www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 10

 

THÁI HUYỀN KINH

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 123)

 

HẬU TỰ

(338, Tập I, tr. 492-519)

Triều Thuyết Chi kiếm được tại Tung-sơn cuốn Ôn-Công Thái-huyền Tập-giải 溫公太玄集解cuả Tư-mă Quang , đọc xong mới nhận thấy rằng Dương Tử-vân tức Dương-Hùng, làm ra Thái-huyền-kinh v́ Dịch cuả Văn-Vương, dựa vào hai Lịch Cao-Tân (tức Đế Khốc) và Lịch Thái-sơ (xin  xem Bài Kỳ 13, Chương 03, nút 9). Đẩu phân cường nhược cuả hai lịch này không kém lịch thời đó mấy, nhưng không đủ để chúng ta túc-nghị. Ôn-Công (tức Tư-mă Quang), dựa vào Lịch Thái-sơ mà làm ra Huyền-Lịch. Thửa dụng-ư cần-cù thay, nhưng khó hiểu.  Sau đó, ta dược xem Huyền-đồ cuả Thiệu Khang-tiết Tiên-sinh (tức Thiệu-tử) phân-bố Tinh, Thần, biện khí-hậu, chia ngày đêm, mà Dịch-Huyền tương-tham bên trong, thật là đầy đủ. Ngày rộng tháng dài, đắn đo măi chưa viết ra được ǵ. Nay lấy Lịch với Đồ hợp lại thành Phổ. Lúc đó, mới ngộ ra rằng Dương Tử-vân (tức Dương-Hùng), lấy thủ chuẩn quái không phải xuất từ tư-ư. Bởi chưng, có tinh-hậu làm cơ-quát, phải y như thế. Xưa nay chư nho sai lầm ắt nhiều: như Tiện chuẩn Tiểu-quá mà lại lấy chuẩn Lâm, ắt sai rồi. Lúc đó, nước đầm bụng cứng đă kết-thúc nơi Lâm lục-tứ, mà Tiểu-quá sơ-lục dụng-sự vậy. Hoặc giả lấy Tiện chuẩn Giải, lại càng sai vạy. Di chuẩn Dự mà lấy chuẩn Đại-tráng ắt sai: lúc đó tĩnh-điện bắt đầu chấm dứt nơi Đại-tráng thượng-lục, mà Dự sơ-lục dụng-sự vậy. Ứng chuẩn Hàm mà không chuẩn Ly, Trầm chuẩn Quan mà không chuần Đoài. Duy Chấn, Ly, Đoài, Khảm gọi là tứ-chính-quái, Dịch vốn dĩ không dùng, ắt Huyền không biết chuẩn vào đâu. Vả chăng, Huyền không chuẩn Khảm, Chấn, mà độc chuẩn Ly, Đoài, là v́ lư-do ǵ? Vĩnh chuần Đồng-nhân mà không chuẩn Hằng. Đi trước gió mát đến. Thường đă chuẩn Hằng. Tiếp sau lúc Bạch-lộ rơi xuống. Độ bèn chuẩn Tiết. Lúc bấy giờ đang khi  ve sầu lạnh kêu, ắt chuẩn Đồng-nhân, há khá đảo lộn trước sau sao? Bèn phục chuẩn Hằng đằng sau sao? Nghi chuẩn Bí mà không chuẩn Tốn, bởi chưng chim én lại bay về, mà Hấp chuẩn Tốn, huyền-điểu bay về mà Tụ chuẩn Tụy. Sấm bèn thâu thanh, mà Sức chuẩn Bí vậy thôi. Kiến đang chập-chùng lấp lỗ hang lại, ắt khá đảo lộn trước sau sao? Bèn tái chuẩn Tốn sao? Hoặc lấy Nghi chuẩn Chấn lại càng sai vạy. Điều đó khó ḷng tranh-biện với chư gia, mà án phổ này để quan-sát. Ắt điều đó tự thuyết-phục. Đó chính là lư-do thúc đẩy ta viết ra Phổ này. Túy chuẩn Kiền mà ở trong đia, ắt không