www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 08

 

TAM-THÁNH DỊCH

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 102)

 

KHỔNG-DỊCH XIỂN CHÂN

闡 真

 

Hán-Thư, Nho-Lâm-Truyện chép: "Khổng-tử lúc về già ưa Dịch, năng đọc Dịch đến nỗi ba bận đứt lề mà viết ra Truyện". 

Nơi bài "Khổng-tử Thế-gia", trong sách "Sử-kư" Tư-mă Thiên nói: "Khổng-tử lúc về già ưa Dịch viết ra năm thiên: Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết-quái, Văn-ngôn". 

Dịch là sách để hiểu rơ Đạo. Ngũ-Đế trị thiên-hạ bằng Đạo, Tam-Vuơng dùng Đức, c̣n Ngũ-Bá lại dùng công (dần dà biến-chất thành vũ-lực). Thế-vận từ Đế giáng xuống vương, từ Vương giáng xuống Bá, Đạo đă không minh-bạch nữa mất rồi.

Khổng-tử giữa thời nhà Chu đương suy, công cuả Ngũ-Bá đă tối-tăm, mờ-mịt, dần dà công đă giáng xuống thành chuộng vũ-lực, nhân-đạo cơ hồ đă tuyệt diệt. Cho nên Khổng-tử tán Dịch để bảo-tồn Đạo, chỉ mong sao Đạo c̣n được giữ vững, bèn lấy trung-hào để minh-công, tŕnh bầy chín quẻ (Lư, Khiêm, Phục, Hằng, Tổn, Ích, Khổn, Tỉnh, Tốn) để sùng-đức (Hệ-Hạ, VII-VIII). Tuần-tự mà tiến, ngơ hầu từ công thăng lên đức, sau đó mới tiệm-cận tiến lên đạo.
 

        Tiểu-đoạn dưới đây dùng chữ nghiă cuả Thuyết-quái-truyện như sau:

Bát-quái Văn-Vương bắt nguồn từ Chương V, Thuyết-quái-truyện, chuyên nói về muôn vật theo chân Đấng Chủ-tể mà ra vào. Tiết I nói: “Đấng Chủ-tể ra ở Chấn (đông), thanh-khiết, chỉnh-tề ở Tốn (đông-nam), thấy nhau ở Ly (nam), làm việc ở Khôn (tây-nam), vui nói ở Đoài (tây), đánh nhau ở Kiền (tây-bắc), khó nhọc ở Khảm (bắc), xong việc rồi nói ở Cấn (đông-bắc)” (帝出乎震,齊乎巽,相見乎離,致役乎坤,說 言乎兌,戰乎乾,勞乎坎,成言乎艮。Đế xuất hồ chấn, tề hồ tốn, tương-kiến hồ ly, trí-dịch hồ khôn, duyệt ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, lao hồ khảm, thành ngôn hồ cấn.) 

Chương V Tiết II chỉ là tán rộng Tiết I mà thôi: 

