www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 13

 

TỐNG, NGUYÊN DỊCH


 

 (Tiếp theo Kỳ 130)

 

          Lư-học Đời Tống chia thành ba ngành: Tượng-số-học do Thiệu-tử đề-xướng (sẽ nói kỹ nơi CHƯƠNG 14: HOÀNG CỰC KINH THẾ NGÔN-SỐ), Đạo-học cuả Chu Đôn Di (Liêm Phái), Trương-Tái (Quan Phái), Tŕnh-Hạo (1032-1085)|Tŕnh-Di (1033-1107) (Lạc Phái), và cuả Chu-Hi (Mân Phái), và Tâm-học cuả  Lục Cửu Uyên (Xem Tượng Sơn Học Án ở bên trên). 

LIÊM-KHÊ HỌC-ÁN

(338, Quyển Thượng, tr. 282-311;  428, Tập 2, tr. 116-125) 

          Chu Đôn Di (1017-1073), tự Mâu-thúc, người châu Đạo, tỉnh Hồ-nam. Nguyên danh là Đôn Thực, v́ tỵ húy vua Tống Anh-Tông nên cải danh là Đôn-Di. Thoạt đầu ông làm chủ-bạ Hồng-châu, thuộc huyện Phân-ninh. Thời đó  ngục lâu không có phán-quyết, ông tấn lập biện. Được người Bộ Lại tiến làm Nam-an-quân Tư-lư Tham-quân rồi chuyển làm đại-lư-thừa, cai-trị đất Nam-xương, chức chuyển-vận phán-quan ở Quảng-đông và chức tri-quân ở quận Nam-khang. Sau v́ có bệnh xin từ chức về làm nhà ở núi Liên-hoa, thuộc Lư-sơn. Ở đó có khe núi trong sạch, ông thường ra đó giặt dải mũ. Ông bèn đặt tên khe là Liêm-khê và tự lấy làm tên hiệu. Hậu nho nhân đó gọi phái học cuả ông là Liêm-phái. 

          Trưóc-tác cuả ông mất mát nhiều, duy chỉ có Thái-cực Đồ-thuyết và Thông-thư là được lưu-truyền.
 

Thái-cực Đồ-thuyết

太極圖說

 

            Chu Đôn-Di hiểu thấu cái gốc nguyên-thủy cuả vũ-trụ. Cái gốc ấy không tiếng, không mùi không phương-sở, không h́nh trạng, ở ngoài tất cả những ǵ ta lấy ư mà hội được, mà vẫn là then chốt cuả vạn-vật. Nhưng v́ không biết kêu sao cho đúng nên tạm gọi là vô-cực. 

          Ông nói: vô-cực mà thái-cực. Thái-cực động mà sinh ra dương. Động cực mà thành tĩnh. Tĩnh cực lại trở thành động. Một đông, một tĩnh, nương tựa lẫn nhau. Phân âm, phân dương, lưỡng nghi lập thành. Dương biến, âm hợp mà sinh ra kim, mộc, thủy, hoả, thổ. Ngũ-khí thuận-bố, bốn muà vận-hành. Ngũ-hành là âm dương vậy. Âm dương là thái-cực vậy. Thái-cực gốc ở vô-cực, do ngũ-hành sinh ra. Mỗi thứ có một tính. Chân  tướng cuả vô-cực, Tinh-ba cuả nhị-ngũ. Diệu-hợp mà xối xả chẩy xiết. Đạo Kiền thành nam; Đạo Khôn thành nữ. Hai khí giao-cảm. Hoá sinh muôn vật.

Vạn-vật sinh sinh mà biến-hoá vô-cùng. Chỉ có con người là được hưởng thửa tú-khí mà trở thành tối-linh. H́nh đă sinh ra rồi. Thần phát tri rồi. Ngũ tính cảm-động mà thiện ác phân. Vạn sự xuất-phát. Thánh nhân định nó bằng trung chính, nhân, nghiă mà chủ tĩnh (Tự chú: Vô-dục nên tĩnh). Nhân-cực lập thành. Nên thánh-nhân hợp đức với trời đất, hợp minh với nhật-nguyệt, hợp trật-tự với bốn muà, hợp cát hung với quỷ-thần. Quân-tử tu đó mà được cát, tiểu-nhân trái đó mà gặp hung. Nên nói: " 

Dựng Đạo Trời là âm với dương, dựng Đạo Đất là nhu với cương, dựng Đạo Người là nhân với nghiă" (Thuyết-quái-truyện II/1). Lại nói: "Suy nguyên từ trước, trở lại về sau, nên biết thuyết sống chết (Thượng-Hệ IV/2)". Ôi! Đạo Dịch lớn lao thay, đến nơi đến chốn thay.         

