www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

 3   |   4   |   5 

6   |    7   |   8

  9   |   10  |   11

  12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 6)

 

II XUÂN TỪ TRONG ẤY...

 Trong câu thơ Tú Xương 'Xuân từ trong ấy mới ban ra', 'trong ấy' nghĩa là Kinh-đô Huế, c̣n xuân nghĩa  là Lịch Hiệp-kỷ 協紀, được dùng tại Việt-Nam từ năm Gia-long thứ 12 tức năm Quư-dậu (1813). Tên Hiệp-kỷ này vốn có từ năm Kỷ-măo (1339), dưới triều Vua Trần Hiến-Tông, thể theo lời tâu của quan Thái-sử Cục-lệnh Nghi-hậu-lang Đặng-Lộ 鄧輅. Thời Vua Lê Chúa Trịnh ở ngoài Bắc, Lịch Ta được gọi là Khâm-thụ , phỏng theo Lịch Thụ-th́ của Nhà Nguyên ( 2AD, tr.253-254; 2AN, tr. 78-80), như ghi trong thiên Lễ-nghi-chí 禮儀志trong Lịch-triều Hiến-chương Loại-chí chí của Phan Huy Chú 潘輝注 (1782-1840). Chúa Nguyễn trong Nam cũng dùng Lịch này. Sau khi thống-nhất sơn-hà (1802), Vua Gia-long mới chính-thức ban Lịch Vạn-toàn 萬全, phỏng theo Lịch Th́-hiến của Nhà Thanh ( 2AG, tr. 44-48). Lịch này khá hơn Lịch Thụ-th́ và Lịch Đại-thống của Nhà Minh v́ dùng các công-thức lượng-giác (mà người xưa Tầu cũng như Ta gọi là Tam-tuyến Bát-giác 三線八角), thay v́ các công-thức đại-số bậc ba không chính-xác bằng.

Cuốn Lịch Hiệp-kỷ cuối cùng của Triều Nguyễn được ban-hành năm Ất-dậu (1945) tức năm Đại-Nam Bảo-đại thứ 20. Xin xem mẫu Lịch Hiệp-kỷ năm Giáp-thân (1944) nơi giữa sách của Cụ Hăn (2AG, tr. 99-101). Sau này, trong Nam ta có Lịch Tam-tông-miếu vẫn theo sát phép Lịch Hiệp-kỷ.

Người là một con vật ṭ ṃ (Blaise Pascal). Hồi c̣n nhỏ, chúng ta ai mà chẳng muốn biết tại sao lại chọn ngày Mùng Một tháng giêng là lúc tiết trời c̣n giá lạnh ở ngoài Bắc Việt-Nam, làm ngày đầu năm và muốn t́m hiểu về 'Lịch Ta' và 'Lịch Tàu', c̣n gọi là 'Nông-lịch 農歷', hay Âm-dương Hợp-lịch 陰陽合歷, nghĩa  là lịch phối-hợp năm có bốn muà Xuân, Hạ, Thu, Đông và tám tiết chính (bát-tiết八節) trong 24 tiết-khí 節氣với ngày có sáng có tối của mặt trời, và với tháng có trăng mới (Sóc ), trăng tṛn (vọng ), tháng đủ (30 ngày), tháng thiếu (29 ngày) của mặt trăng. Sách Tự-Đức Thánh-chế Tự-học Giải-nghĩa -ca 嗣德聖製自學解義歌 (2AM, Nôm tr. 29, QN, tr. 179) của Vua Dực-tông (1829-1883) có câu:

Nguyệt mặt trăng, nhật mặt trời,

Chiếu soi lâm tới thế đời niên năm.

Sóc mồng một, vọng ngày rằm,

Trú ngày, hối tối, đồ nhem, minh mờ.

Sau này, nhờ có học Cơ-học Thuần-lư (Theoretical Mechanics) là môn học về chuyển-động của mọi cố-thể và đọc thêm sách về Cơ-học Thiên-thể (Celestial Mechanics) là môn học về chuyển-động của các thiên-thể (mặt trời và trăng sao), và có đọc các thiên ‘Luật-lịch-chí’   trong Sử-kư của Tư-mă Thiên (2AJ, Lịch-thư đệ-tứ, tr. 332-340), Tiền-Hán-thư (1C, tr. 401-435) của Ban-Cố (và của em gái ông là Ban Chiêu), Hậu Hán-thư của Phạm-Diệp (2K, tr. 207-264) và Tùy-thư (2AK, tr. 211-268) của nhóm Trưởng-tôn Vô-Kỵ, tôi lại càng mê lịch hơn. Hồi c̣n làm ủy-viên toán-khoa-kỹ trong 'Ủy-ban Quốc-gia Soạn-thảo Danh-từ Khoa-học', do GS Lê Văn Thới làm chủ-tịch, khoảng 1968-1969, có lần tôi có bàn với GS Nghiêm-Toản về chuyện 'luật-lă' ,  tức là 12 nguyệt-lệnh áp-dụng chung cho âm-nhạc, âm-vận và lịch-pháp. Sau đó, GS có tặng tôi một bài giảng về 'Luật-lă' tại Đại-học Văn-khoa Sài-G̣n.  Bấy giờ tôi mới thấy 12 cung điạ-bàn lợi-hại thật: người xưa v́ tiết-kiệm nên mọi quỹ-đạo của mặt trời trăng sao đều của bắc bán-cầu đều được chiếu xuống mặt phẳng xích-đạo của Thiên-cầu như thấy trong biểu nhất-lăm rút gọn sau đây:

