www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 13

 

TỐNG, NGUYÊN DỊCH


 

 (Tiếp theo Kỳ 129)

 

Muốn có một khái-niệm về Tống-Nguyên Dịch chúng ta có thể tham-khảo : 

Tống Nguyên Học-án , do Hoàng Tông Hy , tự Lê-châu , đời Minh soạn, Toàn Tổ Vọng đời Thanh bổ, Vương-Tân-Tài và Phùng Vân-Hào đời Thanh hiệu, 105 Q, Thế-giới Thư-cục, Ngũ-bản, Đài-Bắc, tháng 9-1991. 

Cả về phẩm lẫn lượng, dịch-thư từ đời Tống đến bấy giờ vượt xa các đời trước, giống như các sách toán và khoa-học thế-kỷ 20 so với các thế-kỷ trước, một trời một vực. Ngay đến các sách chữ Hán về nho-giáo, lịch-sử, triết-học-sử, tư-tưởng-sử, văn-hoá-sử v.v. cũng chỉ bàn phớt qua dịch-học-sử. Tôi cũng chỉ xin bàn phớt qua dịch-án các đời Tống (960-1279), Nguyên (1271-1368), Minh (1368- 1644) và Thanh (1644-1912). 

Hán-Dịch thiên về Tượng-số. Dịch của Vương Bật chuyên-bàn nghĩa-lư của kinh-văn. C̣n Tống-Dịch thiên về Lư-học lại gồm kiêm cả Tượng-số-học, Nghiă-lư-học, Đạo-học và Tâm-Học của sáu học-phái: Bách-nguyên-phái của Thiệu-Ung (1011-77), tự Nghiêu-phu với đại-tác-phẩm Hoàng-cực Kinh-thế Số    , Liêm-phái của Chu Đôn-Di (1017-73), tự Mậu-thúc với hai tác-phẩm “Thái-cực-đồ Thuyết ” và “Thông-thư ”, Quan-phái của Trương-Tái (1020-77), tự Tử-hậu với “Hoành-cừ Dịch-thuyết ”, Lạc-phái của hai anh em Tŕnh-Hạo (1032-85), tự Bá-thuần và Tŕnh-Di (1033-1108), tự Chính-thúc với “Chu Dịch Tŕnh-thị Truyện”, Mân-phái của Chu-Hi (1130-1200), tự Nguyên-hối với “Chu-Dịch Bản-nghĩa ”, và Giang-tây-phái 西 của Lục Cửu Uyên (1139-93), tự Tử-tĩnh , hiệu là Tồn-trai , tự hiệu Tượng-sơn-ông với Lục Tượng-sơn Toàn-tập và anh năm ông là Lục Cửu Linh (1132-80), tự Phục-trai , đạo-học tạo-vi, học được chân-chỉ của Tử-tư và Mạnh Kha. 
 

TƯỢNG-SƠN HỌC-ÁN
 

Lục Tượng-sơn, người huyện Kim-khê tỉnh Giang-tây. Lên năm, ông đă đi học đọc sách. Năm lên 10, ông theo anh ông là Cửu Linh lên học trường quận. Năm 13 tuổi, đọc sách “Hoài-nam-tử đến đoạn nói về "vũ-trụ", ông chợt đại-ngộ và nói: " 窮,人 也。Nguyên lai vô-cùng, nhân dữ thiên địa vạn-vật giai tại vô-cùng chi trung giả dă". (Nguyên lai vô cùng.  Người với trời, đất, vạn-vật đều ở trong vô cùng vậy). Ông cầm bút viết: " 事,乃 事,己 事,乃 ?Vũ-trụ nội sự, năi kỷ phận nội-sự, kỷ phận nội sự, năi vũ-trụ nội sự? (Việc trong vũ-trụ tức việc trong chức-phận ḿnh; việc trong chức-phận ḿnh tức việc trong vũ-trụ). Ông c̣n nói thêm: “ 便 心,吾 宇宙。東 焉,此 也,此 也。西 焉,此 同也,此 也。南 焉,此 也,此 也。千 上,至 下,有 焉,此 理,亦 也。Vũ-trụ tiện thị ngô tâm, ngô tâm tức thị vũ-trụ. Đông hải hữu thánh-nhân xuất yên, thử tâm đồng dă, thử lư đồng dă. Tây hải hữu thánh-nhân xuất yên, thử tâm đồng dă, thử lư đồng dă. Nam hải, Bắc-hải hữu thánh-nhân xuất yên, thử tâm đồng dă, thử lư đồng dă. Thiên bách thế chi thượng, chí thiên bách thế chi hạ, hữu thánh-nhân xuất yên, thử tâm, thử lư diệc mạc bất đồng dă.” (Vũ-trụ là tâm ta, tâm ta tức vũ-trụ. Biển Đông có thánh nhân xuất hiện, tâm ấy đồng vậy, lư ấy đồng vậy. Biển Tây có thánh nhân xuất hiện, tâm ấy đồng vậy, lư ấy đồng vậy. Biển Nam, biển Bắc có thánh nhân xuất hiện, tâm ấy đồng vậy, lư ấy đồng vậy. Trăm ngh́n đời trước cho chí trăm ngh́n đời sau, có thánh nhân xuất hiện, tâm ấy, lư ấy không ǵ là không đồng vậy).  

