www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 12

 

TÙY, ĐƯỜNG DỊCH


 

 

 (Tiếp theo Kỳ 128)

 

Nhà Tùy có Vương-Thông (584-616), tự Trọng-yêm , thụy Văn-trung-tử mà ngày nay ta có thể tham-khảo Đạo Nho và Đạo Dịch cuả ông trong “Văn-trung-tử Trung-thuyết ” do môn-đệ góp nhặt. Ông để lại 10 Quyển Tán-Dịch . Trong thiên Vấn Dịch ông khai-triển dịch-thuyết cuả Quan Lăng và cho rằng tam-giáo có nhiều điểm tương-đồng: “ , 一也。 (Đọc Hồng-phạm bàn-luận thẳng thắn, ba tông-giáo ở đây có thể hợp-nhất).

Xin mai-cử một vài suy-tư  trác-tuyệt của Người:

“Trời chủ nguyên-khí; đất chủ nguyên-h́nh; người chủ nguyên-thức, chứ chẳng phải chỉ là đầu tṛn trán vuông mà thôi đâu !”

“Sống để cứu thời; chết để sáng Đạo.” ( 道。Sinh dĩ cứu th́, tử dĩ minh Đạo).

“Dịch là cái động của Thánh-nhân” ( 也。Dịch, thánh-nhân chi động dă.)

“Biết thông-biến, thiên-hạ không có phép dở; nệ một phương-pháp, thiên-hạ không có giáo-hóa hay. Cho nên bảo rằng: Cốt ở người.” ( 法;執 教。故 人。Thông kỳ biến, thiên-hạ vô tệ-pháp; chấp kỳ phư?ng, thiên-hạ vô thiện-giáo. Cố viết: tồn hồ kỳ nhân).

“Ngh́n biến muôn hóa, ta thường giữ Đạo Trung .”( 化,吾 焉。Thiên biến vạn-hoá, ngô thường thủ trung yên).

“Bỏ cái người tranh (lợi), lấy cái người bỏ (nghĩa), há chẳng phải là người quân-tử ru?” ( 爭,取 棄,不 乎!Xả kỳ sở tranh, thủ kỳ sở khí, bất diệc quân-tử hồ!).

“Người dễ vui tất thảm thương nhiều, người hay làm vội tất thích đoạt.” ( 哀,輕 Dị lạc giả tất đa ai, khinh thi giả tất hiếu đoạt).

“Biết ḿnh là anh, thắng ḿnh là hùng.” ( 英,自 雄。Tự tri giả anh, tự thắng giả hùng).

“Yêu danh chuộng lợi là tiểu-nhân vậy thay!” ( 利,小 哉!Ái danh thượng lợi, tiểu-nhân tai!).

“Lấy thế mà giao, thế nghiêng th́ tuyệt; lấy lợi mà giao, lợi hết th́ tan. Cho nên người quân-tử không xử-sự như thế.” ( 者,勢 絕;以 者,利 散。故 也。Dĩ thế giao giả, thế khuynh tắc tuyệt; dĩ lợi giao giả, lợi cùng tắc tán. Cố quân-tử bất dữ dă).

“Xem người giầu cho ǵ? Xem người nghèo lấy ǵ? Xem người đạt thích ǵ? Xem người cùng làm gi? Được đấy”. ( 與。貧 [ 好。窮 為。可 也。Phú, quan kỳ sở dữ. Bần, quan kỳ sở thủ. Đạt, quan kỳ sở hiếu. Cùng, quan kỳ sở vi. Khả dă).

“Lấy nhau v́ của cải là đạo của mọi rợ, nô-lệ vậy!” ( 財,夷 也。Hôn-thú nhi luận tài, di-lỗ chi đạo dă). 

Ông có công cứu-văn Nho-học đương-thời, nên về sau các Tống-nho như Thiệu-tử, Chu-tử, Lục-tử (Tượng-sơn) đều cho học-thuật cuả ông thực-dụng hơn Tuân-tử đời Chiến-quốc, Dương-Hùng đời Hán hay Hàn-Dũ đời Đường.  

Theo sách Tứ-Khố Toàn-Thư Tổng-Mục Đề-Yếu, Nhà Đường (618-907) chỉ c̣n

có ba bộ Dịch là: Chu-Dịch Tập-Giải cuả Lư Đỉnh-Tộ, Chu-Dịch Khẩu Nghiă cuả Sử-Trưng và Chu-Dịch Cử Chính cuả Quách-Kinh. 

