www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 11

 

NGỤY, TẤN, LỤC-TRIỀU DỊCH

魏,晉,六
 

 

 (Tiếp theo Kỳ 126)

 

Suốt các đời Nguỵ (220-265), Tấn (265- 419), Nam-bắc-triều (420-589), có đến 119 nhà trị-dịch với 149 bộ Dịch-truyện. Nhưng nay chỉ c̣n lại số rất ít, tức là trên thực-tế chỉ c̣n ba quyển: Dịch-Thông-luận cuả Nguyễn-Tịch thuộc nhóm Trúc-lâm Thất-hiền, Chu-Dịch Chú 周 易 注cuả Vương-Bật (226-249) Đời Tam-Quốc, và Hệ-từ Chú 繫辭cuả Hàn Khang-Bá 韓康伯 , Đời Lương.  

Chẳng hạn, sang đời Tam-quốc (Ngụy, Thục, Ngô), cũng có các nhà trị Dịch như Tôn-Viêm , tự Thúc-nhiên , học tṛ cuả Trịnh-Huyền, với Chu-Dịch Xuân-Thu-lệ , Quản-Lộ , tự Công-minh , với Chu Dịch Thông-linh-quyết , Vương-Túc (Chu Dịch Chú ), Đổng Ngộ (Chu Dịch Chương-cú ), Hà-Án (Chu Dịch Tư-kư , Chu Dịch Giảng-sớ , và Chu Dịch Giải ), Nguyễn-Tịch kể trên, với Dịch Thông-luận , Ngu-Phiên với hàng loạt Dịch-thư (tỷ như Chu Dịch Ngu-thị Tiêu-tức 周易虞氏消息, Ngu-thị Dịch Tiêu-tức Đồ-thuyết 虞氏易消息圖說, Ngu-thị Dịch-sự 虞氏易事, Ngu-thị Dịch-hậu 虞氏易候, Ngu-thị Dịch-ngôn 虞氏易言, Ngu-thị Dịch-Lễ 虞氏易禮, Chu-Dịch Ngu-thị Nghiă 周易虞氏義, Chu-Dịch Ngu-thị Lược-lệ 周易虞氏略例, Chu-Dịch Ngu-thị Học 周易虞氏學), Lục-Tích , tự Công-kỷ , chú Lục-Tốn, với Lục-thị Chu-Dịch-thuật , Diêu-Tín , cháu gọi Lục-Tốn bằng cậu, với Diêu-tín Dịch-chú , Phạm Tịch tức Phạm Trường-Sinh , tự Vô-Vi (Thục Tài Dịch-chú ), Trạch-Huyền tức Trạch Nguyên (Dịch Chú ) và Tuân Cửu-gia với Chu Dịch Tuân-thị Cửu-gia Nghiă 周易荀氏九家義. Tất cả thường thiên về tượng-số. 

Tuân Cửu-gia Tập-giải (bài tựa nói: Tuân Cửu Gia gồm Tuân Sảng, Kinh-Pḥng, Mă Dung, Trịnh Huyền, Tống-Trung, Ngu-Phiên, Lục-Tích, Diêu-Tín, Trạch Tử Huyền, họ Lục và họ Chu ), được chép lại trong các sách đời Thanh sau đây: Cửu Gia Dịch-giải của Vương-Mô , Cửu Gia Dịch Tập-chú cùng là Hán Học-đường Tùng-thư của Hoàng-Thích và Chu-Dịch Tuân-thị Cửu-Gia Nghĩa (267), cùng là Dịch-nghiă Biệt-lục cuả Trương Huệ-Ngôn , Hán-Ngụy nhị-thập-nhất Gia Dịch-chú cuả Tôn-Đường 孫堂, Ngọc-hàm Sơn-pḥng Tập-dật-thư 輯 佚 書 cuả Mă Quốc-Hàn 馬 國 韓. 

Tám Nhà tri Dịch độc-đáo thời Ngụy-Tấn (in đậm) hẳn là: Lục-Tích陸 績, Diêu-Tín 姚信, Thục Tài 蜀 才, Trạch Nguyên , Vương Túc 王 肅, Đổng Ngộ , Hà Án   và Hướng Tú 向秀.