Từ đó ông đốc chí vào thánh-học. Kỳ thi hương năm nhâm-ngọ (1162), ông chọn Chu-lễ làm đề-tài. Kỳ thi hội mùa thu năm tân-măo (1171), ông lại chọn Kinh Dịch làm đề-tài. Năm sau ông đỗ tiến-sĩ với hạng “Vưu-mậu ” (Summa Cum Laude). Khảo-quan của ông chính là Lă Tổ-Khiêm (1137-1181), tự Bá-cung , hiệu Đông-lai . Về sau, năm ất-mùi (1175), chính ông này tổ chức cuộc gặp gỡ của hai anh em họ Lục với Chu-Hi và Lưu Thanh Chi , tại Nga-hồ-tự, ở Tín-châu, huyện Duyên-sơn, tỉnh Giang-tây, để tranh-luận dị-đồng giữa hai học-phái: hai ông họ Lục muốn phát-huy bản tâm con người trước đă rồi sau mới bác-lăm. Họ  Chu cho họ Lục dạy người thái-giản; họ Lục cho họ Chu dạy người chi-ly. Nói cách khác, “Tâm tức lư” đối chọi với “Tính tức lư”, “Tôn đức tính” chống lại “Đạo vấn học”. Sau đó ông có soạn Kính-trai-kư

Trong hai năm nhâm-dần và ất-măo (1182-1183), ông giảng Kinh Xuân-Thu tại Quốc-học. Năm mậu-thân (1188), ông lập tinh-xá trong Thiên-sơn và đổi tên núi này thành Tượng-sơn; môn-sinh kết nhà xung quanh. Chính năm này ông viết thơ cho Chu-Hi bàn về Thái-cực. Năm sau ông ứng chiếu, phó-nhậm Kinh-môn-quân. Tại đây, ông soạn các bài Ngọc-chi-ca, Kinh-độc-đường-kư, Quư-khê-huyện Trùng-tu-học Kư, Vũ-lăng-huyện Học-kư, Lâm-xuyên Bạ-sảnh Bích-kư. Tháng giêng năm nhâm-tư (1192), ông hội sứ-dân Kinh-môn lại để giảng chương Hồng-phạm Ngũ-Hoàng-cực trong Kinh Thư. Ông cũng luận về Thái-Huyền. Ông mất tại đây ngày 14 tháng chạp năm nhâm-tư nhằm ngày 18.01.1193.  

Ông cho rằng tri-thức đương-thời học có rộng đấy nhưng chưa đủ sâu, đắm ch́m trong không-tưởng và trách họ “ niêm nha tước thiệt” (Dán răng nhá lưỡi), “ đỗ-soạn lập thuyết” (Bày vẽ lập thuyết), nghĩa là:

Chi ly đỗ-soạn tiêu ma,

Dán răng nhá lưỡi c̣n ra quái ǵ !

Sau khi ở Nga-hồ tự về, ông có gửi cho anh năm ông (Phục-trai) bài thơ: 

欽,              Khư mộ hưng suy tông-miếu khâm,

心。              Tư nhân thiên-cổ bất ma tâm.

水,              Quyên-lưu tích chí thư?ng-minh thuỷ,

?            Quyển thạch sùng thành Thái-hoa sầm.

大,              Dị-giản công-phu chung thuỷ đại,

沈;              Chi-ly sự-nghiệp cánh phù-trầm;

處,              Dục tri tự hạ thăng cao-xứ,

  今。             Chân nguỵ tiên tu biện chỉ câm (kim).
 

Nấm mộ cao, nông, tông-miếu c̣n,

Ngh́n năm người ấy một ḷng son.

Suối con tuôn măi thành sông biển,

Đá nhỏ trồi lần hoá núi non.

Công-phu dị-giản luôn bền lớn,

Sự-nghiệp chi ly luống lẹm ṃn.

Vẫn biết lên cao từ chỗ thấp,

Chí ta quyết chẳng nản chân bon.