Nhà Đường cũng có Lục Huyền-Lăng , hiệu Đức-minh (Chu Dịch Âm-nghiă ), Khổng Dĩnh Đạt (574-648) (Chu Dịch Chính-nghiă ), Hàn Bá , tự Khang Bá (Hệ-từ-truyện; Thuyết-quái-truyện, Tự-quái-truyện, Tạp-quái-truyện), H́nh Thụ (Phụ Lược-lệ cuả Vương Bật), Ngụy-Trưng (Chu Dịch Trị-yếu ), Sử Trưng (Chu Dịch Khẩu-quyết-nghiă ), Thiền-sư Nhất Hạnh (683-727) với Nhất Hạnh Dịch-toản 一行易纂 và Quái-nghị 卦議, Lư Ngao (Dịch-thuyên ), Từ-Vân (Chu-Dịch Tân-nghĩa ), Pḥng Kiều , Hầu Hành Quả , Lục Chí , Hàn Dũ , Vương Khải Xung , Thôi Cảnh , Trịnh-Vi 鄭囗, Lục Hi Thanh , hiệu Quân-dương Độn-tẩu (Lục Hi Thanh Dịch-truyện cuả Hoàng Thích đời Thanh) và Lưu Thuế , tự Phục-ngu .

Ta cũng có thể kể đến Sử-Trưng 史徵 với Chu-Dịch Khẩu-Quyết Nghiă-sớ-chứng 周易口訣義疏證. Sách này gồm 6 Quyển, lấy Dịch-chú cuả Vương-Bật và Chính-nghiă cuả Khổng Dĩnh-Đạt làm bản gốc, rồi phiếm dẫn các Dịch-gia các đời Hán-Ngụy, và lại phụ thêm quần-kinh cùng là các điển-tịch để lư giải ư-chỉ cuả quái-hào 64 quẻ. Khảo danh toả nghiă, đề-lư chứng-văn, lâu lâu lại phát-kiến ra Tân-thuyết để bổ-khuyết sơ-thất cuả hai họ Vương-Khổng, phát-huy vi-ư cuả tiên-nho. Thật là có công lớn với Dịch-học. Duy thiếu mất tám quẻ: Dự, Tùy, Vô-vơng, Đại-tráng, Tấn, Khuê, Kiển, Trung-phu, may có Dịch-gia hiện-đại Từ Cân-Đ́nh bổ-túc cho, và hiệu-đính toàn sách, thật là vẹn toàn. Xin mai-cử dăm ba điều-lệ hay ho của ông:

Hào-từ Sư G lục-tứ: " Sư tá thứ, vô-cữu = Như ra quân rồi mà quay trở về, không lỗi". Tiểu-tượng bảo: "Tá thứ, vô-cữu, vị thất thường dă = quay trở về không lỗi là chưa mất đạo thường vậy". " Sư tá thứ, vô-cữu", lấy âm đắc-vị, mà vô-ứng, vô-ứng tức không thể chinh-phạt vậy, đắc-vị ắt có thể tự-xử; ôi! làm tưóng mà xử, tất nên lượng sức ḿnh, giữ cánh hữu dựa vào triền núi, mặt trước có đầm nước mà thủ, ắt không lỗi. Lại nói: tả là v́ vị-trí cuả phó-tướng, hữu là thượng-tướng chủ-sự, có quyền-hành.

Án: Lục-tứ âm cư âm vị, đắc-vị nơi thượng, nên có thể tự-xử. Mà sơ là âm, nên không ứng nơi dưới, nên không thể hành sư (hành-quân), phải dừng quân lại. Tôn-tử Binh-pháp bảo: "Cánh hữu dựa vào triền núi, mặt trước có đầm nước". Hàn-Tín cũng nói như vậy. Trong Hán-thư, Lăo-tử nói: "Phó-Tướng quân bên tả, thượng-tưóng quân bên hữu". Lục-tứ là hào âm, nên là thiên-tướng-quân. Xin đối-chiếu Đạo-Đức-Kinh Chương XXXI. 

