www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

 3   |   4   |   5 

6   |    7   |   8

  9   |   10  |   11

  12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 9)

 

III  LỊCH TẦU

  

       Đại-tượng quẻ Cách (#49) nói: Trạch trung hữu hoả: Cách. Quân-tử dĩ trị lịch minh thời 澤中有火﹕革。君子以治歷明時。Trong đầm có (dầu) lửa là quẻ Cách. Đấng quân-tử coi đó mà sửa sang lịch-số cho đúng mùa. 

       Thủy Hoả thôi dứt nhau (tương-tức) là quẻ Cách. Trong đầm có (dầu) lửa. Âm-dương thôi-dứt nhau, thế ắt biến-cách. Phàm không khắc nhau, làm sao tương-sinh được? Không khắc nhau làm sao mà nương tựa nhau được? Người quân-tử thấy được điểm vỹ đại của Trời Đất mới sửa sang lịch-số cho đúng mùa. Trời Đất có đổi dời, bốn mùa mới thành được. Nhưng độ-số triền-chuyển của hai vầng Nhật-Nguyệt không rơ ràng đối với người trần mắt thịt. Đời Đế Nghiêu, nhẫn từ hai họ Hi, Hoà quan-sát lịch-tượng mà nhận mùa về sau, thất-nguyên dường như lộn xộn.  

       Đế Thuấn nói (Thượng Thư, Đại Vũ Mô đệ tam, 1H, Tập I, tr. 136a):

       Đế viết: Lai Vũ! Hồng thủy cảnh dư. Thành doăn, thành công. Duy nhữ hiền. Khắc cần vu bang. Khắc kiệm vu gia. Bất tự măn giả. Duy nhữ hiền. Nhữ duy bất căng. Thiên-hạ mạc dữ nhữ tranh năng. Nhữ duy bất phạt. Thiên-hạ mạc dữ nhữ tranh công. Dư mậu năi đức. Gia năi phi tích. Thiên chi lịch-số tại nhữ cung. Nhữ chung trắc nguyên hậu. Nhân tâm duy nguy! Đạo tâm duy vi, duy tinh, duy nhất!, Doăn chấp quyết trung. Vô kê chi ngôn vật thính! Phất tuân chi mưu vật dung! Khả ái phi quân. Khả uư phi dân. Chúng phi nguyên hậu hà đới? Hậu phi chúng vơng dữ thủ bang? Khâm tai! Thận năi hữu vị. Kính tu kỳ khả nguyện. Tứ hải khốn cùng, thiên-lộc vĩnh chung. Duy khẩu xuất hiếu hưng giới. Trẫm ngôn bất tái.

帝曰。來禹!降水儆予。成允,成功。惟汝賢。克勤于邦。克儉于家。不自滿假。惟汝賢。汝惟不矜。天下莫與汝爭能。汝惟不伐。天下莫與汝爭功。予懋乃徳*。嘉乃丕績。天之暦*數在汝躬。汝終陟元后。人心惟危。道*心惟微。惟精惟一。允執厥中。無稽*之言勿聽。弗詢之謀勿庸。可愛非君。可畏非民*。衆非元后何戴?后非衆罔與守邦?欽哉。愼乃有位。敬修其可願。四海困窮。天祿永終。惟口出好興戎。朕言不再。

       Đế Thuấn nói: Nạn hồng-thủy răn đe ta. Hoàn thành thanh-giáo, thành công trị thủy. Chỉ có ngươi là tài giỏi. Siêng năng việc nước, tằn-tiện nơi nhà. Chẳng tự-măn, giả dối. Chỉ có ngươi là tài giỏi! Bởi ngươi không cậy tài (Kiều: Có tài mà cậy chi tài!), thiên-hạ chẳng ai dám tranh tài với ngươi. Bởi ngươi không khoe công-lao, thiên-hạ chẳng ai dám tranh công với ngươi. Ngươi phải lên ngôi Vua cả! Ḷng người đang nguy! Ḷng Đạo đang suy. Phải tinh! Phải chuyên-nhất. Cầm đúng Đạo Trung. Những lời vô-căn-cứ, chớ nghe! Những mưu không bàn-xét chớ theo! Đáng kính yêu, chẳng phải Vua sao? Đáng sợ, chẳng phải dân sao? Dân không Vua đứng đầu, lấy ai mà phụng thờ? Vua không dân, lấy ai mà giữ nước? Kính trọng vậy thay! Cẩn-trọng ngôi Thiên-tử ngươi có! Kính cẩn tu-tŕ đạo-đức. Bốn biển mà khốn cùng, lộc trời sẽ dứt. Vinh nhục do cửa miệng mà ra: thưởng thiện, phạt ác. Trẫm chỉ nói một lần mà thôi! 