1)    Lục-Tích陸 績: (355, 356)

Lục-Tích người đời Hán, bác học, thiện-chính, tài đức vẹn toàn, đời Hán Hiến Đế, thiên-hạ tranh giành, riêng ông giữ được tiết-tháo, trung-hiếu song toàn, quán nhật-nguyệt thành bất-hủ. Công-lực trị Dịch lại thâm-hậu. Tuy gốc từ Kinh-Pḥng, dung-hoà cả sở-trường cuả Mạnh-Hỉ, Tử-hạ, Mă-Dung, Trịnh-Huyền, Tuân-Sảng, Ngu-Phiên, sáng-hoạch độc đáo cuả ông là xiển-minh cả tượng-số lẫn nghiă-lư, phát-huy tôn-chỉ "nội thánh ngoại-vương", làm sáng tỏ thiên-tượng mà quy về nhân-sự. Thâu tóm Kinh-chỉ vào Dịch-chú, trưng dẫn sử-sự nơi dĩ văng. Minh-họa bằng tỷ-dụ để mở rộng Kinh-chỉ, dùng huấn-hỗ để giải-thích kinh-nghiă. Hiểu rơ phép chiêm-phệ, am-tường công-dụng cuả Đại-Dịch. Biết trước ngày chết mà giữ vững trung-đạo. Biết lúc thiên-hạ thống-nhất, nên chẳng xu-thời nịnh thế. Công thâm trị Dịch đến như thế là cùng. Chư-nho đời Minh, đời Thanh như Diêu Sĩ Lân , Trương Huệ-Ngôn , Mă Quốc-Hàn 馬 國 韓, Tôn-Đường 孫堂, Hoàng-Thích tuy đều có tập-bản, nhưng sai sót c̣n nhiều. Duy chỉ có sách Chu-Dịch Lục-thị Học 周易 陸氏學 (356) cuả cận-nhân Từ Cần-Đ́nh 徐芹庭 là khả-quan và tươm tất hơn cả.  

2)    Diêu-Tín姚信: (355 , 1-45)

Diêu-Tín là người nước Ngô thời Tam-quốc, tự Đức-hựu & Nguyên-trực, học tṛ cuả Phạm-B́nh (tự Tử-an, người Ngô-quận, Tiền-đường, hay nghiên-giám phần-tố), là cháu gọi Thừa-tướng Lục-Tốn bằng cậu. Lúc Tôn-Quyền xưng đế, từng làm quan-thuộc cuả Thái-tử Hoà. Sau Hoà bị truất-phế và lưu đầy ra Trường-sa, Tín cũng bị lưu-đồ. Đến khi con cuả Hoà tức-vị, ông được bổ-nhiệm Thái-thường-khanh, nhận mệnh rước thần-minh, nên rất được trọng-vọng.

Án: Trong Kinh-điển Thích-văn, Lục Đức-Minh viết: "Diêu-Tín, tự Đức-hựu".

Trong 'Thất-lục', Nguyễn Hiếu-Tự viết: "Tự Nguyên-trực, người Ngô-hưng, làm Thái-thường-khanh nưóc Ngô". Tam-quốc-chí, Truyện Lục-Tốn nói: "Kíp cầu chỉ-đô, muốn khẩu-luận mà phân đích-thứ, ngơ hầu kiểu-chính đắc-thất, không được nghe theo, nên bị lưu-đồ cùng với ngoại-thích Cố-Đàm, Cố-Thừa". Truyện Tốn-Hoà chép: "Hoà lên ngôi truy-thụy Văn Hoàng-đế cho thân-phụ, cải-táng minh-lăng, đặt viên-ấp 200 nhà, cho người cung-thủ. Tháng giêng năm sau, lại đổi chín huyện Ngô-quận Đan-dương thành huyện Ngô-hưng, trí huyện-lỵ tại Ô-tŕnh. Đặt Thái-thú, bốn muà phụng-tự, có ty tấu-ngôn, tuyên-lập miếu kinh-ấp, Bửu-đỉnh năm thứ hai, tháng bẩy, sai đại-tượng Tiết-Hủ, doanh-lập tẩm-đường, đặt tên là Thanh-miếu, khiển-thủ bọn Thừa-tướng Mạnh-Nhân, Thái-thường Diêu-Tín huẩn-bị quan-liêu, trung-quân bộ-kỵ 2000 người, lấy linh-dư pháp-giá, đông-nghinh thần nơi minh-lăng, hạo dẫn kiến-nhân, thân bái-tống nơi sân".