            Lưu Trấp-Sơn nói: "Một âm, một dương gọi là Đạo", tức là Thái-cực. Trong khoảng trời đất chỉ có một khí mà thôi. Không phải là có lư rồi sau mới có khí. Khí bèn lập mà lư nhân đó mới ngụ ở bên trong. Bên trong thành tựu H́nh-nhi-hạ-học ám-chỉ H́nh-nhi-thượng-học. Không thể không suy cao thêm môt từng nữa để lập ngôi chí-tôn. Nên gọi đó là Thái-cực mà thực ra không thể nói là Thái-cực. Đó chính là "vô-cực mà thái-cực dương như hợp-phù-tiết". Khiến cho thực có lư Thái-cực, là mẹ đẻ cuả khí đó. Cũung chỉ là một  vật mà thôi. Huống hồ, 'sinh sinh bất tức', diệu vạn-vật mà vô-cùng. Nay nói là lư mà vốn dĩ là vô-h́nh. Nên gọi là vô-cực. Vô bèn trở lại chú cước hữu. Chỗ kỳ-diệu cuả Thái-cực chỉ là 'sinh sinh bất tức'. Sinh âm, sinh dương, rồi sinh ra kim, mộc, thủy, ạihoả, thổ mà sinh ra vạn-vật. Đều là một khí biến-hoá tự nhiên ra, mà hợp lại chỉ là một trao đổi.  Đó là uân-áo cuả tạo-hoá. Duy con người được nó để là  người. Ắt trong khoảng h́nh-thần, nhờ đó bảo cho làm ngũ-tính mà cảm-ứng tṛi ra, thiên-ác giới-phân, nhân-sự vạn-hữu không chỉnh-tề. Duy thánh-nhân thâm ngộ lư làm tĩnh. Vô-cực mà được thửa sở dĩ vi tĩnh mà làm chủ nó. Bèn tại nơi trung-chính nhân-nghiă, tuần lư làm tĩnh. Trời đất là Thái-cực ấy, ấy kia không vay mượn nhau, mà dường như hợp phù-tiết. Cho nên nói: hợp đức. Như thể trừ bỏ sở-hữu cuả trời đất mà ban cho vật, và ban cho loài người. Há trời đất làm lụng như thế sao? Từ vô-cực nói đến vạn-vật, là thủy chung cuả trời đất. Từ vạn sự trở ngược về vô-cực, là nói đến chung mà thủy cuả thánh-nhân. Thuyết chung thủy tức thuyết sinh-tử. Mà khai-quan hỗn-độn nấm đất bẩy thước. Người đă biết đến như thế, có thể nói chuyện Đạo.  Đó là cốt-yếu cuả chủ tĩnh. Chí như cực, hoặc nói: Chu-tử đă  lấy động-tĩnh cuả Thái-cực mà sinh âm-dương cho chí chỗ lập cực cuả thánh-nhân, biên ra một chũ tĩnh, là v́ sao? Đáp: âm-dương động-tĩnh, chẳng nơi nào là không có. Như xét riêng lư, khí, ắt lư thuộc tĩnh, khí thuộc động. Không cần bàn thêm. Nên nói: tuần lư làm tĩnh, không phải là tĩnh cuả động-tĩnh đối-đăi.


Thông-Thư

通書

 