       Đế Thuấn và các thịnh-vương đời Tam-đại, không ai là không quư-trọng lịch: ta có thể đọc được văn-bản hoàn-bị nơi các truyện-kư. Tuy đă xa đời thượng-cổ, không biết phép làm lịch thời ây ra sao, lâu lâu cũng phải tùy thời khảo-nghiệm. Lưu Hâm tạo lâp ra lịch Tam-thống và chế ra phép “Tích niên nhật”  để suy bộ. Người đời sau nhân theo đó chẳng cũng quái lạ lắm sao? Thiên-văn “Cái Thiên“ có vận-chuyển không đều nhưng lịch-pháp lại nhất định. Bởi thế nên càng ngày càng sai, đă sai không thể nào không sửa. Kinh Xuân Thu lấy Hối của Nhật-nguyệt-thực và xâm-phạm của ngũ-tinh làm răn. Đời Tấn, Đỗ Dự nói: "Sửa lịch nên thuận trời mà cầu hợp, không phải là hợp để thử thách trời. Chính là như thế vậy". Đời Sơ-Hán các học-giả vẫn c̣n mù mờ về lư của tuế-sai.       

         Để giúp thức-giả muốn đọc trực-tiếp Lịch-thư hay Lịch-chí trong Sử-kư (2AJ, tr. 332-340), Tiền-Hán-thư (1C , tr. 421-424), Hậu-Hán-thư (2K, tr. 207-264), tôi xin giải-mă một vài thông-số hằng-định (1D, tr. 117-125) được gọi là thống-mẫu 統母 cho hai vầng Nhật-Nguyệt và kỷ-mẫu 紀母 cho ngũ-tinh:

Nhật-số  日數 = 81; Chương-pháp 章法 = Chương-tuế 章歲 = 19 năm;

Thông-pháp 通法 = 81x19 = 1539; Nguyên-pháp 元法 = 3x1539 = 4617;

Hội-số 會數 = 3x9 + 2x10 = 47; Chương-nguyệt 章月 = 235 tháng;

Nguyệt-pháp  月法 = 8x13x23 =2392; Hội-nguyệt 會月 = 6345.

       Đến đời Hán Linh-đế (trị-v́ 168-189), thiên-văn-gia Lưu Hồng劉洪, thứ-sử Ngô-quận đất Cối-kê, đến triều từ Thái-sơn, phát-giác ra rằng lịch Tứ-phân sai nhiều lắm. Ông làm việc rất khoa-học: quan-sát và trắc-đạc chuyển-động của mặt trăng và thu lượm được nhiều kết-quả khả-quan như mặt phẳng bạch-đạo và mặt phẳng hoàng-đạo làm với nhau một góc chừng 60 (nay: 508'43"7). Trăng đi nhanh lại mất 27.554756 ngày (nay: 27.554551 ngày). Để cho tốc-độ đều của mặt trời mỗi ngày đúng 1 độ, người Tầu thời đó chia ṿng chân trời làm
                                   
       Thành thử ra không một chỗ nào trong tính toán của ḿnh là ông không dùng phân-số
                                         .
       Tôc-độ trung b́nh của mặt trăng thời đó là 13.25 (nay: 13.4).Do đó mặt trăng đi nhanh hơn mặt trời khoảng 13 lần. Điểm mặt trăng gần trái đất nhất được gọi là điểm cận-địa 近地 (perigee). Thời đó gọi là nhập-chuyển 入轉. Theo định-luất Kepler thứ nh́, măt trăng đi nhanh nhất tại điểm này. Chu-kỳ để mặt trăng đi giáp ṿng rồi trở lại điểm cân-địa được gọi là chuyển cận-địa giác-thực (Anomalistic period), thời đó gọi là chuyển chung 轉終và có trị-số 27.554756 ngày (nay:27,554549878 ngày).