đáng nơi Kiền. Trầm chuẩn Quan, mà ở trong nhân, ắt không đáng nơi Quan. Thủ Thủ tái chuẩn Bĩ, mà không đáng nơi Bĩ, ắt chuẩn Khôn, mà tinh cùng, hậu tận, ắt không đáng nơi Khôn. Tương chuẩn Vị-tế mà tích mộc đă cáo-chung, tinh-kỷ chưa thấy, ắt hoả chưa giáng xuống được để cứu thủy. Thủy chưa thăng được để cứu hoả. Điều đó là để chứng tỏ Huyền được viết ra cốt để hiểu rơ cơ âm dương tiến thoái, doanh hư cuả Dịch. Duy Khôn không đáng nơi quẻ, ắt không đáng nơi hào để bảo rằng dùng nơi 80 mà 1 ắt hư vậy. Hư 1 tức hư 5 vậy. Trong Dịch thiên-điạ-số là 55, với số đại-diễn 49 = 72, cũng là số cuả 'thất nhật lai phục', sở dĩ hư mà không dùng vậy. Khôn đă ẩn náu. Âm hư vô-dụng mà vận-hành không bến bờ. Dương ắt thủy chung biến-hoá không ngơi nghỉ, nên Cương chuẩn Kiền mà kết-thúc nơi đông-chí. Túy lại tái chuẩn Kiền mà bắt đầu ngày Hạ-chí, không giống Tuần chuẩn Khôn. Kiền, Khôn đóng mở cửa ngơ cuả Dịch, chứng tỏ Di, Trung-phu là một khí. Huyền ắt bắt đầu bằng thủ Trung, kết-thúc bằng thủ Dưỡng. Hanh-thông mà khí-hậu đấy. Ắt thủ Dưỡng lùi lại một ngày, thủ Trung tiến lên một ngày. Tuế công cuả Dịch  bèn dựng nên. Thủ Trung đi trước thủ Chu để làm sáng tỏ sinh-phục cuả quẻ Trung-phu. Thủ Nghinh đi trước thủ Chu để làm sáng tỏ quẻ Hàm sinh ra quẻ Cấu. Nguyệt-kỷ cuả Dịch bèn chính đính. 384 hào cuả Dịch để trực-nhật, mà ban đêm che giấu Dụng đi. Huyền dùng 729 tán, ắt mỗi bên phân ngày đêm mà dụng sự. Nhật-pháp cuả Dịch bèn vẹn toàn. Rằng Trung, rằng Canh, rằng Giảm. Cái đó gọi là Tam-Huyền mà Tam-Dịch lay động nhau mà chẳng vu-vơ. Đại-loại như vậy. Nếu Huyền khác Dịch, th́ Dịch lại càng sâu sắc, công nghiên-cơ lại càng lớn lao. Như Dưỡng là dương, mà Trung chẳng là âm, Sơ là Kim mà Tiện chẳng là thổ, ắt lại như Huyền tự dối ḿnh, mà vi-diệu cuả biến-hoá c̣n tại đó. Học-giả khảo xét phổ để tham-quan, ắt mọi sự đều xong xuôi. Đẩu-phân, đồ-lịch dùng, tự khắc có mạnh yếu, không thể gộp làm một. Xưa nay, các thuyết dị-đồng cuả chư gia đă biết rơ rồi, học-giả có tự khảo, ta không thể làm hộ. Như vậy, dụng-ư chuyên mà tư-thiết tốt đẹp để đợi chờ người biết Dịch trong tương-lai. Ô hô! Nếu không hiểu Dịch, th́ không biết dùng Huyền để làm ǵ! Mà không thông Huyền, ắt lại mưu toan ư, khá được sao? Học-giả đời nay, biết chuộng lời cuả Dịch, mà không biết lời ấy từ đâu lại, có yên bụng được chăng? Hoặc nói: Âu-dương Công (Âu-dương Tu), không đọc Huyền, c̣n đọc Dịch th́ sao? Ta không phải là Âu-dương Công, nên không biết trả lời ra làm sao.