Hai câu đầu “Khư mộ hưng suy tông-miếu khâm, Tư nhân thiên-cổ bất ưng tâm", chứng tỏ họ Lục là nho-gia Tâm-học đầu tiên đă thấy rơ bản tâm, đức tính con người tuy tương xung nhưng tương thông với sự vật bên ngoài, trên triển-lộ dài dằng dặc, trong thời-gian triền miên vô-tận và trong không-gian bao la vô cùng. Ông đă triệt-ngộ "tâm tức tính" và "duy tinh, duy nhất" có cùng căn-nguyên và bành-trướng đồng thời với vũ trụ sinh sinh bất-tức của Dịch vậy. Đọc sách ông, tôi có cảm-tưởng như ḿnh đang đọc lại sách "The Anthropic Cosmological Principle" cuả hai nhà bác-học John D. Barrow và Frank J. Tipler, trong đó "Nguyên-lư nhân-tính" được phát-biểu dưới 3 dạng: 

Weak Anthropic Principle (WAP): The observed values of all physical and cosmological quantities are not equally probable but they take on values restricted by the requirement that there exist sites where carbon-based life can evolve and by the the requirement that the Universe be old enough for it to have already done so.

Strong Anthropic Principle (SAP): The Universe must have those properties which allow life to develop within it at some stage in its history. 

Final Anthropic Principle (FAP): intelligent information-processing must come into existence in the Universe, and, once it comes into existence, it will never die out. 

Muốn t́m hiểu tư-tưởng Tượng-sơn-ông, cần nghiền ngẫm cuốn “Tượng-sơn Toàn-tập”, Lục Cửu Uyên soạn, Thương-vụ Ấn-thư-quán, Đài-loan, 1979 (). 

Người thế-tục thời Bắc-Tống năng đọc 2 kinh “Lăng-nghiêm” (Sūrangama-sūtra) và “Duy-ma-cật” (Vimalakīrti-nirdeśa stra). Ngoài ra, Tượng-sơn c̣n đọc vài thiền-tịch khác. Ông từng viết: “ 教,然 ’, ‘ ’,‘ 經,則 ”. (Mỗ chưa từng đọc tàng-kinh cuả Thích-giáo, nhưng các kinh ‘Lăng-nghiêm’, ‘Viên-giác’ (Tathāgata-garbha-sūtra), ‘Duy-ma’, ắt thường xem qua). Và lại viết: “ 事,淫 使 也,乃 Hổ huyệt, ma-cung thực vi Phật-sự, dâm-pḥng tửu-tứ tận thị đạo-trường, Duy-ma sử Tu Bồ-đề trí bát dục khứ dă, năi kỳ cực tắc đương thị thời thập điạ bồ-tát”. (Hang hùm, cung ma, thiệt là Phật-sự; nhà chứa, quán rượu đều là đạo-trường; Duy-ma-cật khiến Tu Bồ-tát  muốn quẳng y-bát bỏ đi; nghĩ cho cùng, ắt lúc đó đang là mười đoạn đường Bồ-tát), (Toàn-tập, Q 2).         

Hai mệnh-đề đầu hàm nghĩa câu: “Cái gọi là ma-giới tức thị Phật-sự? trong kinh “Lăng-nghiêm”. Mệnh-đề 3 nhắc lại ư “ Tham, sân, tà-kiến tức thị Phật-tính” (Tham Sân Si chính là Phật-tính) trong kinh “Duy-ma-cật”. Sau hết, “ Phiền năo tức Bồ-đề? trích từ “Lục-tổ Đàn-kinh ” và “ 通。Sinh-tử  tức Niết-bàn tương quán-thông” (Sống Chết và Niết-bàn quán-thông nhau) trích từ “Đại-bát-nhă Kinh ” (Mahā-prajđā-pāramitā-sūtra). Xem như vậy, Tượng-sơn giữ lập trường Đại-lai-thiền của Thiền Lâm-tế. Ta không thể nào phủ-nhận phương-diện Thiền của triết-lư Tượng-sơn. 

Chung quy H́nh Nhi Thượng của Lục Tượng-Sơn thông-quán ‘Thiên’, ‘Lư’, ‘Tâm’, ‘Tính’ bằng phương-thức t́m “chân-tri, thực-giải” ngay trong tâm ḿnh. 

Dương Giản (1140- 1226), tự Kính-trọng , hiệu Từ-hồ , quán-đồ của Lục Tượng-Sơn, tiến-sĩ đời Kiền-Đạo, tác-giả của Dương-thị Dịch-truyện 易傳, Kỷ Dịch , Khải-tế và 8 quyển sách khác, cùng với Vương Tông Truyền , là hai người đầu  đem “Tâm Tính” mà thuyết Dịch. 