       Lưu Hồng vẫn coi mặt trời b́nh-hành (chuyển-động đều), bèn tính lại các điểm sóc "thật", gọi là định-sóc 定朔. Ông c̣n chế ra phép nội-tháp 內插: ngày nay ta gọi là nội-suy bậc nhất (linear interpolation). Với những ư-niệm thiên-văn và toán-học mới mẻ ây, Lưu Hồng tạo ra lịch Kiền-tượng 乾象歷vào năm Bính-tuất (206) ngơ hầu có thể tính được quỹ đạo của thất-diệu một cách tiện-lợi. Lịch này chỉ được dùng trong 31 năm cho đến khi nhà Hán mất. Sau này tuy phép lịch có đổi, nhưng phép định-sóc vẫn được giữ lại và cải-thiện.

       Trước khi tiếp-tục xin nhắc lại một vài tín-kiện (information) liên-quan đến mặt trăng và Mặt Trời. Khối-lượng Mặt Trời lớn khối-lượng trái đất 332000 lần nên trên thực-tế tất cả khối-lượng hệ-thống Mặt Trời-Trái Đất dồn cả vào trọng-tâm mặt trời nên quỹ-đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời là một h́nh thuẫn (ellipse) phẳng. Tổng-khối-lượng của hệ-thống Trái Đất-Mặt Trăng không đáng kể đối với khối-lượng Mặt Trời, nên nói rằng Mặt Trăng vẽ một h́nh thuẫn quanh Trái Đất chỉ là một cận-tự  近似 (= approximation) cấp 1 (Xin nhớ: vị-tự位似 = homothety). V́ Bạch-đạo làm với Hoàng-đạo một góc i ≈  508', và độ nghiêng ε của Mặt Trăng đối với xích-đạo biến-thiên giữa ε – i và ε + i nên quỹ-đạo của Mặt Trăng là một đường ghềnh (space curve). Gọi S là công-chuyển của mặt trăng trong vũ-trụ và  Σ là công-chuyển của nó quanh trái đất (tuần trăng): công-chuyển thứ nhất sẽ nhanh hơn công-chuyển thứ hai. Do đó trong một năm vũ-trụ A, số công-chuyền vũ-trụ sẽ nhiều hơn số công-chuyển quanh trái đất một lần. Ta có:

       Do đó chu-kỳ vũ-trụ của mặt trăng là:

       

       Suy ra tốc-độ góc của mặt trăng mỗi ngày là:

                                               

       Tốc-độ góc của mặt trời mỗi ngày là: n = 3548”. Do đó N/n = 47434/3548 = 13.37: trên thiên-cầu, mặt trăng di-chuyển nhanh hơn mặt trời già 13 lần. Nửa đêm ngày mùng một, ngày mặt trời và ngày mặt trăng đồng-khởi. Hăm bốn giờ sau, trái đất phải quay hơn 3600 để bắt kịp chuyển-động biểu-kiến của mặt trời trên hoàng-đạo. Ta vừa thấy mặt trăng di-chuyển nhanh hơn mặt trời nhiều, nên chuyển-động của nó chưa hoá-giải được chuyển động quay của trái đất và ngày mặt trăng lúc đó chưa chấm dứt. Nói khác đi, ngày mặt trăng dài hơn ngày mặt trời. Sau đồng-khởi ban đầu, Mặt Trăng và Mặt Trời sẽ tụ-hôi ngày sóc kế tiếp. Do đó mỗi tuần trăng sẽ có 1 ngày mặt trăng ít hơn số ngày mặt trời. Do đó:

29.530588853 ngày mặt trời = 28.530588853 ngày mặt trăng

và  một ngày mặt trăng dài 1.0350501 ngày. C̣n chuyển-hồi  là thời gian Trăng đi trọn một ṿng bạch-đạo. Chuyển-ứng là thời-khoảng giữa điếm Đông-chí năm gốc và điểm nhập-chuyển liền trước nó. Sau hết, nhuận-ứng là thời-khoảng giữa điểm Đông-chí năm gốc và điểm sóc (lúc hai vectơ nhật-kính và nguyệt-kính trùng nhau) liền trước đó. 