Tân-Tài cẩn án: cảo-bản cuả Tạ-sơn Học-án, tuyên-bố là Dịch Huyền Tinh-Kỷ Phổ đă toàn-lục, mà chưa trước-lục. Lúc sơ-hiệu chưa được phổ ấy đành theo Kinh-nghiă-khảo cuả họ Chu mà chép Hậu-Tự. Kịp khi ta ba lần vào Đô-môn, mới thấy được sách ấy nơi bộ-gia cuả Từ-Tinh Bá-nghi, nên mới thêm vào lần sơ-khắc. Nay nhân tái-bản mới đăng vào đây.

 

PHỤ-LỤC

(338, Tập I, tr. 519-520)

Nói về Cổ-Dịch, bảo là Cổ-Kinh  khởi biến từ Phí-Trực mà chung cuộc loạn nơi Vương-Bật. Cho nên, dùng tác-phẩm cuả Điền-Hà làm chính-truyện.

Ngoại-truyện cuả Thái-cực-truyện, nhân bàn phép tắc cuả Thiệu Khang-tiết, nên viết ra Thương-Cù truyền-bản. Nay v́ binh-hỏa đă đốt cháy sạch hết rồi. Về già, tại Hải-lăng, mới soạn ra sách này.

Dịch-Quy Tự-tự nói: Sơn-huyện vô-sự, nhân lấy kiến-văn đọc Dịch làm vui, mà viết thành sách, ắt không lưu lại mà cũng chẳng quên  được. Đành viết ra 11 thiên Dịch-Quy. Kinh-thị Dịch-thức Tự-tự nói: tháng 10 năm Mậu-th́n, triều Thiên-hựu,  viết ra sách ấy tại Duệ-châu. Miền Giang-Hoài có kẻ hiếu-sự khắng truyền đi. Nay đă ba mươi năm rồi. Không thể chẳng tu-định. Phiền một nỗi đă xuất-bản rồi, không dễ ǵ sửa chữa. V́ sao? Thói thường, sau khi mất đi, mới truyền lại trước-tác cuả ḿnh. Dụng-ư sâu xa thay.

Lúc Đông-pha đang thịnh-thời, Lư Công Lân có đến vẽ h́nh gia-miếu. Kịp khi di-cư về Nam, con em đều lánh mặt. Thấy thế-thái, nhân-t́nh bạc bẽo, bèn vứt bỏ bức hoạ.

Trong sách Đồng Mông Huấn, Lă Tử-Vi nói: gần đây cố gia chỉ có họ Triều, nhân lấy đạo thân  cảnh-giới con em, đều có pháp-độ. Lúc sống chung, ngồi lại xử sự với nhau. Ngoại-tính, tôn-trưởng chưa dám đưa cho xem văn, kỳ dư đều không được như thế. Triều Công Vũ nói: Dịch Huyền Tinh Kỷ Phổ tổng-hợp  lịch Thái-Huyền cuả Ôn-Công  với Thái-Huyền chuẩn Dịch Đồ cuả Thiệu Khang-Tiết thành phổ để cho chúng ta thấy rằng Dương-Hùng lấy thủ chuẩn quái không phải xuất từ tư-ư. Bởi chưng có tinh-hậu làm cơ-quát. Vả lại,  biện-chính các thuyết cổ-kim cuả chư nho, đại-loại như Tiện không đáng chuẩn Lâm, Di không đáng chuẩn Đại-tráng. Vấn nạn ấy trong thế tranh-biện khẩu-thiệt với chư nho, xem phổ ắt điều đó tự khuất-tất vậy.  

Lư Tốn Nham nói: họ Triều chuyên nơi bác-học. Phàm cổ-huấn, phần đông lấy từ Thuyết-văn Giải-tự cuả Hứa Thúc-trọng (tức Hứa-Thận) hoặc Âm-nghiă cuả Lục Đức Minh hay Hoàng-ngao cuả tăng Nhất-Hạnh, Lư Đỉnh-Tộ, Lục Hi-Thanh hoặc bản-triều (tức Tống-triều) Vương Chiêu-Tố, Hồ Dực. Thỉnh thoảng lại góp nhặt Cổ-Dịch cuả Lă Cấp Công. Thoạt đầu, cú-độc, văn-tự không thêm bớt. Cảnh-Vu ắt sưu-tập chư gia dị-đồng, hoặc theo ư riêng, hoặc tăng, hoặc giảm, bởi chưng hai họ Lă và Triều đều có sư-thừa. Ban đầu, không tổ-thuật mà chỉ-quy vẫn ám-hợp.