Ông chịu ảnh-hưởng hai câu “Vũ-trụ tiện thị ngô tâm” và “Lục-kinh giai ngă chú cước” của Lục Tượng-sơn nên có nói: “ 者,毋 也。吾 物,吾 量。天 者,吾 象,地 者,吾 形,故 象,在 形。皆 也。Phù sở dĩ vi ngă giả, vô viết huyết-khí h́nh-mạo nhi dĩ dă. Ngô tính trừng nhiên thanh-minh nhi phi vật, ngô tính đỗng nhiên vô-tế nhi phi lượng. Thiên giả, ngô tính trung chi tượng, địa giả, ngô tính trung chi h́nh, cố viết: Tại thiên thành tượng, tại địa thành h́nh. Giai ngă chi sở vi dă.”  (Ta sở dĩ là ta, bất quá là v́ không nói đến huyết-khí, h́nh-mạo. Tính ta thanh-minh trong lắng mà không phải là vật, sâu thẳm không bến bờ mà chẳng phải là lượng. Trời là tượng của tính ta, đất là h́nh trong tính ta, nên Đại-truyện nói rằng: Thành tượng trên trời, thành h́nh dưới đất. Tất cả đều thể-hiện trong ta). 

Tượng-sơn-ông chỉ mới dùng suông hai chữ "Vũ-trụ" mà khải-ngộ học-giả chứ không đề-cập tương-quan giữa vũ-trụ và bản-tâm. Chính Từ-hồ trong Kỷ Dịch mới diễn rơ tại sao vũ-trụ, Lư và Tâm chỉ là một.  Ông nói: “Vũ-trụ không ngoài được tâm ta. Nên mọi biến-hoá trong vũ-trụ cũng là biến-hoá trong tâm ta vậy. Cho nên Dịch là chính ḿnh chứ không thể là cái ǵ khác. Lấy Dịch làm quyển sách, không lấy làm chính ḿnh là không phải; cho Dịch là biến-hoá mà không nhận Dịch là biến-hoá của chính ḿnh là không phải; Trời Đất là Trời Đất của Ta, biến-hoá là biến-hoá của Ta, chứ không phải là của vật nào khác” ( 事。易 者,己 也,非 他也。以 書,不 己,不 也。以 化,不 化,不 也。天 地,我 地;變 化,我 化,非 也。Vũ-trụ phi ngô tâm ngoại sự. Dịch giả, kỷ dă, phi hữu tha dă. Dĩ Dịch vi thư, bất dĩ Dịch vi kỷ, bất khả dă. Dĩ Dịch vi thiên-điạ chi biến-hoá, bất dĩ Dịch vi kỷ chi biến-hoá, bất khả dă. Thiên-điạ, ngă chi thiên-điạ; biến-hoá, ngă chi biến-hoá, phi tha vật dă). Trong Dương-thị Dịch-truyện ông nói: “Đạo Trời Đất với Đạo của Vật không khác nhau” ( 二。Thiên-điạ chi đạo, kỳ vi vật bất nhị). Ông lại nói: “Vật có lớn nhỏ, Đạo không có lớn nhỏ; đức có ưu-liệt, Đạo không có ưu-liệt. Tâm ta thông, hẳn thấy thấu Trời Đất Người Vật, tất cả đều ở trong tâm-tính ta, mà biến-hoá của Trời Đất Người Vật đều là biến-hoá của tâm-tính ta. Làm ǵ c̣n chỗ cho gốc ngọn, tinh thô, lớn nhỏ. Tuy nói rằng quẻ có danh xưng bố mẹ, sáu con, đạo-lư ấy chưa từng bất nhất. Đại-truyện nói: Trăm họ dùng hằng ngày mà chẳng biết. Điều quân-tử, tiểu-nhân dùng hằng ngày cũng là một vậy. Chỉ có biết hay không biết mà thôi.” ( 小, 小; 劣, 。其 化。尚 間。雖 一。大 : 知。君 也。惟 分。 Vật hữu đại tiểu, đạo vô đại tiểu; đức hữu ưu-liệt, đạo vô ưu-liệt. Kỳ tâm thông giả, đỗng kiến thiên-điạ, nhân-vật tận tại ngô tính lượng chi trung nhi thiên-điạ, nhân-vật chi biến-hoá, giai ngô tính chi biến-hoá. Thượng hà bản mạt tinh thô đại tiểu chi gian. Đại-truyện viết: Bách-tính nhật-dụng nhi bất tri. Quân-tử, tiểu-nhân chi sở nhật-dụng giả diệc nhất dă. Duy hữu tri, bất tri chi phân). Tóm lại, “Đạo không xa người ta, bản tâm tức Đạo” ( 人,本 道。Đạo bất viễn nhân, bản tâm tức Đạo).


 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 131

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com