Vạn-vật xuất hồ chấn, chấn đông-phương dă; tề hồ tốn, tốn đông-nam dă, tề dă giả ngôn vạn-vật chi khiết tề dă; ly dă giả minh dă, vạn-vật giai tương kiến, nam phương chi quái dă; Thánh-nhân nam diện nhi thịnh thiên-hạ, hướng minh nhi trị, Cái thủ chư thử dă, khôn dă giả điạ dă, vạn vật giai trí-dưỡng yên, cố viết trí-dịch hồ khôn; đoài chính thu dă, vạn vật chi sơ duyệt dă, cố viết duyệt ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, kiền tây bắc chi quái dă, ngôn âm dương tương bạc dă, khảm giả thủy dă, chính bắc phương chi quái dă, lao quái dă, vạn vật chi sở quy dă, cố viết lao hồ khảm; cấn đông bắc chi quái dă, vạn vật chi sở thành chung nhi sở thành thủy dă, cố viết thành ngôn hồ cấn. 萬物出乎震,震東方也;齊乎巽,巽東南也,齊也者言萬物之潔齊也;離也者明也,萬物皆相見南方之卦也;聖人南面而廳天下明而治,蓋取諸此也,坤也者地也,萬物皆致養焉,故曰致役乎坤;兌正秋也,萬物之所說也,故曰說言乎兌,戰乎乾,乾西北之卦也,言陰陽相也,坎者水也,正北方之卦也,勞卦也,萬物之所歸也,故曰勞乎坎,艮東北之卦也,萬物之所成終而所成始也,故曰成乎艮。Muôn vật ra ở phương Chấn, Chấn là phương đông. Sạch sẽ chỉnh-tề ở Tốn, Tốn là đông nam, tề là nói muôn vật chỉnh tề, sạch sẽ. Ly là sáng, muôn vật đều sáng mắt mà thấy nhau; thánh-nhân xoay mặt về phiá nam mà nghe thiên-hạ, hướng về phiá sáng mà trị, tượng lấy ở chỗ đó vậy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi nấng, nên mới bảo: làm việc ở Khôn. Đoài là chính thu, muôn vật đều vui vẻ, nên bảo rằng: nói năng vui vẻ ở Đoài. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ tây bắc, là bảo âm dương xô xát nhau vậy. Khảm là nước, là quẻ chính bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều quy về đó, nên mới nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, là nơi muôn vật làm nên cuối và làm nên đầu, nên nói rằng làm nên nơi phương Cấn.  

          Mé bắc cuả ngân-hán phát-xuất từ  Kiến-nam cuả Đẩu, đáy nơi hồ thỉ, mé nam cuả ngân-hán phát-xuất từ phiá bắc thiên-miếu, đáy nơi tích-tốt, bao-tuyền, tam-viên xung-tư bên trong. Cho nên quan-sát Đẩu-Hán mà thiên-đạo sáng rỡ. Về phiá nam cuả Các-dương là Nam-môn, ném về phiá bắc 240 là Thái-dương-môn. Giữa Thiên-môn mở ra ở mút tú Giác, khoảng giữa Cấn-Chấn, là nơi muôn vật chung-thủy. Cho nên mặt trời nơi hữu-thiên động Tả-thanh-long men theo dần mà thăng nơi phiá đông, đế-tử xuất nơi quẻ Dự, mà mệnh cuả thiên-hạ trói buộc vào, tính cuả muôn vật trinh-cố nơi cực, thửa mệnh hanh-thông nơi mặt trời. Nhật đi 10, mà trải qua 12 xá, ban sáng mới giao mà thần đă tụ-tập bên dưới để lănh nơi bát-tế, thất-diệu ngơ hầu thu vén lại một cách có trật-tự. Cho nên, đế xuất bên phải nơi Tiến-hiền để chỉnh-tề mé bên dưới Điểu-tố. Tương-kiến phiá trong hồ-thỉ mà trí-dịch mé ngoài Thiên-giai, vui vẻ nơi mé tây, từng trải đánh nhaư, nơi lưỡng-cơ, lao-cơ, ấy là tiền-suất vậy. Lấy loại cầu đấy ắt thấy được nghiă cuả khuất-trung. 

 

DỤNG CỬU, DỤNG LỤC 

(268, tr.412-3; 319, tr. 125-139)
 