          Chu Liêm-khê làm ra sách Thông-thư cốt để bàn về nguồn gốc tính thiện và cách tu-dưỡng cuả người quân-tử. Ông cho tính thành là cỗi rễ cuả ngũ-thường (Nhân, Nghiă, Lễ, Trí, Tín), là căn-bản cuả trăm nết. Thành qua mặt thiện-ác và đồng thể với Thái-cực. Cho nên khởi đầu ông viết: "Thành giả thánh-nhân chi bản  = Thành Là cỗi rễ cuả thánh-nhân". Thành là chí thực, vô-vơng, tức thị chính-lư trời đất phú cho vạn-vật. Lúc đầu Đạo Kiền chớm động, vạn-vật lấy đó làm đầu. Ấy là nguồn gốc cuả tính thành vậy. Đạo Kiền biến hoá định ra tính-mệnh, tính thành mới lập ra vậy. Cho nên Kinh Dịch nói rằng: "Nhất âm, nhất dương chi vị Đạo, kế chi giả thiện dă, thành chi giả tính dă = Một âm, một dương gọi là đạo. Nối tiếp đạo là điều lành, làm nên đạo là thiện tính" (Thượng-Hệ V/1,2). 'Một âm, một dương' là chỉ động-thể cuả Thái-cực. Động-thể ấy là Đạo. Nối được đạo ấy là thiện. Lập thành đạo ấy là tính. Vậy nên tính không thể không thiện được.

          Thánh-nhân sở dĩ là thánh là nhờ có hoàn-toàn cái thực-lư. Cho nên nói rằng: "Thánh, thành nhi dĩ = Thánh là thành mà thôi".

 

HOÀNH-CỪ HỌC-ÁN

(338, Quyển Trung, tr. 933-955) 

                Trương-Tái (1020-1077), tự Tử-hậu, là người trấn Hoành-cừ, có làm hiệu-thư Sùng-văn-viện, không lâu từ quan về quê ḿnh ở trấn Hoành-cừ dạy học, nên người đương thời gọi ông là Hoành-cừ Tiên-sinh. Hồi thiếu thời ông ưa đàm binh, lúc đó biên-cảnh phía tây bị quân Tây-hạ quấy nhiễu, ông mộ quân lấy lại được đất Thao-tây. Ông viết thư cho đương thời chiêu-thảo phó-sứ Phạm Trong-Yêm để bàn vấn-đề biên-pḥng. Phạm Trong-Yêm đáp: nho-giả tự ḿnh có danh-giáo là vui rồi, cớ sao lại dính dáng đến việc binh-bị? Và khuyên Trương-Tái đọc 'Trung Dung'. Trương-Tái đọc xong 'Trung Dung', nhận thấy là chưa đủ, nên duyệt-lăm một số sách Phật-giáo và Lăo-giáo. Nghiên-cứu 'Chu Dịch', ông lấy 'Dịch-truyện' làm căn-cơ cho triết-thuyết cuả ḿnh, rồi bác-lăm quần-thư, nghiên-cứu thiên-văn, Đông-y, tiến-hành phê-nghị duy-thức luận cuả Phật-giáo, và duy-tâm-luận cuả Đạo-giáo. Đó là đạo-lộ nghiên-cứu học-thuật, tư-tưởng cuả ông. 

          Có người cho là cái học cuả ông là duy-tâm-luận, có người bảo là duy-vật-luận, lại có vài người khác bảo là Nhị-nguyên-luận. Xin nêu ra vài luận-cứ: 

          1/ Cái mà Thái-hoà gọi là Đạo, bao hàm tính-chất phù-trầm, thăng-giáng, động-tĩnh bên trong: đó là khởi-điểm cuả nhân-uân tương đăng, thắng phụ khuất thân (Chính-mông, Chương Thái-hoà).

          2/ Khí tụ-tán nơi thái-hư, do băng ngưng thích nơi nước, mới biết rằng thái-hư tức khí ắt vô-vô (Cùng Chương trên).

          3/ Mỗi vật có hai thể, là khí. Một cho nên thần t́nh, hai cho nên biến-hoá (Chính-mông, Chương Tham-luỡng).

         4/ Thần là Thiên-đức, Hoá là Thiên-đạo; Đức là thể, Đạo là dụng. Chỉ là Một nơi khí mà thôi (Chính-mông, Chương Thần-hoá).

          5/ Phàm có h́nh-trạng là hữu, phàm hữu là có tượng, phàm có tượng đều là khí. Bản-tính cuả khí là hư mà thần, ắt thần với tính là cái khí vốn có (Chính-mông, Chương Kiền-xưng). 

.         Ư-tứ chủ-yếu các luận-cứ trên là để nói rằng: trước nhất là mọi sự việc trên cơi đời này đều xuất-phát từ thái-hư vô vật hoặc từ vạn-vật có h́nh-trạng, đều là biến-hoá cuả khí, đều thống-hợp nơi biến–hoá vi-diệu cuả khí. Sau nữa là, bên trong khí có chứa bản–tính vận-động biến-hoá sinh ra từ hỗ-tác giữa bản-tính và đối-tính.           