Nam-sử (064), Truyện Diêu-Sát chép: "Sát nhượng-tuyển bộ-thư chép rằng: tổ chín đời cuả thần là Tín, danh cao văng-đại". Diêu Chấn Tông nói rằng: "Truyện Lục-Tốn rằng: cháu ngoại cuả Tốn là Cố-Đàm, Cố-Thừa, Diêu-Tín đều theo Thái-tử Uổng lưu-thiệp, thời Tôn-Quyền từng làm quan-thuộc cuả Thái-tử Hoà, Tôn-Hạo tức-vị v.v.".

Đương thời, hai đại-sư Dịch-học là Ngu-Phiên và Lục-Tích đều lớn tuổi hơn Tín, mà tài học yêm-quán, nên Tín  thường nghiên-cứu Dịch-chú cuả hai họ Ngu, Lục, và chiụ ảnh-hưởng nặng nề cuả hai vị này.

Dịch-chú cuả Tín hoặc nói là 10 Q., hoặc nói là 12 hay 13 Q. Nay theo Tùy-Đường Tam-chí định lại là 10 Q. Diêu-Tín cũng là tác-giả cuả Sĩ-vỹ 10 Q., Diêu-thị Tân-thư 2 Q., Tập 2 Q., Hân–thiên Luận Giới-tử.

Văn-chương cuả Tín tuấn-mỹ thư-sướng, không dưới tay cuả Kiến-an thất-tử hay Trúc-lâm thất-hiền, lại đôn-sùng nho-đạo, đốc-hành nhân-nghiă, không ai hơn được. Dịch-chú cuả ông, Tống-thư Nghệ-văn-chí không trước-lục, hoặc giả thất-truyền giao-thời Tống-Nguyên. Đến đời Thanh, Mă Quốc-Hàn 馬 國 韓 tập Chu-Dịch  Diêu-thị Chú, 1 Q. Trong Ngọc-hàm Sơn-pḥng Tập-dật-thư 輯 佚 書có Lang-hoàn–quán Bản, Hoàng-hoa-quán Bản, Trùng-ấn Bản, Sở-nam Thư-cục Bản, hiện nay Đài-loan đều có ảnh-ấn, mà Trương Huệ-Ngôn có chép Chú này vào Dịch-nghiă Biệt-lục . Tôn-Đường 孫堂phục-tập Dịch-chú cuả Tín. Cuối cùng, Hoàng-Thích tập Diêu-Tín Dịch-chú 1Q., tối-hoàn-hảo. 

3)    Thục-Tài 蜀才: (355, 46-95)

Sách Thất-lục chép: "Không biết Thục-Tài là ai".  Sách Thất-chí bảo: "Là hậu-nhân cuả Vương-Bật". Theo Tam-quốc-chí, Vương-Bật không có con, nên không thể là hậu-nhân cuả Vương-Bật được. Vả lại, Dịch-chú  cuả họ Thục khác với Dịch-chú  cuả họ Vương. Thích-văn trước-lục sách ấy, 10 Q., ắt Lục Đức-Minh có thấy sách này v́ Thích-văn Tự-lục ghi: "Thục-Tài, họ Phạm, tên Trường-Sinh, một tên khác là Hiền, tự hiệu Thục-Tài". Thục-điển dẫn thuyết cuả Nhan Chi Thôi rằng: "Họ Phạm, tên Trường-Sinh, tự hiệu Thục-Tài" (Xin xem Tấn-thư Giác-chú cũng như Chu-Dịch Tập-giải Toản-sớ cuả Lư Đạo-B́nh). Hoa-duơng Quốc-chí IX có chép: "Phạm-Hiền, tên Trường-Sinh, một tên khác là Đ́nh-Cửu, lại tên là Củu-Trùng, hoặc Chi, tự Nguyên,  ngưồi đất Bồi-lăng, Đan-hưng". Sách cuả Lư Hạo Hán chép: "Trường-Sinh, tự xưng Thục-Tài". Do đó Dịch-chú cuả Thục-Tài chính là Dịch-chú cuả Phạm Trường-Sinh. Thích-văn, trước tiên chép tên cuả Thục-Tài, sau mới đến tên cuả Ngu-Phiên, Lục-Tục, Diêu-Tín, Đổng-Ngộ, nên biết rằng Thục-Tài ống ở giao-thời Tam-quốc, Luỡng-Tấn. Tùy-thư Kinh-tịch-chí nói: "Chu-Dịch, 10 Q., Thục-Tài chú", liệt-kê sau Tuân-Sảng Cửu-gia Chú, 10 Q.. 