Xin quư-giả đọc lại đề-mục Thất Bát Cửu Lục七八九六 nơi bài 93

Ta biết rằng quẻ th́ dùng thất-bát, hào th́ dùng cửu-lục. Cho nên, trong khắp 64 quẻ, không quẻ nào là chẳng dùng ngầm dụng-cửu, dụng-lục. Khổng-tử phát-minh ra dụng cửu, dụng-lục cho hai quẻ Kiền-Khôn để chứng-tỏ rằng không quẻ nào là chẳng dùng cửu-lục. Nhưng quẻ Khôn thuận theo quẻ Kiền. Dụng cuả Khôn đều là dụng cuả Kiền, dụng cuả lục đều là dụng cuả cửu. Cho nên, đặc-biệt là trong Văn-Ngôn, quẻ Kiền tái-minh-xác thửa nghiă. Nói rằng: Kiền-nguyên dụng cửu, thiên-hạ trị dă. = Trong đạo Kiền mà biết dùng hào cửu th́ b́nh-trị được thiên-hạ. (Kiền Văn-ngôn 15); Kiền-nguyên dụng cửu, năi kiến thiên-tắc. = Trong đạo Kiền mà biết dùng hào cửu là thấy được phép trời. (Kiền Văn-ngôn 22). Lại nói: Dụng cửu, thiên-đức bất khả vi thủ dă. = Cách dùng hào cửu, như dùng cho việc làm th́ đức trời cứng rắn, không nên dùng vào lúc đầu tiên. (Kiền Tượng).

          Về vấn-đề `dụng-cửu, dụng-lục` này tiên-nho giải-thích bất nhất. Hoặc bảo là chiêm-biến, hoặc để thích-nghiă cương-nhu, hoặc để phiếm-luận về đạo vua tôi, hoặc để phụ-hội vào khí cuả trời đất, hoặc để tán thêm vào nghiă cuả cụm từ `Hiện quần long vô thủ cát`, hoặc lấy `Dụng lục lợi vĩnh trinh`mà tán rộng thêm ra thành nguyên-chỉ. Nhưng rút cục, cũng chẳng t́m ra được thuyết xác-thiết nào cả. Thoạt kỳ thủy, Sái-Mặc khi bàn về `Kiền chi Khôn`, `Hiện quần long vô thủ cát`, có nói: Thuyết chiêm-biến đều cho dụng-cửu là thuần Kiền biến thuần Khôn, dụng lục là thuần Khôn biến thuần Kiền. Ngoài ra, chỉ là không-ngôn nghiă-lư, tán suông nghiă quân-thần, chẳng biết đường nào mà rờ cả. Kinh văn đă nói rơ ràng đây là cửu, kia là  lục, ắt khi thích kinh, trước phải nghiêm-chỉnh nghiên cứu hai tiếng cửu-lục, t́m cho bằng được xác-hỗ, rồi sau mới suy-cứu `dụng-cửu, dụng-lục`, rồi chứng-minh bằng kinh văn, thế mới gọi là xác-cứ. Đoan-mộc Quốc-Hồ viết: Dụng-cửu là trời 1 không dùng mà dùng đất 2 cho đến đất 10. Tâm thành là cốt cán. Ôi! Tiên-hiền đă lấy cửu-lục làm sinh-mệnh cho hào. Không có hào th́ không dùng cửu-lục. Đă dùng cửu-lục rồi, ắt căn-cứ vào trời 1, đất 2, có thể biết được. Nay lấy trời 1, đất 2 mà suy, chỉ có 1 và 9 là không biến. Một không đổi là thể, 9 không đổi là dụng .  

Trong Chu-Dịch Phệ-từ Khảo trị-dịch-gia Lư Kính-Tŕ nói: Giải-thuyết cuả tiên-nho về dụng-cửu, dụng-lục có hai loại

Một loại chú-trọng giải-thích từ như Vương-Bật trong Chu-Dịch Chú: 

Cửu là thiên-đức. Năng dùng thiên-đức, bèn thấy nghiă cuả quần long. Ôi! lấy chỗ cương-kiện mà ở là công việc tiên-quyết cuả con người, ắt vật không noi theo. Lấy nhu-thuận mà không dừng lại, ắt là đạo cuả lũ tà-nịnh. Cho nên Kiền tốt lành là nhờ 'vô thủ', Khôn lợi tại vĩnh 'trinh'.

