư của Thiên Điạ Vạn-vật đều nằm bên trong vậy) (Hoàng-cực Kinh-thế, Quan vật Ngoại-thiên). Có thể nói đó là “Vô tự Thiên-thư 無字天書” của Ngài vậy. 

          Trước khi đọc tiếp, xin quư-độc-giả nhớ nằm ḷng Viên-đồ Tiên-thiên bên dưới, v́ nó cũng quan-trọng không kém định-lư Cuny khi nghiên-cứu h́nh học phẳng của Euclid.

H́nh 14.01  Lục-thập-tứ Quái Tiên-Thiên 

 

 1 Nguyên = 12 Hội = 12x30 tức 360 Vận = 12x360 tức 4320 Thế = 129600 năm. Nguyên ở đây tương với kiếp (kalpa) cuả Nhà Phật (1 trung-kiếp = 16 800 000 năm). 

Nếu trong 64 quẻ trong Viên-đồ Tiên-thiên, ta để riêng 4 quẻ chính-phương Kiền, Ly, Khôn, Khảm tượng-trưng cho Nhật Nguyệt Tinh Thần và cho nhuận-nguyệt, ta c̣n 60 quẻ chia đều cho 12 Hội trong mỗi Nguyên, nên mỗi Hội bao gồm 60/12 = 5 quẻ.         

Riêng phần toán-thuật và sử-trắc của sách, các nho-sinh gốc toán có thể dùng số mũ và một vài mẹo vặt và kư-hiệu của toán-học để lập ra những đồ-biểu, định-thức, công-thức, toán-thức (formulation), luận-thức (algorithm) cho Hoàng-cực Kinh-thế th́ sách này sẽ ngắn gọn, đa-hiệu và sáng sủa gấp bội.  

Một thí-dụ điển-h́nh là phép suy từ Viên-đồ Tiên-thiên 5 quẻ cho mỗi Hội, và 30 quẻ cho 30 Vận trong Hội đó.

Gọi b là trị-số của Hội (Tư= 1, Sửu= 2 v.v.). Quẻ đầu trong 5 quẻ của mỗi Hội sẽ là:

Ở đây hàm-số trần (ceiling) chỉ số nguyên nhỏ nhất trị cuả biểu-thức trong ṿng ngoặc. 

Tại mỗi quẻ kép là 1 số nhị-phân có dấu nên tuyệt-trị lớn nhất là 26-1 - 1 =  31.

Do đó khi β > 6, ta phải đổi x thành:  X = x – 63. Ta được bảng:

Bảng 14.01  Quẻ biến-sinh trong Nguyên Kinh Hội

Các quẻ kế-tiếp trong nhóm 5 quẻ của Hội sở-quan được tính bằng 1 trong 2 hệ- thức :

y = x + i   khi b ≤ 6  hoặc   Y = X + i   khi b > 6, với i = 1 ... 4

Mỗi khi y hoặc Y là 1 trong 4 chính-quái nghĩa là có 1 trong 4 trị-số:  + 31, + 13,  -0, -18, th́ ta phải lấy số kế-tiếp làm quẻ kế-tiếp trong công-thức.

Chẳng hạn như trong Nguyên đương-quan (Nhật = Giáp 1), Hội Tư ứng với Nguyệt = Tư. 30 Vận sẽ là Giáp 1 ... Quư 10, Giáp 11 ... Quư 20, Giáp 21 ... Quư 30.

Tinh của mỗi Vận trong Hội Tư này sẽ bắt đầu bằng số: 1, 13, 25 ... 349 (amod 12). Năm quẻ của Hội sẽ là Phục, Di, Truân, Ích, Chấn, mỗi quẻ quản 1 nhóm 6 vận. Trong mỗi nhóm quẻ đầu nhóm sẽ là quẻ đối-xứng của quẻ quản nhóm qua trục đối-xứng dọc. Như vậy trong Hội Tư 6 quẻ đầu nhóm sẽ là: Khôn, Bác, Tỷ, Quan, Dự.

          Từ quẻ đầu này, ta có thể suy ra 5 quẻ kia bằng cách động (1’s complement) hai hào liên-tiếp từ hào sơ trở lên: (1-2), (2-3), (3-4), (4-5), (5-6). Tỷ như:

Khôn  B Lâm S Minh-di d Chấn s  Truân C  Di  [;

Bác W  Tổn i V  Phệ-hạp U Ích j Phục   X  v.v.

 

Một Nguyên gồm 24 tiết-khí và chia thành 12 Hội. Bốn quẻ chính-phương có 24 nhuận hào, mỗi hào ứng với 1 tiết, hoặc khí.

