www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 10

 

THÁI HUYỀN KINH

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 122)

 

THUYẾT HUYỀN

(191, tr. 109-114)


IV CHIÊM-PHÁP

Đây là phép bói Huyền.

Tháng

Biệt-danh

Nguyệt-kiến

Đẩu-kiến

Nơi Nhật Nguyệt Hội

Giêng

Mạnh

Xuân

Kiến Dần

Dần

Tưu-tư

Hai

Trọng

Xuân

Kiến Măo

Măo

Giáng-lâu

Ba

Quư

Xuân

Kiến  Th́n

Th́n

Đại-lương

Mạnh

Hạ

Kiến Tỵ

Tỵ

Thực-trầm

Năm

Trọng

Hạ

Kiến Ngọ

Ngọ

Thuần-thủ

Sáu

Quư

Hạ

Kiến Mùi

Mùi

Thuần-hoả

Bẩy

Mạnh

Thu

Kiến Thân

Thân

Thuần-vỹ

Tám

Trọng

Thu

Kiến Dậu

Dậu

Thọ-tinh

Chín

Quư

Thu

Kiến Tuất

Tuất

Đại-hoả

Mười

Mạnh

Đông

Kiến Hợi

Hợi

Tích-mộc

Một

Trọng

Đông

Kiến Tư

Tinh-kỷ

Chạp

Quư

Đông

Kiến Sửu

Sửu

Huyền-hiêu

               Bảng 10.22 Nguyệt-kiến quanh năm

          Sau khi được thủ-vị, ta mới t́m âm-dương, trú-dạ (ngày, đêm), kinh-vỹ cuả thủ. Muốn biết âm-dương cuả thủ, ta chỉ cần tính số thứ-tự N cuả thủ, tức thị số ngày trong khoảng từ thủ Trung đến thủ Dưỡng, từ thủTrung đến thủ đương-quan: lẻ là dương, chẵn là âm. Mỗi thủ có 9 tán, N thủ có 9 N tán: 9 N lẻ là dương-gia, 9 N chẵn là âm-gia. Dương-gia th́: 1, 3, 5, 7, 9 là ban ngày; 2, 4, 6, 8 là ban đêm. C̣n âm-gia th́ ngược lại: 1, 3, 5, 7, 9 là ban đêm; 2, 4, 6, 8 là ban ngày. Kinh là 2, 5, 6, 7, dùng khi bói ban sáng. Vỹ là 3, 4, 8, 9, dùng vào bói buổi chiều. Giữa trưa, nửa đêm tạp-dụng một kinh, một vỹ, tức thị dùng 2, 3,  4, 5, 6, 7, 8, 9. Phàm bói buổi sáng, dùng tán 1, 5, 7.  Gặp dương-gia ắt 1-5-7 đều là ban ngày, gọi là nhất tùng, nhị tùng, tam tùng. Thủy, trung, chung đều cát. Gặp âm-gia, ắt 1-5-7 đều là ban đêm, gọi là nhất vi, nhị vi, tam vi. Thủy, trung, chung đều xấu. (Bói buổi sáng ắt là gặp tán 1-5-7, mà bói đă quyết đoán. Gặp 2, 6, 9 là giữa ngày, nên Kinh nói: ngày đêm tán này hoạ, phúc lẫn lộn). Phàm bói buổi chiều, dùng vỹ tức tán 2-6-9. Gặp âm-gia, thủy-trung tốt, trung-chung xấu. Nếu bói giữa trưa, nửa đêm, là 2 kinh, 1 vỹ, dùng tán 2-6-9. Gặp âm-gia, thủy-trung tốt, chung xấu, th́ dùng tán hạ là thủy, thứ đến là trung, sau rốt là thượng, là chung. Nên Kinh bảo: xem thủy-trung, quyết theo chung. Đại để, cát hung, hưu cữu, tại trú-dạ theo vi. Nếu muốn tiêu-tức thửa văn, ắt nên xét nghĩa-lư tên thủ và tán-từ sở-quan với việc bói, liệt-kê tốt xấu, ắt Huyền-đạo đầy đủ vậy.