       Thời Tam-quốc Ngụy (220-265) Thục (221-263) Ngô (222-280), kế tiếp thời Hậu-Hán (25-220), nước Ngô có Vương Phan 王蕃mô tả vũ-trụ thiên-văn đương-thời. Bài của ông được bảo-tồn trong Toàn Thượng Cổ Tam-đại Tần Hán Tam-quốc Lục-triều Văn 全上古三代秦漢三國六朝文, thiên Tam-quốc Văn, chương 72, tr. 1a-5b. Người thời cổ cho rằng trời đất như một quả trứng chim: trời bọc đất như vỏ trứng bao lỏng đỏ. Trứng tṛn nên phải xoay. Từ đó họ suy ra ư niệm thiên-cầu. Ṿng chân trời được chia thành:
            
như thấy bên trên, tính tṛn là
            
        Không ai biết chu-vi vũ -trụ là bao nhiêu. Hai sách Lạc-thư Chân Diệu Độ
洛書甄曜度  và Xuân Thu Khảo Dị Bưu 春秋考曜郵 chép rằng chu-vi vũ-trụ là 1071000 dặm, tức thị mỗi độ xưa  ứng với

         Vùng Tú Đẩu, một phần của Đại-hùng-toạ, dài già 733 dặm 17 bộ 5 thốn 1 phân 8 ly. Ta biết rằng 1 dặm là 300 bộ, 1 bộ = 6 thốn, 1 thốn = 10 phân. Quỹ-đạo tam-quang (Nhật, Nguyệt, Bắc-đẩu) rất mù mờ. V́ vậy nên các lịch-gia khi tính lại lịch ḿnh, họ sẽ vấp phải vài bất-hoà-hài. Người xưa gọi điểm đông-chí là khí-ứng 氣應. Người đời Tần Hán đă biết là điểm này di-động trên hoàng-đạo từ Đông sang Tây tức là theo chiều lượng-giác: từ vùng Tú Hư đời Đế Nghiêu nó đă lần sang vùng phụ-cận Tú Ngưu thời đó, nhưng họ không hiểu tại sao (Xin xem lại h́nh Tiểu-thiên-đồ Xuân Hạ Thu Đông 2.6, 2.7, 2.8 và 2.9 nơi Chương 3: Thiên-văn Lịch Toán 1) . Phải đợi đến đời Đông-Tấn (317-420) mới có Ngu Hỉ 虞喜nhận xét rằng điểm xuân-phân γ, giao-điểm của hoàng-đạo với xích-đạo không cố-định (năm canh-dần tức 330), làm cho ba điểm giữa mùa c̣n lại (các điểm hạ-chí, thu-phân và đông-chí) cũng di-chuyển theo. Đó là tuế-sai như ta đă biết.

       Sang đời Lưu Tống (420—479) của Nam-triều (3C, 3F),  Hà Thừa Thiên 何承天 (370-447) dùng tuế-sai để chỉnh khí-ứng, tính tuế-thực chính-xác hơn  là
 

và sóc-thực là 29.530585 để tạo ra lịch Nguyên-gia 元嘉 vào năm quư-mùi (443).