          Hội Tư ứng với 2 nhuận hào sơ-cửu và lục-nhị quẻ LY chủ hai tiết-khí Đông-chí và Tiểu-hàn. Cho nên Ly nhất biến (2 hào 0–1) thành quẻ Lữ chủ Đông-chí; nhị-biến (2 hào 1–2) là Đại-hữu chủ Đại-hàn. V́ hội có 5 quẻ tức 30 hào nên mỗi tiết mỗi khí ứng với 15 hào tức 15 trực của lịch-pháp: kiến, trừ, măn, b́nh, định, chấp, phá, nguy, thành, thâu, khai, bế, cộng với hoà trực của ngày thứ 15 nếu cần. Đông-chí ứng với các quẻ Phục, Di và hạ-quái quẻ Truân; Tiểu-hàn ứng với thượng-quái quẻ Truân và các quẻ Ích, Chấn. Quẻ Phục (thời chi thế, thuỷ chi thần), số chung-thuỷ HCKT là: 126x304 = 2418647040000; quẻ Di (Nhật chi thế, hoả chi thần), có số chung-thuỷ là: 125x304= 201553920000; quẻ Truân (Nguyệt chi thế, thổ chi thần), với số chung thuỷ là: 125x303 = 6718464000; quẻ Ích (Niên chi thế, thạch chi thần), với số chung-thuỷ là: 124 x 303 = 559872000; quẻ Chấn (Thế chi thế, thần chi thần), với số chung-thuỷ là: 124 x 302 = 18662400. Cứ suy như thế ta sẽ có đủ 12 Hội.

          Xin tham-chiếu "Biểu Kỷ-sự" dưới đây: 

Biểu dưới đây được lập-thành trong 3 giai-đoạn. Trong giai-đoạn I, bốn chính-quái Ly Kiền Khảm Khôn lục-hào biến-quái; trong giai-đoạn II, 60 quẻ được phối-trí với 4 mùa và 24 tiết-khí; trong giai-đoạn III, các chung-thuỷ-số của Hoàng-cực Kinh-thế được phân-phối cho 60 quẻ. Đó chính là số của:

Nguyên     Hội          Vận      Thế  

                             → Niên          Nguyệt    Nhật     Thời

Nhật          Nguyệt    Tinh      Thần

    Thạch        Thổ          Hoả      Thuỷ 


Phương-trận vừa liệt-kê rất quan-trọng trong việc đặt tên cho các loai số trong Hoàng-cực Kinh-thế, như ta vừa thấy bên trên. Đọc lại kỹ đoạn giải-thích nguyên-lư cơ-bản trên, ta mới thấy  rằng: 

Xem phân-trực-biểu nhớ liền,

                             Nhờ tứ-chính-quái LY, KIỀN, KHẢM, KHÔN.


Bảng 14.02  Biểu Phân-trực của Nguyên Kinh Hội

 

126.304 = 2418647040000

125.304 = 201553920000

125.303 = 6718464000

124.303 = 559872000

124.302 = 18662400

 

123.302 = 1555200

123.301 = 51840

122.301 = 4320

125.304 = 201553920000

124.304 = 16796160000

 

124.303 = 559872000

123.303 = 46656000

123.302 = 1555200

122.301 = 4320

121.301 = 360

 

125.303 = 6718464000

124.303 = 559872000

124.302 = 18662400

123.302 = 1555200

123.301 = 51840

 

122.301 = 4320

122.300 = 144

121.300 = 12

124.303 = 559872000

123.303 = 46656000

 

123.302 = 1555200

122.302 = 129600

122.301 = 4320

121.301 = 360

121.300 = 12

 

122.302 = 129600

123.302 = 1555200

123.303 = 46656000

124.303 = 559872000

124.304 = 16796160000

 

125.304 = 201553920000

125.305 = 6046617600000

126.305 = 72559411200000

123.302 = 1555200

123.303 = 46656000

 

123.302 = 1555200

122.302 = 129600

122.301 = 4320

121.301 = 360

121.300 = 12

 

123.303 = 46656000

124.303 = 559872000

124.304 = 1679616000

125.304 = 201553920000

125.305 = 6046617600000

 

126.305 = 72559411200000

126.306 = 2176782336000000

127.306 = 26121388032000000

124.303 = 559872000

125.303 = 6718464000

 

125.304 = 201553920000

126.304 = 2418647040000

126.305 = 72559411200000

127.305 = 870712934400000

127.306 = 26121388032000000

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 133

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com