          Hoặc giả trú-dạ đă theo,  mà thủ-tính, tán-từ gặp phải lại trái vạy, ắt khá dùng. Kinh nói: mấy lời tinh là theo tinh, là tú sở phối, mỗi mỗi theo phương-hướng cuả ḿnh, không vi-khắc với bản-ngũ-hành. Giả như thủ Trung phối với tú Khiên-ngưu, Bắc-đẩu, hành thủy, đồng đức với thủ, là tinh tùng. Th́ là lúc bói thuận nghịch với tiết-khí. Giả như Đông-chí, bói trước tháng 10, là nghịch, sau Đông-chí là thủ thuận. Số là âm-dương chẵn lẻ để định ngày gặp phải. Đêm là xấu, ngày là tốt. Từ là từ cuả 9 tán. Nếu ngược với ư bói là bĩ. Phàm bốn chuyện ấy đều nên tham-khảo mà nghiệm. Tùng nhiều là tốt, vi nhiều là xấu.

          Sau đây là ba phương-pháp bói Huyền: cách thứ nhất dùng 36 cọng cỏ thi, cách thứ nh́ dùng 36 đồng tiền, c̣n cách thứ ba chỉ dùng 4 đồng tiền.

Cách Thứ Nhất (Cổ-Truyền): (398, tr. 14)

Thiên sách 18, điạ-sách 18. Điạ hư 3 để phối-trí với tam-tài, cũng như số đại-diễn 50, chỉ dùng 49, nên Huyền chỉ dùng 33 cọng cỏ thi (33 = 18 + 18 - 3). Nay cỏ thi đă đủ, để riêng ra một cọng, kẹp vào ngón út tay trái, để biểu-trưng Huyền. Kỳ dư, chia làm ba bó: trái, giữa, phải. Đếm từng ba cọng một,  số dư để riêng ra. Cuối cùng cộng ba số dư lại sẽ được tổng-số dưới 10 cọng: được 7 là thiên (>), được 8 là điạ (--), được 9 là nhân (---), giống như tứ-tượng cuả Dịch vậy. Quẻ Dịch có khí cuả tứ-tượng, Huyền thủ có tượng cuả tam-biểu. Lập lại bốn lần, ta được trừ trên xuống dưới: Phương, Châu, Bộ, Gia. 


 

 

Biểu Nhân

---

Biểu Điạ

--

Biểu Thiên

> 

Phương

+ 0

+ 27

+ 54

Châu

+ 0

+ 9

+ 18

Bộ

+ 0

+ 3

+ 6

Gia

đếm 1

đếm 2

đếm 3

 

Cửu châu là: 1. Trung, 2. Tiện, 3. Tùng, 4. Canh, 5. Túy, 6. Khuyếch, 7. Giảm, 8. Trầm, 9. Thành.

Gia Trong Châu:

Trung      : Chu, Hiền, Nhàn, Thiểu, Lệ, Thượng, Can, .

Tiện        : Sai, Đồng, Tăng, Duệ, Đạt, Giao, Nhuyễn, Hề.

Tùng       : Tiến, Thích, Cách, Di, Lạc, Tranh, Vụ, Sự.

Canh       : Đoán, Nghị, Trang, Chúng, Mật, Thân, Liễm, Cương.

Tuư         : Thịnh, Cư, Pháp, Ứng, Nghinh, Ngộ, Táo, Đại.

Khuyếch : Văn, Lễ, Đào, Đường, Thường, Vĩnh, Độ, Côn.

Giảm       : Cấm, Thủ, Hấp, Tụ, Tích, Sức, Nghi, Thị.

Trầm       : Nội, Khử, Hối, Mông, Cùng, Cát, Chỉ, Kiên,

Thành     : Trí, Thất, Kịch, Tuần, Tương, Nạn, Cần, Dưỡng.

Mỗi thủ quản 4 ngày rưỡi. Ḍ vào bảng 10.2 (Bài Kỳ 112), ta so sánh nhật-kỳ t0 ứng với thủ, với nhật-kỳ t lúc bói. Nếu t < t0 th́ tốt, c̣n t > t0 th́ xấu. Lư-do: những ǵ thuộc về tương-lai ta không kiểm soát được; những ǵ đă xẩy trong qua-khứ là chuyện đă rồi, ta không làm sao thay đổi được. Nếu t = t0,  Kinh Thái-Huyền  nhắc nhở ta phải hành-xử hợp thời nghi.