Ư ông cho là 'Hiện quần long vô thủ, cát' tức thị hào-từ thượng-cửu (quẻ Kiền). Hậu-nho Vương An-Thạch cũng như Đô-Khiết, hợp dụng-cửu và thượng-cửu làm một tiết, chủ trương loại này. Hạng An-Thế nói rằng: "Nối liền kháng long mà đọc, ắt nghiă minh-bạch".  Mao Kỳ-Linh bảo rằng: "Đó cũng là hào-từ thượng-cửu". 

Một loại chú-trọng 'dụng cửu', 'dụng lục' mà suy thể-lệ bói Dịch. Âu-dương Tu nói:  

"Kiền rằng dụng cửu, Khôn rằng dụng lục, là nghiă ǵ? Đáp: chú-thích tại sao không dụng thất, bát. Dương-hào thất, cửu ắt biến, âm-hào bát, lục ắt biến. Dịch dùng biến  để bói, nên lấy từ 'dụng' để gọi tên hào. Dương mà gặp kháng ắt tai-hại, số đến cửu, ắt biến; nên nói: `Hiện quần long vô thủ cát` … … Động cuả âm nhu, phần đông nhập nơi tà-ma, thánh-nhân nhân thửa biến mà răn; nên nói: 'lợi vĩnh trinh' ".

Thuyết này, hào dùng cửu-lục mà chiêm-biến, cũng được Chu-tử noi theo.

 

Vô h́nh trung, có nhiều người vẫn c̣n hoài-nghi hai chữ cửu, lục. Chúng ta thấy rằng trong Quốc-Ngữ, Tả-Truyện, khi quan-sát phép bói cỏ thi, chỉ thấy chép quẻ này 'chi' quẻ nọ; như trong thí-dụ 1) bên trên, Trần-hầu sai bói dịch, được quẻ Quan chi Bĩ (T  L).  Chu-Sử nói: hào-từ lục-tứ quẻ Quan trong Kinh Dịch bảo rằng: xem việc sáng sủa trong nước, lợi-dụng việc triều-cận nhà vua.

Trong thí-dụ 2d): Tất-Vạn bói việc làm quan ở nước Tấn, được quẻ Truân chi Tỷ (C H). Trong thí-dụ 1a): Tấn Tương Công thuật chuyện người nước Tấn bói được quẻ Kiền chi Bĩ (A L).

Thống-quan phệ-ngữ trong Quốc-ngữ, Tả-truyện, tuyệt nhiên không thấy chỗ nào nói đến  'lục' cả. Họ không nói đến không có nghiă là họ biết mà không dùng. Thành thử ra, thời Xuân Thu đó tử cửu, lục chưa có. Như quả hai từ đó đă hiện-hữu rồi, cớ sao giảng phệ-chiếm cả thẩy 23 lần trong Quốc-Ngữ, Tả-Truyện, không có chỗ nào dùng đến 'cửu', 'lục' cả?   Như so sánh, Quan chi lục-tứ`, hoặc Truân chi sơ-cửu, há chẳng so-sánh với Quan chi Bĩ, Truân chi Tỷ có minh-bạch hơn không? Bảo rằng đó là lệ biến-chiêm cũng có một phần đúng, v́ Tả-truyện đă từng nói qua:

Sái-Mặc … đáp rằng: "Chu-Dịch có chữ chi, tại Kiền chi Cấu bảo: Tiềm long, vật dụng … … Nơi quẻ Quyết th́ bảo: “Kháng long hữu hối“. Nơi quẻ Khôn th́ bảo: “Hiện quần long, vô thủ, cát“ (Chiêu-công, năm thứ 29).    ''  ''  