Trong thư Uổng Ngọc-Sơn gửi Lă Phụng-Cát có nói: họ Triều dùng đạo-lực mà mở đường cho Vương An -Thạch. Nhân An-Thạch tôn-sùng Khổng-tử mà gạt bỏ Mạnh-tử, chẳng cũng lỗi ru?

Tổ-Vọng cẩn án: Cảnh-Vu không ưa Mạnh-tử bởi lẽ ông thuộc môn-phái t́m ṭi, khi thuyết Kinh không cẩu thả như tiên-nho.

Trong thư gửi cho Chu thị-giảng (tức Chu-tử), Lă Đông-lai (tức Lă Tổ-Khiêm) nói: Cái học cuả Triều Canh-vu vốn phức-tạp nhưng chất-hậu mà ít xuyên-tạc, chỗ dùng được hẳn nhiều. Đại để, tiền-bối phương bắc tuy nghị-luận có hà-t́, nhưng có thể nuôi dưỡng được tính trung-hậu.

Bài bia Thuyền-trường Tự-đường có nói: Cảnh-vu Tiên-sinh lấy đại-quan trích cư năm Canh-dần trên Thuyền-trường. Sau đó hơn 70 năm, giám-quan  Vương Quư Hoà lập nên miếu thờ. Bài kư cuả Phóng Ông đă có nói rơ. (Vân-Hoà án: Quư Hoà tện là Duyên, người Tương-dương. Lại án: Phóng Ông là cháu rể cuả Cảnh- Vu). Kinh-học cuả Tiên-sinh áo-diễn, không khứng cẩu thả, như tiên-sớ thông thường, tự thành một nhà. Thành thử  ra, Phóng Ông nói: nh́n lại lời ông nói về chư Kinh đều viết trong Biên-tịch. Sự thật ắt chưa hẳn như thế. Bởi chưng Kinh-thuyết cuả Tiên-sinh đều xuất-hiện sớm. Lúc về già, ông mới đề cao sư-pháp cuả Ôn-Công, nên mới lấy Lịch Thái-Huyền cuả Ôn-Công cùng là Thái-Huyền Chuẩn Dịch Đồ cuả Khang-tiết hợp thành Phổ. Bảo là Dương-Hùng lấy thủ chuẩn quái, đều có tinh-hậu làm cơ-quát không phải xuất tự tư-ư. Nhân lịch-biện chư gia, bàn  về những chỗ thất sách cuả Huyền, cũng đáng là một kiệt-tác vậy. Tiên-sinh tự tay viết bài Bạt nơi cuối sách rằng:

Năm nay, bắt đầu thấy cương-thuyết minh-châu, khiến cho ư-khí con người tự bồi. Bởi chưng Tiên-sinh đương lúc lắm nỗi gian-truân, phong-tiết không hư như thế, vốn đă chẳng cùng sầu viết sách. Đang lúc ấy, Kinh-học quanh vùng đang c̣n chưa thịnh, Tiên-sinh khởi công lấy truyện cuả chính-học, tham bác văn-chương tinh-chỉ các Phổ, đề-xướng dạy dỗ. Lúc đó, Trần-văn Giới-Công có được chư kinh thuyết mà Vương Mậu-Cương khi xử-sĩ, thích tán Dịch, hứng khởi hoàn-hảo, có công với làng mạc, rất là phung phí. Tiên–sinh, đối với bọn lái buôn đường thủy, thường hay nói mát, vô-thưởng, vô-phạt. Ắt tưởng thấy dương-vụ ngày tịch-mịch vô hữu. Nên có thú bầy quẻ, nuốt hào. Phân thần, liệt-toán. Lúc nhàn rỗi, suốt ngày nhắm rượu, ngâm thơ, vượt ra ngoài trần-thế nơi nhà nghỉ mát mà thôi.

 

*

* *

 

 

 

Đón Xem Kỳ 125

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com