www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 10

 

THÁI HUYỀN KINH

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 121)

 

THUYẾT HUYỀN

(191, tr. 109-114)

I MINH TÔNG

       Thái-chỉ cuả Huyền có thể biết được. Thửa vi-hiển, xiển-u, xem tượng, xét phép, thám-sát điềm báo trước cát hung, thấy ḷng cuả trời đất giống như Dịch. Cho nên 81 thủ, nghĩ từ quái ra. Chín ngôi cuả tán, phân-loại theo hào. Dịch lấy 8 x 8 làm cơ-số, nên có 64 quẻ. Huyền tất lấy 9 x 9 làm cơ-số, nên có 81 thủ. Dịch lấy biến mà bói, c̣n Huyền lấy bói bằng cỏ thi làm phùng. Cho nên số có âm-dương mà thời-gian có ngày đêm. Thủ có kinh-vỹ, mà bói Huyền có buổi sáng, buổi chiều. Tham-quan mà được gọi là phùng. Khảo từ, nghiệm số, ắt biết được trạng huống cuả Huyền. Hoặc bảo: Từ cuả Huyền có 9, ngôi cuả Huyền có 4. Nghiă là ǵ? Đáp: Xem nơi 4 ngôi để biện tính, suy ra cương nhu và từ cuả tán. Phân biện để biết tốt xấu. Cho nên bốn ngôi dàn hàng, tính nằm bên trong. Bàng thông cửu-hư, t́nh ở bên trong. Dựa vào thiên đạo mà nóng lạnh vận-hành, sáng tối đổi chỗ. Liên-hợp là Dịch, phân-trước là Huyền. Thứ-tự bốn ngôi là: Phương, Châu, Bộ, Gia. Trên cùng là Phương, đếm thuận đến Gia. Gia chuyển từng cái một là được 81 Gia; Bộ chuyển từng 3 cái một, là được 27 Bộ; Châu chuyển từng 9 cái môt, là được 9 Châu. Một Phương, 27 Bộ mà chuyển, là được 3 Phương.  Ba Phương biến mà quy về 1 tức Huyền vậy. Cho nên lấy 1 sinh 3, lấy 3 sinh 9, lấy 9 sinh 27, lấy 27 sinh 81. Số mũ 3 tương sinh là số cuả Huyền. Tam trưởng là 7, 8, 9 được 1, 2, 3 (phép đếm cỏ thi): 1 (>) là thiên, 2 (--) là điạ, 3 (---) là nhân. Số đi giáp ṿng rồi trở lại khởi-điểm, nơi 81 thủ, cho nên thành 243 biểu. Mỗi thủ 9 tán, nên có 729 tán. Ngoài ra, c̣n thêm hai tán Cơ, Doanh cho tṛn nguyệt-số cuả một nghi. Lập thiên-đạo, có thủy-trung-chung. Nhân gấp 3, nên có thủy-thủy-thủy, trung-thủy-chung cùng là trung-thủy-trung; trung-trung-chung cùng là chung-thủy-chung, trung-chung-chung. Lập điạ-đạo có hạ-trung-thượng. Lập nhân-đạo có tư-phúc-hoạ (suy nghĩ, phúc, hoạ). Ba cái một nhân nhau, noi theo chung thủy vậy. Đă lập ngôi cuả 9 tán, để cùng số cuả trời đất, để phối-trí nguyên cuả 3 ḍng mà thành thủ cuả Huyền vậy. Khởi từ Trung, là chung cuả thủy vậy, nơi nhất, sở phối cuả nhất. Từ thiên-nguyên giáp-tí sóc-đán đông-chí, suy 1 ngày, 1 đêm. Cuối rồi trở lại đầu. Mỗi 2 tán là 1 ngày. Phàm 729 tán là tṛn 365 ngày. Tiết-hậu tụ họp lại, theo bén gót đẩu-chỉ, phối-hợp với ngũ-hành, tất cả đều bầy rơ để ứng với hưu-cữu cuả bói Huyền. Bàn về số âm-dương, nên không xem nơi Huyền, th́ không thể nào biết được trời vô-cùng, vô-tận. Không xem nhất-thống cuả hồn-thiên, th́ không biết được phối-trí cuả nhân-sự. Cho nên, người sành Huyền, ngụ nơi ranh giới cuả thiên-nhân biến-hoá, thửa sáng tỏ thay! Nên lang bang mà đi, không tránh xuyên-cốc, điếc mà c̣n nghe được. Không nghe sấm sét đến nỗi đổ vỡ là may lắm đó. Chẳng phải là chính-mệnh.