Bây giờ, ta hăy xét lời tán đương-quan. Các tán trừ 1 đến 3 liên-quan đến suy-tư lúc hành-xử. Các tán trừ 4 đến 6 thuộc về phúc (hành-xử đúng đắn). Các tán từ 7 đến 9 thuộc về hoạ (bất-chính hoặc hành-xử trái khoáy):

Nội-tư

Trung-tư

Ngoại-tư

Phúc

Tiểu-phúc

Trung-phúc

 Đại-phúc

Hoạ

Tiểu-hoạ

Trung-hoạ

Đại-Hoạ

Tuy có 9 tán-từ ứng với mỗi thủ, ta cần chú-ư đến 3 tán, bởi chưng Huyền khác Dịch ở chỗ chú-trọng đến sự việc xẩy ra kúc nào trong ngày, tức thị coi trọng hỗ-tác giữa trời và người. Nếu bói ban sáng ta chỉ cần xét các tán 1, 5, 7; nếu bói buổi chiều, ta chỉ cần xét các tán 3, 4, 8; nếu bói vào các lúc khác ta lại chỉ xét các tán 2, 6, 9. Trong mọi trường-hợp, tán đầu ứng với sự việc đoản-kư, tán thứ nh́ ứng với sự việc trung-kỳ và tán thứ ba ứng với sự việc dài hạn.

Cách Thứ Nh́ (Bán-Cổ-Truyền): (421, tr. 20-22)

Người bói day mặt về hướng Nam. Để riêng một đồng tiền sang bên trái (Đông) để biểu-trưng Huyền, và 3 đồng tiền sang bên phải (Tây) để tượng-trưng tam-tài. Tuần tự gieo từng đồng tiền một. Dồn tất cả các đồng tiền sấp S sang góc Tây-Nam, gom tất cả các đồng tiền ngửa N vào góc Đông-Nam. Lấy từ đống Đông-Nam cuả các đồng tiền sấp từng 3 đồng tiền một cho đến khi chỉ c̣n 1, 2, hay 3 đồng tiền (amod 3). Các đống tiền để riêng nay được dồn chung một đống. Làm y chang với đống  Đông-Nam. Và cũng rút ra các đồng tiền từng ba đồng một, riêng một đống.

 

Bây giờ gom hai đống lại và để trên bàn trước mặt ḿnh. (Sẽ là 2 = 32 amod 3 hoặc  5 = 2+ 3). Bây giờ là lúc hội-nhập vào Huyền bằng cách gom đồng tiền Huyền và 3 đồng tiền tam-tài lại vào đống ở đằng trước mặt ḿnh, rồi di-chuyển về phiá cực Nam (Hoặc 2 + 4 = 6, hoặc 9 = 5 + 4).

Bây giờ xét đến đống tiền sấp ở phiá Tây-Nam. Lấy ra từng 3 đồng tiền một cho đến khi chỉ c̣n 1, 2, 3 đồng tiền, gom các đồng tiền này vào đống cực Nam. Sau đó, xét đống đồng tiền ngửa N lở phiá Đông-Nam. Lấy ra từng ba đồng tiền một, cho đến khi chỉ c̣n 1, 2, hay 3 đồng tiền. Gom tất cả các đồng tiền vào đống cực Nam. Tại đây, ta có:

hoặc: 6 + 3 = 9, hoặc: 6 + 6 = 12, hoặc: 6 + 9 = 15, nghiă là tổng-số c̣n thừa lại là:

hoặc: 36 – 9 = 27 ~ 9 (vạch nhân  ---)

hoặc: 36 – 12 = 24 ~ 8 (vạch điạ --)

hoặc: 36 – 15 = 21 ~ 7 (vạch thiên  >)

Bây giờ ta đă được vạch Phương. Chỉ cần lập chu-tŕnh ba lần nữa là ta được nốt ba vạch kia (châu, bộ, gia).