4)    Trạch-Nguyên: (355, 96-113)

Trạch-Nguyên không biết là người đất nào. Có chỗ gọi là Trạch-tử. Tam-quốc-chí, Tấn-thư, Nam-sử, Bắc-sử cho chí sử-chí Tùy, Đường không thấy chép tiểu-truyện cuả ông. Kinh-điển Thích-văn cuả Lục Đức-Minh, trong đoạn chép Tuân-Sảng Cửu-gia Tập-chú, 10 Q., có ghi: "Không biết do ai tập-giải, xưng Tuân-Sảng là duyên-cớ chính". Kể theo thứ-tự : Tuân-Sảng, Kinh-Pḥng, Mă-Dung, Tống-Ai, Ngu-Phiên, Lục-Tục, Diêu-Tín, Trạch Tử-Huyền.Tử-Huyền không biết là ai, có làm ra Dịch-nghiă. Tuân Cửu-gia là do người Đời Tấn tập Dịch-học cuả nhóm Tuân-Sảng, mà Trạch-Nguyên ở cuối liệt-kê, ắt Trạch-Nguyên đương nhiên là người Đời Tấn. Khảo danh-tính cuả Cửu-gia, Trạch-Nguyên, danh-tính ở sau Diêu-Tín, mà Diêu-Tín là người nước Ngô, học-tṛ cuả Phạm-B́nh, (mất dưới triều Vua Thái-khang), ắt Trạch-Nguyên là người Đời Tấn. Trạch-Nguyên, hoặc xưng là Tử-Huyền, hoặc xưng Tử-Nguyên. Nguyên, Huyền, âm từa tựa, v́ tỵ-húy Đường Minh-Hoàng. Trong Chu-Dịch Tập-giải cuả Lư Đỉnh-Tộ xưng là Trạch-Nguyên. Lục-thị Thích-văn Tự-lục, ắt xưng là Trạch Tử-Huyền. Đến khi Thích-văn sách-dẫn, th́ giản-xưng Trạch-thị cụt lủn. Lâu lâu cũng xưng là Trạch Tử-Huyền.  

5)    Vương-Túc王肅: (355, 114-169)

Vương-Túc Dịch-chú, cả Thích-văn lẫn Tuỳ, Đường Tam-chí đều bảo là tác-phẩm cuả Vương-Túc. Thành thử ra, xét truyện cuả Vương-Túc, nói ông là người soạn-định lại Dịch-truyện cuả Vương-Lăng, thân-phụ ông. Cả hai người được kể là học-quan. 

6)   Đổng-Ngộ: (355, 254-277)

Chu-Dịch Chương-cú cuả Đổng-Ngộ thất-truyền từ Đời Tống. Dật-văn c̣n thấy ba điều trong Chu-Dịch Chính-nghiă. Dẫn-văn trong Thích-văn tuy có hơn 20 điều, nhưng xem chừng thể-lệ, th́ đa-số là dị-văn, dị-âm, dị-nghiă  

       7)  Hà-Án何晏: (355, 278-302)

Chu-Dịch-giải cuả Hà-Án không thấy sử-chí trước-lục, mà trong Chu-Dịch Tập-giải, Lư Đỉnh-Tộ cá sách-dẫn hai điều. Trong Chu-Dịch Chính-nghiă, Khổng Dĩnh-Đạt cũng dẫn một điều. Đều là dùng nghiă-lư, không đề-cập tượng-số. Kỳ dư không nói thêm ǵ. Thời-nhân Quản-Lộ thường phê-bỉnh là 'tốt đẹp mà giả dối', Bùi-Vi cũng cảnh-giác 'lời hay hơn lẽ'. 