          Có thể thấy đó là một lệ bói được quẻ hoàn-toàn tương-phản.  Nhưng chỗ đó cũng không thấy nói đến 'dụng cửu', mà hơn nữa chữ cửu của 'dụng cửu', với chữ cửu cuả 'sơ cửu' và cuả 'cửu nhị', dùng để chỉ hào dương, ư-nghiă khác nhau. 'Kiền chi Khôn' là  'Kiền biến thành Khôn'; với 'phàm bói được hào dương, đề dụng cửu mà không dụng thất'. Bởi thế mới có thông-lệ cuả 192 hào dương cuả chư-quái. Thuyết cuả Chu-tử Bản-Nghiă cũng không tương-đồng. V́ thế nên chúng ta mới nghĩ rằng hai chữ  'cửu', 'lục' không hiện-hữu trong Chu-dịch nguyên-thủy, mà được thêm vào sau, cuối thời Chiến-quốc hoặc giao-thời Tần-Hán, để các nho-sinh chế-tác ra Tượng-truyện, Văn-ngôn-truyện, tiện-dụng. Ngô Nhân-Kiệt nói: “Cổ-dịch và Phí-trực Dịch không có dụng cửu mà chỉ có  vạch cuả phúc-quái 'Kiền thượng, Kiền hạ' mà thôi”. Trịnh Khang-Thành vứt bỏ để thay thế bằng 'dụng cửu'. Thành thử ra bảo rằng không có 'dụng cửu có thể cho là hợp-lư'.    

 

MẠNH-TỬ DỊCH 

 

  
 

Sách "Mạnh-tử" gồm 7 Thiên, có dẫn "Kinh Thi" 7 chỗ, luận "Kinh Thi" 4 chỗ, dẫn "Kinh Thư" 17 chỗ, luận "Kinh Thư" một chỗ. Luận "Kinh Lễ" và "Kinh Xuân Thu" nhan nhản. Tuyệt nhiên, không thầy nói đến "Kinh Dịch", nên người đời sau ngờ rằng ông không giỏi Dịch mấy.  Trong "Ngữ-lục", Lư Dung-Thôn quả-thuyết: "Mạnh-tử chưa từng được thấy Kinh Dịch, b́nh sinh giỏi Thi, Thư, Xuân Thu, Kinh Lễ th́ không thuộc mấy". Ô hô! Dung-Thôn tự cho ḿnh là đại-nho mà lại thốt ra lời đó. Như thế là không biết Mạnh-tử, mà cũng không biết luôn cả Dịch nữa. Trong "Mạnh-tử Đề-từ", Triệu Bân-Khanh viết rành rành là: "Mạnh-tử thông Ngũ-Kinh, sở-trường về Kinh Thi, Kinh Thư". Tuy thời Mạnh-tử chưa có từ Ngũ-Kinh, nên lời cuả Bân-Khanh chưa thể cho là thực-lục. Nhưng bẩy thiên Mạnh-tử, vi-ngôn đại-nghiă y-nhiên thượng-tại, sao dám bảo là không biết Dịch? 

Trong Thiên TÂM-HỌC nơi cuối sách Hoàng-cực Kinh Thấ Thư Số (022 , Q. VIII, tr. 118), Điều thứ 44, Thiệu-tử có viết: "Người biết Dịch bất tất dẫn-dụng, giảng-giải, mới là biết Dịch. Mạnh-tử viết sách, vị thường đề-cập Dịch. Phảng-phất Dịch-đạo c̣n đây đó. Nhưng người biết được điều đó hiếm lắm. Người năng dụng Dịch là biết Dịch rồi. Như Mạnh-tử có thể nói là thiện-dụng Dịch vậy. Dụng Dịch tại thân ta, không tại lời nói". Trương Hành-Thành (317, tr. 558-9) bàn thêm: "Mạnh-tử đă đạt quyền cuả đạo mà không chấp-trệ, ấy là biết Dịch vậy. Lời cuả Người ta không chấp trung như thể là chấp nhất, lại càng thấy là người biết Dịch. Luận về tính thiện là một lẽ trời, là Dịch dụng-số vậy".

 

Xem Kỳ 104

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com