Cách Thứ Ba (Giản-Hoá): (421, tr. 19-20)

Ta chỉ cần 4 đồng tiền. Lấy 2 đồng tiền bỏ riêng ra, 2 đồng tiền c̣n lại gieo cùng lúc. Nếu 2 ngửa, tiếp-tục gieo nữa cho đến khi được ít nhất 1 sấp. Xác-suất cho 2 sấp là 1/3, xác-suất cho 1 sấp là 1/3, và xác-suất cho 1 sấp, 1 ngửa cũng là 1/3.

Sau đó, lấy 2 đồng tiền trừ-bị làm y chang cho đến khi được 1 sấp hay 2 sấp. Sau khi đă gieo cả 4 đồng tiền, ta sẽ điược một trong ba trường-hợp: dương-dương (4 sấp), âm-âm (tổng cộng 2 sấp), hoặc hỗn-hợp âm-dương (tổng cộng 3 sấp). Dương-dương ứng với 9, âm-âm ứng với 8 và âm-dương ứng với 7. Bây giờ ta được một vạch đầu (Phương). Chỉ cần làm thêm 3 chu-tŕnh nữa là ta dược đủ vạch. Nên nhớ rằng 4 vạch cuả thủ được từ trên xuống dưới khác với 6 hào cuả quẻ Dịch  dđược từ dưới lên trên. Bấy giờ ta chỉ việc giở Kinh Thái-huyền ra mà chiêm-nghiệm.

 

V BIỆN THỦ

(191, tr. 114)

Thiên-Huyền 27 thủ: Trung, Chu, Hiền, Nhàn, Thiếu, Lệ, Thượng, Can, Sơ; Tiện, Sai, Duệ, Đạt, Giao, Nhuyễn, Hề; Tùng, Tiến, Thích, Cách, Di, Lạc, Tranh, Vụ, Sự.

Địa-Huyền 27 thủ: Canh, Đoán, Nghị, Trang, Chúng, Mật, Thân, Liễm,Cương; Túy, Thịch, Cư, Pháp, Ứng, Nghinh, Ngộ, Táo, Đại; Khuyếch, Văn, Lễ, Đào, Đường, Thường, Vĩnh, Độ, Côn.

Nhân-Huyền 27 thủ: Giảm, Cấm, Thủ, Hấp, Tụ, Tích, Sức, Nghi, Thị; Khử, Hối, Mông, Cùng, Cát, Chỉ, Kiên; Thành, Trí, Thất, Kịch, Tuấn, Tương, Nạn, Cần, Dưỡng.

Trung là khởi đầu cuả muôn vật, lại đắc trung (Lời biện thủ đều đầy đủ trong Kinh-chú). 9 tuy đang ban ngày, cao cực hung. Sơ là Lâm vậy. Tiến-hành công việc vạn-vật. Phù dương mà Tiến-hành công việc cuả 9, tuy đang ban ngày, cuối cùng cũng hung vậy.

Thân là kẻ quyền-qúy thân với người dưới quyền, ắt làm sáng tỏ đạo thân giao. Tuy đang ban ngày, nhưng ở vị-thế cao quá mà không giúp đỡ được thuộc hạ, nên người quân-tử bỏ đi vậy. Ứng là ứng thời thí nghi, 5, 7, 9 đang ban ngày cát, từ đó về sau âm sinh, nên có lời răn đe. Đại klà dươngkhí thịnh-đại, tượng quẻ Phong, cửu là đại-cực, tuy đang ban ngày mà vi hung.

Cấm là âm-dương bất thông, tượng quẻ Bĩ, 2, 4, 6, 8, đang ban ngày, đang thời Cấm, không thể vô-cũu được, nên cực cũng vẫn hung, cũng là muôn  vật cùng-cực. Tư-sách, quyền-mưu tự cứu vậy. Chín nơi cùng cực, ban ngày cũng hung.

Thân là kẻ quyền-quư thân với người dưới quyền ḿnh, ắt đạo thân-giao  được làm sáng tỏ, tuy đang ban ngày mà ở vị-thế quá cao mà không thể giúp đỡ kẻ dưới quyền được, nên người quân-tử bỏ đi vậy.

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 124

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com