      8)   Hướng-Tú向秀: (355, 303-328) 

Chu-Dịch Nghiă cuả Hướng-Tú, sử-chí không chép. Trong bài Tựa sách Chu-Dịch Tập-giải cuả ḿnh, Trương-Phan nói rằng: "Giống hệt bản cuả Hướng-Tú", lại liệt-kê sách sưu tập đươc trong đó Dịch-nghiă của Tú đứng hàng đầu. Kinh-điển Thích-văn (Lục Đức-Minh), Chu-Dịch Chính-nghiă (Khổng Dĩnh-Đạt), Chu-Dịch Tập-giải (Lư Đỉnh-Tộ), Sử-kư Tập-giải (Bùi-Nhân), Sử-kư Sách-ẩn (Tư-Mă Trinh) cũng thường có dẫn. Dật-văn có 22 điều, khác chư-gia, đa-số theo thuyết cuả Trịnh-Huyền. Đến khi thích nghiă, ắt y quái-tượng cuả bản-quái mà lư-luận. Có chỗ giống, có chỗ khác với thuyết cuản Trịnh-Huyền, Ngu-Phiên, Vương-Túc, Vương-Bật. 

Duy chỉ có Vương-Bật , tự Phụ-tự (một môn-sinh của Lưu Biểu, một cao-đồ của Phí Trực), người Sơn-dương Nước Ngụy, thời Tam-quốc, tác-giả của Chu Dịch Chú và Dịch Lược-lệ , là tảo-tượng và chỉ bàn nghiă-lư. Ông cho rằng Hán-Dịch càng ngày càng phiền-toả, không những dựa vào tượng mà giải-từ, mà câu nào cũng ráng phụ-hội Dịch-tượng, đến nỗi bát-quái  có đến 330 loại tượng, phiền-toả quá đỗi. Do ông đề-xuất quan-điểm mới: 'Được ư quên tượng, được tượng quên lời'. Ông nói: Ôi! Tượng xuất từ ư, lời để minh-tượng. Tận ư không ǵ bằng tượng, tân tượng kc ư mà quên tượnghông ǵ bằng lời. Lời sinh nơi tượng, nên có thể  t́m lời để xem tượng; tượng sinh nơi ư, nên có thể t́m tượng để xem ư. Ư lấy tượng để tận-dụng,  tượng lấy lời để làm cho rơ ràng. Cho nên lời nói sở dĩ minh-tượng, được ư mà quên lời; tượng sở dĩ để tồn-ư, được ư mà quên tượng (Chu-Dịch Lược-lệ, Thiên Minh-tượng).

Án: 'Quên lời' cuả Vương-Bật không có nghiă là không cần tượng, mà là ở chỗ khi đă hiểu ư rồi, bất tất câu-nệ vào tượng. Có được như vậy, mới có thể quên tượng cầu ư mà thấy được nghiă, tức chăm-chăm nắm vững ư, chăm-chăm suy nghĩ nội-dung và nghiă các quẻ. Tỷ như, nghiă quẻ Kiền ở nơi 'kiện', nhưng bất tất câu-nệ vào tượng đó, nghiă quẻ Khôn ở nơi 'thuận', nhưng bất tất câu-nệ vào tượng đó v.v. 

Chu-Dịch Chú cuả Vương-Bật tương-phản với tượng-số phiền toả cuả Hán-Dịch (điều mà ta gọi là tảo-tượng tức càn quét tượng), ông chủ-trương thuyết 'quên trợng cầu ư, để giản-khiết chú-thích văn-tự cuả 64 biệt-quái, đặt nền tảng cho lư-thuyết tôn-định nghiă-lư cuả Tống-Dịch, nên có thể nói rằng Dịch cuả Vương-Bật là khai-sơn-tổ cuả Tống-Dịch. 