II LẬP LỆ

Ôi Huyền! Thâm sâu thay! Rộng lớn thay! Cao xa thay! Mà thầy không truyền, tại sao vậy? Nghiă không rơ là tại lệ không lập. Lời có loại, mà sự việc có tông-chỉ. Có tông-chỉ, nên có lệ để trưng ra. Nếu chẳng được nơi văn-tự, tất cầu nơi tượng. Chẳng được nơi tượng, tất cầu nơi tâm. Ôi như vậy! Thần-lư chẳng sót, mà thấy được t́nh-cảm cuả hiền-triết. Nhẫn từ Tử-vân nghiên cơ, lục lọi số, sáng-tạo Huyền-kinh. Duy có Cự-lộc-hầu Ba-tử, thường thân-thừa cái học cuả Hùng, nhưng thửa chương-cú tinh-vi độc đắc chẳng truyền, mà tục-nho thời đó câu-nệ văn-từ, mê-muội đạo chân, không hiểu Huyền-thuyết, khiến cho văn-tự tối tăm, vi-ngôn u-uất, sư-pháp tuyệt diệt, đạo nan hành. Như thế hơn ngh́n năm. Người đạt văn, bất quá chỉ một vài, như Nhữ-nam Bách-Đàm Quân-sơn, Nam-dương Trương-Hoành B́nh-tử, đều là danh-thế độc-lập. So-sánh với quần-luân, thám-sát thửa tinh-vi, tất bảo không nên bỏ. Về sau, Chương-Lăng, Tống-Ai, bằt đầu viết giải-hỗ. Lục-Tích, người Ngô-quận, thích nghiă mà hiệu-chính, nhờ đó hậu-đại học-đồ mới đươc nghe tông-chỉ, mà Huyền-thể hao ṃn, khó nghiên-cứu tường-tận được. Ta nhân lúc nhàn rỗi, trộm giám-khuy, thường gác sách sang một bên mà than rằng: trong tương-lai, Huyền-kinh tất sẽ hành thế. Làm sáng đạo mà đường lối không bị tổn thương, khiến cho biên ra không khó mà lại thông suốt, sáng suả như nhật-nguyệt, ắt cái học cuả Dương-Hùng làm sao mà không chấn-hưng được? Từ năm Bính-tư Trinh-nguyên dưới triều Đường Đức-tông (796-797), đến năm Kỷ-sửu Nguyên-hoà Đời Đường Hiến-tông (809-810), chú-thích phát-huy mà Huyền Thuyết thành đầy đủ vậy. Ôi! cực-nguyên vi-tận Đạo Huyền, suy loại thủ tượng nơi nghiă thủ tán, tỏ rơ cát hung. Cho nên, lời ẩn, phương chỉ xa vời, án sách thâm sâu khôn lường, gỡ mối hay ho vô cùng, nhất nhất sách dẫn  ra tông-chỉ cực cao, từ Huyền-trắc cho chí Huyền-xung , Huyền-thác ,  Huyền Ly , Huyền-oanh , Huyền-số ,  Huyền-văn ,  Huyền-nghê , Huyền-đồ , và Huyền-cáo . Tất cả các điều đó đều được dùng để hỗ cử thích Kinh mà phù-trợ nghiă cuả thủ tán. Trói buộc vào căn-bản, hoa, lá, cành, rong biển tản mác vào trong Huyền, mà điều tiên-nho chú-thích chỉ tường tận ngọn, c̣n gốc lại sơ-sài, nên hậu-học quan-lăm chẳng hiểu ǵ, vắt óc, kiệt trí cũng không biết đi vào lối nào. Cho nên, thám Huyền, tiến học có số đông, hoặc giữa đường bỏ cuộc, hoặc làm càn trộm hỏi. Sở học nông cạn, đạo Huyền khuyết-hăm, mà nghiệp cuả hiền-nhân, chí-sĩ không được noi theo. Nên nhân Tống-Ai, Lục-Tích lược-khảo, suy-cứu mà thi-hành, chỗ nào tường-tận th́ theo mà không cần nghị-luận. Chú-thích dừng nơi thủ-tán. Lại gồm Huyền-trắc (tượng) mà bầy ra nhiều loại. Dễ hiểu, nên Huyền-học tự-ngộ mà không tốn công. Tán-từ cuả Huyền, gốc suy từ ngũ-hành. Biện-minh khí-loại, khảo số âm-dương, định đêm ngày cuả lúc bói. Cho nên xem lời thi-hành mà thấy được lẽ cát hung, tốt xấu. Nếu sự việc không như thế, văn chẳng hư-hành, xem cựu-chú, đă khuyết mà c̣n thuật bừa, tuy lúc đó cắt nghiă, cũng chỉ là đoán ṃ mà thôi. Bởi vậy nhân-lệ cuả Dịch-gia, có thuyết: đắc-vị, thất-vị và vô-vị, để biện-luận nguyên-do cuả cát hung. Cho nên, gốc cuả Huyền là đếm 1 ngày, 1 đêm. 