Điều mà Trương-Tái gọi là thần rất dễ ngộ-giải. Điều đó không chỉ nhân-cách  thần cuả Tông-giáo, mà cũng không chỉ tác-dụng tinh-thần cuả con người, mà là chỉ tác-dụng biến-hoá vi-diệu cuả thiên-nhiên. Bởi thế nên ông nói: "Thiên chi bất-trắc vị chi thần, thần nhi hữu thường vị chi thiên" (Chính-mông, Chương Thiên-Đạo). Quan-niệm thần này xuất xứ từ 'Dịch-truyện': "Âm dương bất trắc chi vị thần = Âm dương chẳng lường được th́ ngọi là thần" (Thượng-Hệ V/9) và "Thần dă giả, diệu vạn-vật nhi vi ngôn giả dă = Gọi là thần là v́ làm đẹp muôn vật mà nói" (Thuyết-Quái-Truyện VI/1). Cái gọi là thần là chỉ động-lực nội-tại biến-hoá sự vật.         

          Có một đoạn sau đây rất dễ ngộ-giải: "Thái-hư vô-h́nh là bản-thể cuả khí; thửa tán-tụ, biến-hoá chỉ là khách-h́nh. Chí tĩnh vô-cảm là uyên-nguyên cuả tính. C̣n cái có thể hay được, có thể biết được là khách-cảm cuả vật giao"(Chính-mông, Chương Thái-hoà). Dường như đểvnhận ra rằng: Thái-hư là bản-thể, c̣n khí chỉ là hiện-tượng. Thành thử ra, Triết-học cuả Trương-Tái là Khách-quan Duy-tâm-luận. Trương-Tái đă từng nói: "Cái thực cuả chí-hư, thực mà không dắn chắc; cái động cuả chí-tĩnh, động mà khôn cùng. Thực mà không dắn chắc, ắt duy nhất mà tán; động mà khôn cùng ắt đi mà lại về" (Chính-mông, Chương Kiền-tĩnh).

 

HỐI ÔNG HỌC-ÁN

(338, Quyển Trung, 840-905; Tâp 2, tr. 155-175; 249) 
 

          Chu-Hi 朱 熹 (1130-1200), tự là Nguyên-Hối, sau đổi là Trọng-Hối, hiệu là Hối-am. Hồi 18 tuổi ông đỗ Tiến-sĩ, được làm chủ-bạ ở huyện Đồng-an, tỉnh Phúc-kiến, được ít lâu bỏ về v́ nghe nói ở đất Diênb́nh, huyện nNam-b́nh có Lư-Đồng vui đạo ẩn-cư ở đó, ông bèn đến theo học, mới học được cái chính-truyền cuả Họ Tŕnh. Ông làm nhà gọi là Trúc-xá trong Vơ-di-sơn, thuộc huyện Sùng-an, Phủ Kiến-ninh, tỉnh Phúc-kiến. Kẻ sĩ bốn phương đến xin học rất đông. Hậu nho nhân đó gọi phái học cuả ông là Mân-phái.

          Đến đời vua Tống Hiến-tông (trị v́ 1165-1189), ông được cử làm tri-quận Nam-khang, sau được thăng chức đề-cử  ở đất Chiết-đông. Vua Ninh-tông (trị v́ 1195-125) lên ngôi, triệu ông vào triều làm chức Thị-giảng được 40 ngày, th́ bị đàn-hặc phải bải-chức. Lúc đó ông bị chê bai là ngụy-học, nhưng ông vẫn  gảng-ập không thôi. Ông mất năm Khánh-nguyên thứ sáu (1200), đời Vua Ninh-tông, được tặng tên  thụy là Văn.

          Ông làm ra các sách: Chu Dịch Bản Nghiă, Dịch-học Khải Mông, Thi-Kinh Tập-Truyện, Tứ-thư Tập-chú để giải nghiă rơ Kinh Truyện cuả thánh hiền. Những sách

cuả Thiêu-tử, cuả Chu Liêm-khê, và cuả Trương Hoành-cừ nghiă lư cao siêu, ông bèn viết ra các sách: Thái-cuc Đồ-giải, Thông-thư-giải, Chính-mông-giải để xiển-minh nghiă-lư, nên các sách ấy mới được thịnh-hành. Về mặt  tư-tuởng ông có viết ra: Cận-tư-lục,  Ngữ-lục, Văn-tập, Gia-lễ, Tŕ-gia Cách-ngôn, liên-quan đến học-thuyết và luân-lư.


