www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 08

 

TAM-THÁNH DỊCH

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 106)

 

NGUYÊN LƯU TRUYỀN DỊCH
 

          Nói cho cùng, thoạt đầu, 64 biệt-quái chỉ là phù-hiệu bói toán. Quái, hào-từ chỉ là đúc kết kiến thức khí-tượng và bói toán thô sơ thời trung-diệp Tây Chu, giống như giáp-cốt-văn đời Nhà Thương vậy. Ngoại trừ Thuyết-quái-truyện có thể là sản-phẩm thời Tây-Hán, c̣n 9 truyện kia hẳn là tác-phẩm thời Chiến-quốc. Nhờ Dịch-truyện do Đức Khổng-tử khởi-thảo, Kinh Dịch mới xiển-phát thành triết-lư. 

Thời Chiến-quốc (480-222 B.C.), Nho, Lăo, Mặc lần lượt chọn Chu (Chu-Dịch), Quy (Quy-Tàng), Liên (Liên-Sơn) làm Thánh-kinh như học-giả Trương-Lập-Văn , tác-giả của “Chu-Dịch Tư-tưởng Nghiên-cứu ” đă biện-luận tường-tận trong “Chu-Dịch dữ Nho Đạo Mặc ” (316). Kể từ đời Tuỳ, Đường đến giờ, Tam-giáo Nho, Đạo, Thích (tức Phật-giáo Thiền-tông) đều lấy Chu Dịch làm căn-cơ như xét rơ bên dưới. 

Rất may Kinh Dịch bị mang tiếng là sách bói toán nên thoát khỏi ngọn lửa Tần năm Mậu-tí (213 B.C.) tức hai năm sau khi Tần-Thủy-Hoàng thống-nhất Trung-quốc. Người đầu tiên khôi-phục văn-bản Kinh Dịch hẳn là tác-giả cuả "Tử-hạ Dịch-truyện ". Vị này hẳn không phải là Bốc Thương (sinh năm 508 B.C.), tự Tử-hạ, học tṛ Đức Khổng-tử, v́ lư-do chưa đạt Đạo Trung-dung chứ đừng nói ǵ đến Dịch-đạo, căn cứ theo Luận-ngữ, Chương XI, Tiết 15, nói về chuyện Thầy Tử-cống hỏi Đức Khổng-tử xem Tử-trương và Tử-hạ ai giỏi hơn. Ngài chê cả hai: một người thái-quá, một người bất-cập. Huống hồ, thuở đó Dịch-truyện c̣n chưa hoàn-tất nữa là "Tử-hạ Dịch-truyện". Nay đọc kỹ lại Hán-thư Nghệ-văn-chí cuả Ban-Cố cũng như Tùy-thư Kinh-tịch-chí của nhóm Trưởng-tôn Vô-Kỵ , tôi cho rằng tác-giả thực-thụ cuả "Tử-hạ Dịch-truyện" chính là Hàn-Anh , tự Tử-hạ, một di-lăo Đời Tần.       

Hán-thư (003) Nghệ-văn-chí của Ban Cố (32-92) chép: “易,人 聖,事 Dịch, nhân canh tam thánh, sự lịch tam cổ (Dịch truyền qua tay ba vị thánh và trải qua ba thời cổ). Thời thượng-cổ Phục-hi vạch ra tám quẻ đơn rồi chồng lên thành 64 quẻ kép. Thời trung-cổ Văn Vương khi bị bạo chúa Trụ giam ở ngục Dữu-lư, viết ra Lời quẻ (quái-từ). Và Chu Công, con thứ ông, viết ra Lời Hào (hào-từ). Thời hạ-cổ Khổng-tử làm ra Thập dực. Khổng-tử mất, theo Nho-lâm truyện, người truyền Dịch là Thương Cù Tử-mộc, người nước Lỗ. Thương Cù truyền cho Kiều Tí Tử-dung. Kiều Tí truyền cho Hàn Tí Tử-cung, người Giang-đông. Tử-cung truyền cho Chu Xú Tử-gia, người nước Yên. Tử-gia truyền cho Tôn Ngu Tử-thừa, người Đông-vũ. Tử-thừa truyền cho Điền Hà Tử-trang, bác-sĩ nước Tần. Lúc Hán hưng, Điền Hà truyền cho người nước Tề Điền Tỷ Đỗ Lăng, hiệu Đỗ Điền Sinh. Ông này truyền cho Vương Đồng Tử-trung, người Đông-vũ, Chu Vương Tôn và Đinh Khoan, người Lạc-dương và Phục Sinh, tự Thúc-nguyên, người nước Tề. Vương Đồng truyền cho Dương Hà, người Tri Xuyên; Đinh Khoan truyền cho  Điền Vương Tôn. Ông này truyền cho Thi Thù, Mạnh Hỉ, và Lương-khâu Hạ. Cả ba đều là học-quan nên Dịch thời đó mới có ba phái Thi, Mạnh, Lương-khâu. Về sau Thi Thù , tự Trường Hương, người Đất Bái, truyền cho Trương Vũ và Lỗ Bá (người Lang-nha). Trương Vũ truyền cho Bành Tuyên, người Hoài-dương. Cho nên sau họ Thi, có Dịch-học của hai họ Bành, Trương. Mạnh Hỷ truyền cho Bạch Quang và Địch Mục, nên chi sau Dịch-học của Họ Mạnh mới có Dịch-học của hai họ Bạch, Địch. Lại có Kinh Pḥng (77-37 BC), tự Quân-minh, người Đốn-khâu, Đông-quận, là đệ-tử của Dương Hà, lại  theo học riêng với Tiêu Diên Thọ rồi soạn ra các sách “Dịch Chương Cú ” (10 q.), “Tích-toán Dịch-truyện“, 3 quyển, “Tạp Chiêm Điều-lệ“ 1 quyển, “Chiếm Hậu Thập Chủng” (73 q.); đến đời Đường chỉ c̣n “Ngũ Chủng, 23 q.). Kinh Pḥng truyền cho Lương-khâu Hạ, Hạ truyền cho con là tên là Lâm. Lâm lại truyền cho Sung Tông, người Ngũ-lộc. Sung Tông lại truyền cho Sĩ-tôn Trương Trọng Phương, người đất B́nh-lăng và Đặng Bành Tổ, người đất Bái cùng Hành Hàm, người nước Tề, cho nên từ đó mới có Dịch-học của hai họ Tiêu, Kinh. Tiêu Diên-Thọ, tự  Cống,  có viết ra 16 thiên  Dịch-Lâm, theo thể-cách mỗi quẻ biến thành 64 quẻ, cộng chung thành 4096 quẻ, lấy 1 hào chủ 1 ngày, 64 quẻ bỏ riêng ra 4 quẻ phương-bá làm quan tư-giám bốn phương, kỳ dư 60 quẻ, 360 hào, chủ một năm b́nh-dân 360 ngày, mỗi quẻ đều có quái-hào-từ... 

Lưu-Hướng nói: "Dịch-thuyết chư gia đều bắt gốc từ Điền-Hà, Dương-Thúc, Đinh tướng-quân, đại-nghiă tương-tự. Duy có họ Kinh là khác đảng". Phương-pháp trị Dịch cuả họ Kinh, lấy bát-thuần-quái làm chủ, cương nhu cọ sát nhau mà thành biến-hoá, gọi là thế-ứng. Lại chia thành phi-phục, kiến tích, dùng để bói khí-hậu, nhân-sự, rất ư là trưng-nghiệm.

 

 

 

Xem Kỳ 108

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com