'Cương nhu tương thôi' ('Cứng mềm đun đầy nhau') (Hệ-Thượng II/2). Trú-từ (lời liên quan đến ban ngày) nhiều là tốt đẹp; dạ-từ (lời liên quan đến ban đêm) nhiều là xấu. Số lẻ là dương; số chẵn là âm. Thủ có âm-dương, tán có chẵn lẻ. Giống nhau ắt lành, trái ngược nhau ắt dữ. Từ 1 đến 9 là số cuả ngũ-hành. Thủ với tán gặp phải, không giống nhau. Tương sinh là tốt, tương khắc là xấu. Đó là tương-đối. Đến như loại-biến, tùy thời chế nghị. Chí đạo không có thể, chí thần không có phương-sở. Không thể dùng một lẽ hoài hoài. Thế song , phải tùy thời. Xét số, gỡ rối vạn mối mà lập ngôn đại-bản, có thể biết được. Lại nữa, cát hung, tốt xấu, tất có điều-lệ (ban ngày tốt, ban đêm xấu). Cũng có khi tưởng xấu mà lệ không xấu. Thâm-thám nguồn cơn, ắt thấy vi-chỉ. Điều ấy cần phải xét kỹ. Đến như chuẩn thằng quy-củ (mẫu mực và khuôn phép), điều thi-hành không giống nhau. Thuyết cũ cho rằng chẳng cát, nhưng mà thủ ấy lại là sai vạy. Lời đều bắt đầu sai vạy, mà cuối cùng giống. Như khuôn phép vuông tṛn  trái ngược nhau mà cuối cùng thành công-dụng. Như cầm sắt chuyên nhất, ai mà nghe tiếng ḿnh? Cộng-h́nh vuông tṛn, há thích-hợp nơi đồ dùng? Đấy cho là sai vạy mà lại hoạch cát. Có khi sát-từ h́nh như tốt đẹp mà suy lệ lại sai vạy. Đến như lều trong đất ḿnh, đậu xe ngựa trong đất ḿnh, đi xe ngựa cuả nhà vua, là đại-cát. Mà khảo nơi lệ (đang tối), lẽ ắt đang hung, suy thửa sở dĩ nhiên, ắt lều là nhà nhỏ (Theo Hán-chế túc-vệ có trực-lư trong cung đ́nh). Trong đất là chính-vị. Tiểu-nhân mà ở chính-vị mà lại dùng đồ cuả người quân-tử, là họa gần kề rồi. Nên bên dưới nói: tội h́nh tràn đầy. Đấy chỉ là một thí dụ. Kỳ dư chỉ cần 'cử mhất phản tam' ('thử một thành ba'). Lại như thượng-cửu thủ Trung, lẽ ra đang ban ngày nên cát. Quần dương kháng cực, gặp hung cuả điên-linh giống như kháng long cuả Dịch (Hào thượng-cửu quẻ Kiền). Thửa nghiă đồng-nghiệm. Loại tương-tự, có thể lệ suy. Chính là cái ta gọi là 'huyền chi hựu huyền' (đă huyền mà lại càng huyền). Đám đông không hiểu được. Lại nữa, trong một thủ, ngũ là chính-vị đáng là thủ-chủ, nên được lời cực-đại. Cứu xét lại, lại thấy mỹ-từ giảm bớt, thế th́, âm-thủ lấy âm-số làm chủ, dương-thủ lấy dương-số làm đầu. Thửa nghiă khá minh-bạch. Đại-thể cuả Huyền quư phương, tiến tiện, đă đầy 7 với 8, 9 đều ở trong hoạ, mà lời cực đẹp là v́ 'cùng tắc biến, cực tắc phản'. Đại để, lấy thủ gặp phải làm thiên-thời, lấy tán làm nhân-sự. Thời cư-lệ, ắt đắc lệ là cát, thời xử trung ắt thất trung là hung. Tiêu-tức doanh-hư, khá lựa ư mà xử-sự. Kỳ dư, nghiă lệ, nên xem trong lời chú. Phần đông tương-lai, người quân-tử cứ như vậy mà chiêm-lăm.  