Ngoài ra phải kể đến Quách-Kinh với Chu Dịch Cử Chính. Theo sách Sùng-văn Tổng-mục, Chu Dịch Cử-chính do Đường Tô-châu Tư-hộ Tham-quân Quách-Kinh soạn. Kinh được thủ-tả (bản chép tay) Dịch-Kinh cuả Vương-Bật và Hàn Khang-Bá, so sánh các bản  lưu-hành, thấy có nhiều sai-biệt, nên mới soạn sách này để kiểu-chính.

Trong sách Thư-mục Giải-đề, nơi mục 'Tống-Hàm Dịch Bổ-chú' có ghi: sách do Âu Dương-Tu truyền lại cho Tống-Hàm. Trong Quận-trai Đồ-Thư-Chí, điều 'Trung-hưng Thư-mục', Triều Công-Vũ có ghi là Quách-Kinh có sửa sách cuả hai họ Vương, Hàn, tổng cộng là 135 chỗ, vị chi là 273 chữ.

          Nay xem bài Tự-tự cùng là Dung-trai Tùy Bút cuả Hồng Mại, Dịch-tự Tùng-thư cuả Triệu Nhữ-Môi, th́ thấy là chỉ sai có 103 tiết. 

Sau hết phải kể đến Lư Đỉnh Tộ : ông tham-bác dịch-thuyết cuả khoảng 36 nhà trị-dịch các đời trước kể từ Tử-hạ kể đi, để viết nên cuốn Chu Dịch Tập-giải , rất bổ-ích cho hậu-học. Như hào sơ-lục quẻ Khôn là quan-điểm cuả người bắc-bán-cầu nói chuyện thời-tiết nam-bán-cầu. Ông c̣n cắt nghiă rành rọt các đậu hóc buá như: "Tiến giáp tam nhật, hấu giáp tam nhật " và "Tiến canh tam nhật, hấu canh tam nhật " v.v. Trong Tự-tự ông nói rơ là ḿnh chủ-trương san-tước dă-văn của Phụ-tự (Vương-Bật), bổ-túc dật-tượng của Khang-thành (Trịnh-Huyền). Tài-liệu Dịch-học về tượng-số thời Lưỡng-Hán, Ngụy, Tấn, Nam-bắc-triều phần nhiều được bảo-tồn trong sách này.
 

THƯ TỊCH KHẢO (CHƯƠNG 12)

  

046 Tùy Thư隋書, 85 quyển, Trưởng-tôn Vô Kỵ đẳng 長孫無忌等soạn, Kiền-long Vũ-anh-điện san-bản, Nghệ-văn ấn-thư-quán ảnh-ấn, Đài-bắc. 

062 Cựu Đường Thư 舊唐書, nguyên-danh Đường Thư 唐書, do nhóm Lưu Hú  biên soạn và do Tăng Táo Trang 曾棗莊 phân-sử chủ-biên, in Nhị Thập Tứ Sử Toàn Dịch 二十四史全譯, do Hứa Gia Lộ Chủ-biên, Toàn 6 Sách, Đệ-nhất-bản, Hán-Ngữ Đại-Từ-Điển Xuất-bản-xă, Thượng-hải, tháng 1-2004.

063 Tân Đường Thư 新唐書, Âu-dương Tu 歐陽修, Tống Kỳ 宋祁 đẳng đồng biên-soạn, do Hoàng Vĩnh Niên 黃永年 phân-sử chủ-biên, in Nhị Thập Tứ Sử Toàn Dịch 二十四史全譯, do Hứa Gia Lộ Chủ-biên, Toàn 8 Sách, Đệ-nhất-bản, Hán-Ngữ Đại-Từ-Điển Xuất-bản-xă, Thượng-hải, tháng 1-2004

342 Chu-Dịch Cử-Chính B́nh-Thuật 周易評述, Sơ-bản, Từ Cần-Đ́nh 徐芹庭 trước, Thành-văn Xuất-bản-xă, Đài-bắc, Tháng 2-1977.

419 Chu-Dịch Cử-Chính 周易, Đường Quách-Kinh trước, Thành-văn Xuất-bản-xă ảnh-ấn, Thần-hàn-lâu Tùng-thư Bản, 1911.

420 Chu-Dịch Khẩu-Quyết Nghiă-sớ-chứng 周易口訣義疏證, Sơ-bản, Từ Cần-Đ́nh 徐芹庭 trước, Thành-văn Xuất-bản-xă, Đài-bắc, Tháng 2-1977.

 


 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 130

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com