ĐÔNG-LAI HỌC-ÁN

(338, Quyển Trung, 933-955; 427, Quyển XIII-XIV, Dịch-Thuyết, 297-353) 

Lă Tổ-Khiêm, tự Bá-cung, tiên-tổ người Hà-đông, sau dời sang Thọ-xuân. Lục-tổ dời sang Khai-phong. Tằng-tổ làm Đông-lai quận-hầu, thích hỏi. Trước ở Vụ-châu. Thuở thiếu thời, tiên-sinh tính t́nh thô lậu. Nhân nhuốm bệnh, nằm đọc Luận-ngữ, mới tỉnh-ngộ, suốt đời không bạo nộ nữa. Giao-du với ba ông Trường Tùng-Lâm, Chuyết-trai Uổng Ngọc-Sơn, và Hồ Tạ-Khê, cùng là đánh bạn với Chu-tử và Trương-Thức. Năm Đăng-long-hưng nguyên-niên, đỗ Tiến-sĩ cập đệ cùng là trúng tuyển Khoa Bác-học Hoằng-từ. Được bổ làm Thái-học Bác-sĩ kiêm  Sử-chức. Sau được tuyển làm Khảo-quan. 
 

NAM-HIÊN HỌC-ÁN

(338, Quyển Trung, 906-931; 361, 617-676; 239, 133-428)
 

          Trương-Thức (1020-1077), tự Kính-phu, một tự khác là Lạc-trai, hiệu Nam-Hiên, người xứ Quảng-Hán, sau dời về Vệ-dương. Tiên-sinh dĩnh-ngộ, túc-thành. Lớn lên theo Ngũ-phong Hồ Tiên-sinh để học Tŕnh-tử. Ngũ-phong Tiên-sinh thấy họ Trương là đại-khí nên đem hết sở học về luận đạo nhân cuả Khổng môn mà chỉ bảo cho.

          Ông là triết-gia thời Bắc-Tống, nổi danh về Dịch-học và là một trong những vị khai sáng ra Lư-học. Ông ưa bàn về binh-pháp, bác-lăm quần-thư, nghiên cứu các thuyếr về Nho-học, Lăo-học, và Phật-học. Dịch-học làm tông-chỉ, lấy Trung-Dung làm thể, lấy Khổng, Mạnh làm phép-tắc. Dịch-học cuả ông thuộc môn-phái Nghiă-lư, lấy phép âm dương biến-dịch làm phạm-trù tối cao cuả Dịch. Ông là đại-biểu cho khí-học-phái. 

          Chúng ta sẽ gặp lại ông ở CHƯƠNG 23: DỊCH BẢN ĐỒ KHẢO. 

 

TÂY-SƠN SÁI-THỊ HỌC-ÁN

(338, Quyển Trung, 1115-1136)
 

          Sái Nguyên-Định (1135-1198), tự Quư-thông, người xứ Kiến-chi, Kiến-dương.

Thân-phụ tên Phát bác lăm quần thư, hiệu Mục-đường Lăo-nhân, lấy Ngữ-lục cuả Tŕnh-tử, Kinh Thế cuả Thiệu-tử, Chính-Mông cuả họ Trương-tử truyền cho ông và bảo  rằng đó là chính mạch cuả Khổng-tử. Lớn lên, biện triết càng tinh-vi. Nghe tiếng Chu-tử, bèn viếng tôn làm thầy. Chu-tử thấy tài học cuả ông, cả kinh mà nói rằng: đó là bạn cuả ta, không cho vào hàng đệ-tử. Lại nói với các đệ-tử từ bốn phương đến xin học: muốn hỏi ǵ ta, trước tiên, hẵng chất-chính Tiên-sinh cái đă.