III THIỆT-PHÁP

Đây là phép đếm cỏ thi khi bói Huyền.

Thủ thành nhiên hậu lưỡng-nghi,

Trú-dạ, kinh-vỹ chiếm chi sở phùng.

Thủ thành rồi   sau mới tùy theo lưỡng-nghi (âm-dương), ngày đêm lúc bói, và kinh-vỹ mà định tán.

Ôi Huyền sâu xa, bao la, xa vời diệu vợi, lớn lao. Thầy không truyền, v́ sao? Nghiă chẳng rơ, làm sao mà lập lệ. Ôi lời có loại mà sự việc có tông-chỉ. Có tông-chỉ th́ có thể cử-hành, có loại th́ có thể suy-luận. Đọc văn chưa hiểu, ắt t́m nơi số, số t́m chưa ra, th́ t́m nơi tuợng, tượng chưa thấy được th́ thăm ḍ nơi tâm. Thần lư không sót mà thấy được tính t́nh cuả hiền-triết.

Thủ là thiên-thời, tán là nhân-sự. Đang thời lệ, được lệ là lành. Đang thời trung, mất trung là hung. Tiêu-tức doanh hư, có thể ḍ theo ư mà hiểu. Kỳ dư nghiă lệ, xem nơi lời chú.

Kinh nói: phàm phép cỏ thi, chưa  rành chớ bói, không theo đúng phép tắc, chớ bói, tâm thành thà chẳng bói c̣n hơn.

Khấn sự việc xong, hà hơi vào cỏ thi, rồi nhẩm đọc: Nhờ Thái-Huyền! Nhờ Thái-Huyền! Chính đính hỏi điều ngờ nơi thần-linh. Tốt đẹp th́ gặp được, tinh-thời, số từ thuận theo, gặp âm, tinh-thời số từ sai vạy.

Thiên sách 18, điạ-sách 18. Điạ hư 3 để phôi-trí với tam-tài, cũng như số đại-diễn 50, chỉ dùng 49, nên Huyền chỉ dùng 33 cọng cỏ thi. Nay cỏ thi đă đủ, để riêng ra một cọng, kẹp vào ngón út tay trái, để biểu trưng Huyền. Kỳ dư, chia làm ba bó: trái, giữa, phải. Đếm từng ba cọng một,  số dư để riêng ra. Cuối cùng cộng lại sẽ được dưới 10 cọng: được 7 là thiên (>), được 8 là điạ (--), được 9 là nhân (---), giống như tứ-tượng cuả Dịch vậy. Quẻ Dịch có khí cuả tứ-tượng, Huyền thủ có tượng cuả tam-biểu. Lập lại bốn lần, ta được trừ trên xuống dưới Phương, Châu, Bộ, Gia.    

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 123

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com