Vương-Bật là người đầu đem tư-tưởng Lăo Trang vào Dịch. Ông mất năm mới 24 tuổi v́ bệnh dịch hạch, nên sách của ông thiếu mất ba thiên của Thập Dực: Hệ-từ Thượng-Truyện, Hệ-từ Hạ-Truyện và Thuyết-Quái-Truyện, nên đời sau thường thêm vào sau Chu Dịch Chú của ông hai sách của Hàn Khang Bá đời Lương: Hệ-từ Truyện và Thuyết-quái-truyện, Tự-quái-truyện và Tạp-quái-truyên. Khi chú-thích Đạo-đức kinh Ông đă giải nghiă câu " Thiên điạ bất-nhân dĩ vạn-vật vi sô cẩu" (Chương V), là: Trời đất không thương yêu v́ coi muôn loài như chó thui rơm! (sic)  

Triệu Tử-Chi đời Tống có câu thơ: “Phụ-tự dịch hành vô Hán-học 無漢 ” (Vương Bật luận Dịch không dùng Hán-học). Tuy nhiên, nếu ta b́nh-tâm đọc lại Chu-Dịch-chú của Vương-Bật  và Chu-Dịch Chính-nghĩa của Khổng-Dĩnh-Đạt , ta sẽ thấy rằng quả đáng tội họ Vương cũng đă có lần nói đến tượng-số, chứ không được hoài hoài như các Hán-nho khác. Như trong Thoán-từ hai quẻ Phục, Lâm, Vương-Bật có dùng thuyết “Quái-khí Lục Nhật Thất-phân”. Ông chú chỗ đậu “Thất nhật lai phục” cuả lời thoán quẻ Phục rằng”: Trời phản-phục, bất quá 7 ngày,  quẻ Phục cũng không xa lắm”. Tương-tự, quẻ Lâm ông chú: “Tháng 8 dương tiêu mà âm trưởng, đạo tiểu-nhân trưởng mà đạo quân-tử tiêu vậy”. Trong “Chính-nghiă”, Khổng-Dĩnh-Đạt dùng “Dịch-vỹ Kê-lăm-đồ để chú-thích hai Thoán-từ này. 

Đời Tây Tấn (265-420) có những nhà trị-dịch như Hướng-Tú (Chu Dịch Nghiă ), Trâu Trạm (Chu Dịch Thống-lược ), Hoàng Phủ Bật (Dịch-giải ), Dương Nghệ  (Chu Dịch Quái-tự-luận ), Trương Quỹ (Chu Dịch Nghiă ), Trương Phan (Chu Dịch Tập-giải ), Can Bửu (Chu Dịch Chú , Chu Dịch Hào Nghiă ),  Hoàng Dĩnh (Chu Dịch Chú ), Tiết Trinh (Quy-tàng chú, Phụ Liên-sơn ), Tôn Thịnh (Chu Dịch Diệu Ư Kiến-h́nh Luận ) và Hoàn Huyền (Chu Dịch Hệ-từ Chú ).  

 Đời Đông-Tấn (317-420) có Vương Dực (Chu Dịch Chú ).

Đời Nam-Bắc-triều (420-589) cũng có nhiều nhà trị-dịch. Ta có thể mường tượng thời kỳ Bắc Sử này và thời-kỳ phân băng Ngũ Đại bằng câu song-thất lục-bát:

                               NAM: Lưu Tống, Tề, Lương, Trần tụy,

                               BẮC, Đông, Tây, Tam Ngụy, Tề, Chu.

                                      Hậu Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu,

                            Thành ra Ngũ Đại (907-60) ngh́n thu bất b́nh.

NAM: Lưu Tống (420-79) chỉ có mỗi Tuân Ngạn (Chu Dịch Hệ-từ Chú ) mà thôi. Nam Tề (479-502) có: Cố Hoan (Chu Dịch Hệ-từ Chú ), Minh Tăng Thiệu (Chu Dịch Hệ-từ Chú ), Thẩm Lân Sĩ (Dịch-kinh Yếu-lược và Chu Dịch Lưỡng-Hệ ) và Lưu Hiến (Chu Dịch Kiền Khôn Nghiă-sớ , Chu Dịch Hệ-từ Nghiă-sớ ). Lương (502-57) có: Tiêu Diễn (Chu Dịch Đại-nghiă ), Phục Mạn Dung (Chu Dịch Tập-giải ) và Chử Trọng Đô (Chu Dịch Giảng-sớ ). Trần (557-89) có: Chu Hoằng Chính (Chu Dịch Giảng-sớ ), Trương Cơ (Chu Dịch Giảng-sớ ).  