Sau đó ít lâu, khoa-học-gia kiêm toán-gia tài-ba Tổ Xung Chi 祖沖之 (429-500), tự Văn-viễn 文遠 của Nam-Tề (479-502), có chế ra vài khí-cụ thiên-văn, trắc-đạc cẩn-thận, đặt phép tính mới để cải-thiện lịch Nguyên-gia. Ông đă phân-biệt năm vũ-trụ với năm tiết-khí và nhận thấy rằng tuế-sai khoảng 46 năm dời sang phía tây 1 độ xưa (kỳ thực là 70.7 năm dời một độ

một chu-kỳ mới gắn bó sóc-thực với năm tiết-khí tức tuế-chu: 391 năm tiết-khí = 4836 tháng, trong đó 144 tháng nhuận. Sai-số tỷ-đối là 10-6, quá giỏi. Ta thử hỏi là ông lấy hai số 391 và 144 ở đâu ra ? Hiển nhiên ông đă lần lượt chia tử-số và mẫu-số của phân-số mũ cùa 12 vừa kể cho ước-số chung lớn nhất (GCD) của  chúng.

       Hoá ra vậy. Cuối cùng ông tổng-hợp tuế-thực và sóc-thực đă tính và chu-kỳ 391 năm này để tạo ra lịch Đại-minh 大明, năm Đại-minh thứ 7 tức quư-măo (463). Ông dâng lên vua nhưng bị một đại-thần được Hiếu–Vũ-Đế sủng-ái tên là Đới Pháp Hưng 戴法興ganh ghét nên bảo là họ Tổ tư-thị cải biến cổ-lịch, là một hành-vi "sai kinh trái đạo". Ông đáp : tân-lịch không dựa vào quỷ-thần mà chỉ căn-cứ vào quan-sát cẩn-mật và tính toán tinh-xác, mọi người cần nghe và thấy chứng-minh để hiểu sự thật và dữ-kiên. Để bênh ho Đới vua cho vời một số người biết lịch-pháp lại tranh-luận với họ Tổ nhưng thợ làm múa ŕu qua mắt Thầy được. Hiếu-vũ-đế thăng-hà năm giáp-th́n (464). Tổ Xung Chi cũng từ-quan lui về với toán và khoa-học. Họ Đới vẫn tiếp-tục thuyết-phục người kế-vị ông không dùng tân-lịch. Do đó 47 năm sau lịch ấy mới được dùng, đúng mười năm sau khi ông mất.  

       Chu-kỳ 391 năm dài quá nên không bao giờ thực-dụng. Huống hồ lịch bị đổi nhanh hơn ngơ hầu tiên-đoán được nhật-thực và nguyệt-thực. Từ thời Xuân Thu, người Tầu đă biết hai thiên-tượng này chỉ có thể xẩy ra tại vùng phụ-cân của nút lên (La-hầu) và nút xuống (Kế-đô) của mặt trăng. Chu-kỳ để mặt trăng trở lại một trong hai nút ấy được gọi là giao-chuyển 交轉 (draconitic period). Tổ Xung-Chi đă suy-đạc ra được chu-kỳ này là: 27.21223 ngày (nay: 27.212220817 ngày) Tài thật! V́ sai-số tỷ-đối chỉ bằng 0.5 x 10-6. Ông đă dùng chu-kỳ này để tiên đoán đúng nhật-nguyệt-thực bốn lần trong thời khoảng 23 năm (từ năm 436 đến năm 459).

       Ông cũng tính ra được tuế-thực mộc-tinh là 11.858 năm Địa-cầu (nay: 11.862). Quả thực ông đă mở một kỷ-nguyên mới cho Thiên-văn-sử và Lịch-pháp-sử Trung-quốc (THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN SỬ, nói theo danh-từ hiện-đại).

       Đời Xuân Thu Chiến Quốc số p  được định-nghĩa bằng "Chu Tam Kính Nhất" (chu-vi h́nh tṛn bằng 3, đường kính chỉ bằng 1). Đời Ngụy (220-265) Lưu Huy 劉徽cho nó trị-số 3.14 bằng cách đo chu-vi một đa-giác đều 96 cạnh nội-tiếp của ṿng tṛn. Tổ Xung Chi đă dùng một đa-giác đều 16384 (= 1012) cạnh và khai-căn hằng trăm lần với 10 số lẻ. Xin bái-phục! Ông đă t́m được hai bất-đẳng-thức, một ở ước-cấp 1, một ờ ước-cấp 2:


thiên-kỷ
trước toán-gia Hoà-lan Adriaan Anthoniszoon. V́ vậy nên năm 1913, Yoshio Mikami, tác-giả sách Development of Mathematics in China and Japan, mới đề-nghị đặt tên phân-số này là phân-số Tổ Xung Chi, Hán-văn gọi là Tổ-suất
祖率. Toán-gia Martzloff cho rằng ông t́m ra được phân-số biểu-thị p  là nhờ gặp may. Đối với kỳ-tài không có ǵ là gặp may cả. Muốn biết từ đâu ông t́m ra phân-số này xin xem Bài Tập trá h́nh 1 bên dưới. 

       Ông c̣n phát-kiến được nhiều điều kỳ-lạ khác về toán, như nguyên-lư Cavalieri chẳng hạn, mà toán-gia Ư Francesco Bonaventura Cavalieri (1598-1647) phát biểu cả ngàn năm sau. Nguyên-lư này nằm trong tác-phẩm Chuế-thuật 綴術thất-truyền từ Đời Nam-Tống mà ông viết ra cùng với con ông, toán-gia Tổ Hản 祖暅. Nguyên-lư Tổ Hản ấy, kỳ thực là hai định-lư, một về h́nh-học phẳng (Định-lư I), một về h́nh-học không-gian (Định-lư II) mà ta có thể phát-biểu như sau:

       Định-lư I: Trong một mặt phẳng nếu ta giới-hạn hai vùng bằng hai đường song song ngang và nếu ta cắt ngang bằng một đuờng song song với chúng và nếu ta được hai đoạn thẳng dài bằng nhau, th́ hai vùng xét có cùng diện-tích.

       Định-lư II: Nếu hai khối có chung đáy và có cùng chiều cao và mọi thiết-diện phẳng song song với đáy chung có cùng diện-tích, th́ hai khối đó có cùng thể-tích.

  (Tổ Xung Chi tóm tắt gọn lỏn: diện-tích đă bằng, thể-tích khó khác). 

       Do những công-tŕnh toán-học và thiên-văn của ông, nên Viện Hàn-lâm Nga mới lấy tên ông (Zu Chong Zhi) để đặt tên cho một hoàn-đới-sơn (crater) sau ót Chị Hằng. Xin xem mục Sau Gáy Chi Hằng nơi cuối bài.

           Tử Kim-sơn Thiên-văn-đài 紫金山天文台 ở ngoại-ô Nam-kinh cũng lấy tên ông đặt cho tiểu-hành-tinh VO1 trong Ṿng Đai Chính (Main-belt asteroid), họ khám-phá được ngày 9.11.1964 là 1888 Zu Chong-Zhi. Ông có để lại cho hậu-thế ba tác-phẩm: Dịch Lăo Trang Thích-nghĩa 易老莊釋義, chú Luận-ngữ 論語và Hiếu-kinh 孝經 chú-thích Cửu Chương Toán Thuật. Ông cũng là một kỹ-sư đại-tài. Ông chế lại được chỉ-nam-xa cho người ngồi trong xe chỉ nh́n khối đồng là biết được phương nam, bất chấp người bên ngoài xoay vần dữ-dội xe này. Ông tân-tạo ra thiên-lư-thuyền 千里船 và có cho chạy thử trên sông Tân-đ́nh 新亭江, ỏ về phía tây-nam thành Kiến-khang (tức thành-phố Nam-kinh thuộc tỉnh Giang-tô ngày nay): kết quả mỗi ngày thuyền đi được khoảng trăm dặm. Cuối cùng, ông tái-tạo được ”Mộc ngưu Lưu Mă 木牛流馬của Khổng-minh Gia-cát Lượng 孔明諸葛亮, tức thị một loại xe vận-tải tự-động thời Tam-quốc không cần mượn sức đẩy của gió hoặc nước. Ông cũng sáng-chế ra cái cối giă gạo dùng ḍng nước mà ông mệnh-danh là thủy-đối-ma 水碓磨.

 

 

    Xem tiếp Kỳ 11

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com