        Ông cùng Chu-tử hợp soạn Dịch-học Khải Mông 易學啟蒙 (249). Ông cũng viết ra nhiều Dịch-thư khác như: Hoàng Cực Kinh Thế 皇極經世 (?), Thái Huyền Tiềm-Hư Chỉ-yếu 太玄潛虛指要, Hồng Phạm Giải 洪范解 và Đại-Diễn Tường Thuyết 大衍詳說

 

THƯ TỊCH KHẢO (CHƯƠNG 13)

 

239 Đại-Dịch Tượng-số Câu Thâm Đồ 大易象數鉤深圖, Sơ-bản, Nguyên · Trương Trọng-Thuần 張仲純trước, Vũ-lăng, Đài-bắc, tháng 3-1991.

249 Chu-Dịch Khải-mông 周易啟蒙, Tống Chu-Hi 朱熹 (1130-1200) soạn, Hoa-an Xuất-bản-xă ấn-hành, Hong Kong.

290 Trung-Dung, Khổng-Cấp nguyên-tác, Chu-Hi tập-chú, Bản Việt-dịch của Cụ Cử Hồng-liên Lê-Xuân-Giáo, Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo-dục, Sài-g̣n, 1972

338 Tống Nguyên Học-án 宋元學案, Toàn tam Sách, Ngũ-bản, Minh è Hoàng Tông-Hy 黃宗羲 soạn, Thanh è Toàn Tổ Vọng 全祖望bổ, Thanh è Vương Tân Tài , Phùng Vân Hào 馮雲濠, Hà Thiệu Cơ 何紹基hiệu, Thế-giới Thư-cục, Đài-bắc, Tháng 9-1991.

359 Chu-Dịch Kinh-Truyện Tập-Giải 周易集解, Tống è Lâm-Lật 林栗 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập III, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

360 Dịch Nguyên , Tống è Tŕnh Đại-Xương 大昌 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập III, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

361 Nam-Hiên Dịch-Thuyết 南軒, Tống è Trương-Thức 張栻 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập III (tr. 617-676), Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

362 Dương-thị Dịch-Thuyết 楊氏, Tống è Dương-Giản 楊簡 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập III, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

363 Tống-đại Lư-học Tam Thư Tùy Tráp 宋代理學三書隨, Tái-bản, Tiền-Mục 錢穆

trước, Đông-đại Đồ-thư Công-ty xuất-bản, Vụ-phong, Đài-bắc, tháng 2-1996.

364 Triệu-thị Dịch-Thuyết 趙氏, Tống è Triệu Thiện-Dự 趙善譽 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập V, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

365 Dịch Truyền-Đăng 傳燈, Tống è Từ Tổng-Cán 徐總幹 soạn, in Đại-Dịch Loại-Tụ Sơ-tập V, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983. 蔡淵

366 Dịch Thông 易通, Tống è Triệu Dĩ-Phu 趙以夫 soạn, in Đại-Dịch Loại-Tụ Sơ-tập V, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

367 Dịch-Tượng Ư Ngôn易象意言, Tống è Sái-Uyên 蔡淵 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập V, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

369 Chu-Dịch Kinh-Truyện Huấn-Giải 周易傳訓, Tống è Sái-Uyên 蔡淵 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập V, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

389 Đại-diễn Sách-ẩn 大衍索隱, Tống Đinh Dịch-Đông 丁易東 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 14, Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

409 Đông-Pha Tiên-sinh Dịch-truyện 坡先生易傳, Tống Tô-Thức 蘇軾 soạn, Lưỡng Tô Kinh-giải Bản, 1597.

423 Dịch Tŕnh Truyện 程傅, Tam-bản, Tŕnh Di  程頤trước, Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc, Tháng 3-1978.

424 Lục Tượng-Sơn 陸象山, Tăng Xuân-Mai trước, Đông-đại Đồ-thư Công-ty xuất-bản, Vụ-phong, Đài-bắc, Tháng 7-1988.

425 Tượng-SơnToàn-Tập象山全集, Lục Cửu Uyên 九淵Soạn, Thương-vụ Ấn-thư-quán, Đài-loan, 1979.

426 Trương Tái Tập 張載集, Nhất-bản, Trương-Tái 張載 trước, Trung-hoa Thư-cục, Bắc-Kinh, Tháng 8-1978. 

427 Lă Đông-Lai Văn-Tập, Vương Vân-Ngũ chủ biên, Kim-Hoa Tùng-thư Bản,Thương-vụ Ấn-thư-quán, Bắc-kinh.


 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 132

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com