BẮC Ngụy (386-535) có: Lưu Bỉnh (Chu Dịch Chú ), Diêu Quy (Chu Dịch Chú ), Thôi Cận (Chu Dịch Chú ), Phó-thị (Chu Dịch Chú ), Lư-thị tức Lư Cảnh Dụ (Chu Dịch Chú ). Chỉ tiếc một điều là Đào Hoằng Cảnh , tự Thông-minh , hiệu Hoa-dương Chân-nhân , “Sơn trung Tể-tướng ” của thời đó không để lại cho hậu-thế một quyển sách nào về Dịch.   

Sau hết, Đời Bắc Chu (557-581) chỉ có Vệ Nguyên Tung là nổi tiếng nhất. Ông viết ra Nguyên Bao Kinh (416). Đời Đường, sách được Tô Nguyên Minh viết truyện và Lư Giang chú cùng viết tựa. Sang Đời Bắc Tống (960-1126), Trương Hành Thành có viết ra sách "Nguyên Bao Số Tổng Nghĩa " (417) v́ nhận thấy rằng hai họ Tô, Lư chỉ nói đến lư mà quên số. Ngoài ra độc giả có thể tham-khảo thêm sách Dịch Nguyên Bao cuả Vương-Mô và sách Vệ Nguyên-Tung Dịch Nguyên Bao cuả Hoàng-Thích. 

Đời Tam Đại, Hạ th́ có Liên-sơn, Thương/Ân có Quy-tàng, Chu lại có Chu Dịch. Đến đời Đường mới có Nguyên Bao Kinh. Bao nghĩa là tàng. Thái-huyền  chuẩn Dịch, tiếp nối Liên-sơn nên ngày khởi từ giờ Dần, Nguyên Bao Kinh lấy quẻ Khôn làm chuẩn nên tiếp nối Quy-tàng, nhờ đó mới thấy rơ Tam Dịch.

Sách gồm 10 chương : Thái Âm tức quẻ Khôn đơn /, Thái Dương tức quẻ Kiền đơn !, Thiếu Âm tức quẻ Đoài đơn #, Thiếu Dương tức quẻ Cấn đơn -, Trọng Âm tức quẻ Ly đơn %, Trọng Dương tức quẻ Khảm đơn +, Mạnh Âm tức quẻ Tốn đơn ), Mạnh Dương tức quẻ Chấn đơn ', Vận Thi và Thuyết Nguyên. Thành thử ra 64 biệt-quái được phân thành 8 cung tương-tự như bát cung của Kinh Pḥng với Nhất-biến, Nhị-biến, Tam-biến, Tứ-biến, Ngũ-biến, Du-hồn và Quy-hồn. 

Nhưng trội nhất thời Nam-Bắc-triều hẳn là Quan-Lăng , tự Tử-minh , mà ngày nay ta có thể nghiền ngẫm phần nào Dịch-thuyết cuả ông trong Quan-thị Dịch-truyện , do Thiên-thủy Triệu Nuy chú và Nguyễn-Dật thuyên-thứ và viết nguyên-tự. Sách gồm 11 chương: Bốc bách-niên, Thống ngôn Dịch-nghiă, Đại-diễn nghiă, Kiền Khôn chi đệ nghiă, Doanh-hư nghiă, Hạp-tịch nghiă, Lư-tính nghiă, Thời-biến nghiă, Động-tĩnh nghiă, Thần nghiă và Tạp nghiă (Ba chương in đậm có tường-thuật bên dưới). Để cắt nghiă Tự-quái, ông có đặt ra phép Lục-biến trong đó 64 biệt-quái cuả bản kinh được chia thành 13 đoạn: quẻ cuối mỗi đoạn sẽ là quẻ đầu cho đoạn kế-tiếp (3-8-13-18-23-28-33-38-43-48-53-58-63). Quẻ Vị-tế (#64) sẽ nối về 2 quẻ Kiền Khôn (1, 2) trong tư-thế cổ lọ Klein, một lưỡng-đa-tướng-tập khác cuả Vị-tướng-học (H́nh 19). Vô h́nh trung, tự-quái tương-sinh đẳng-thặng 5, c̣n tạp-quái bàng-hành bất-lưu (Xin xem đoạn Tạp Nghiă bên dưới). Tương-sinh là ban ngày, là dương; bất-lưu là ban đêm, là âm.

 

H́nh 19 Lọ Klein 

Sau đây xin trích dịch ba chương chính-yếu để chúng ta cùng thưởng-lăm:

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 128

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com