Số

Thứ

T

Chi

Ṿng

Hoàng

Đạo

Cung

Bàn

Tử-vi

Con

Giáp

Tháng

(Kiến
Dần)

Luật

Nốt

Nhạc

Giờ

Can

Chi

Ngũ-

Hành

01

Bảo-  B́nh

Đế-

Toạ

Chuột

Một

Hoàng

Chung

Do

11PM-

01AM

Thủy

02

Sửu

Ma- Yết

Hoàng

Tuyền Sát

Trâu

Chạp

Đại-

Do#

01AM-

03AM

Thổ

03

Dần 

Nhân-Mă

Quỷ-

 Lộ 

Hổ Cọp

Giêng

Thái- Thốc  

Re

03AM-

05AM

Mộc 

04

Măo 

Thiên-Hiết 

Lôi-Cung 

Mèo

Hai 

Giáp- chung 

Re#

05AM-

07AM

Mộc 

05

Th́n 

Thiên-Xứng

Thiên- La  

Rồng

Ba

Cô-tẩy

Mi

07AM-

09AM

Thổ 

06

Tỵ 

Song Nữ

Điạ-Hộ

Rắn

Trọng-lă

Fa

09AM-

11AM

Hỏa

07

Ngọ

Sư-tử

Đoan-

Môn

Ngựa

Năm

Nhuy-

tân

Fa#

11AM-

01PM

Hỏa

08

Mú

Cự-Giải

Quảng
Hàn Cung

Sáu

Lâm-chung

Sol

01PM-

03PM

Thổ

09

Thân

Vân-Dương

Thần-

Môn

Khỉ

Bảy

Di-tắc

Sol#

03PM-

05PM

Kim

10

Dậu

Kim-Ngưu

Phật-Cảnh

Tám

Nam-lă

La

05PM-

07PM

Kim

11

Tuất

Bạch-dương

Điạ-Vơng

Chó

Chín

-
dịch

La#

07PM-

09PM

Thổ

12

Hợi

Song-ngư

Thiên-Môn

Heo

Mười

Ứng-chung

Si

09PM-

11PM

Thủy

Bảng 3.1 - Biểu Nhất-Lăm 12 Chi
 

Trong bảng này, tên các cḥm sao ṿng hoàng-đạo là tôi lấy theo các sách Nôm thời Vua Tự-Đức trở về trước. 

Trung-Hoa đă có lịch rất sớm, khởi đầu bằng lịch Can-Chi    phôi-thai từ thời Hoàng-đế (căn-cứ vào các bản đất sét nung c̣n tàng-trữ tại Đại-học Yên-kinh), lên ngôi năm Giáp-tí (2697 BC), tương-ứng với thời Kinh-Dương-vương Lộc-Tục ở Nước ta (nên nhắc lại Kinh-châu và Dương-châu là 2 châu phương Nam trong cửu-châu của Cổ Trung-hoa, nghĩa  là cương-vực của Cổ-Bách-Việt ), và Âm-dương Hợp-lịch đă có từ thời Vua Nghiêu (lên ngôi năm Giáp-th́n, 2357 BC), căn-cứ theo Thiên Nghiêu-điển trong Kinh Thư, vừa hoàn-thành phỏng theo Quy-lịch của Hùng-vương thứ 3 tức Hùng-quốc-vương Lân Lang, căn-cứ vào chi-tiết "Thuật dị kư 述異記" trong sách Thông-chí 通志 (2AL, Q II, Ngũ-đế-kỷ đệ-nhị, Chí #35, tr. 224) của sử-gia Trung-quốc Trịnh-Tiều 鄭樵 (1104-1162):

          Đào Đường chi thế, Việt-thường-quốc hiến thiên-tuế thần-quy, bối thượng hữu văn, giai khoa-đẩu-thư, kư khai-tịch dĩ lai, Đế mệnh lục chi, vi chi Quy-lịch. 陶唐之世, 越裳國獻千歲神龜,背上有文,皆科斗書,記開闢以來,帝命錄之,謂之龜歷。Đời Đào Đường (Vua Nghiêu), nước Việt Thường dâng thần-quy ngàn tuổi, trên lưng có văn, đều là chữ khoa-đẩu (trông giống con ṇng nọc), chép việc từ thuở khai thiên tịch-địa đến bấy giờ, Đế sai chép và gọi là "Lịch Rùa". 

Ngoài ra, họ c̣n có Lịch Vận-khí   chỉ dùng trong Đông-y.  

Dân ta vốn dĩ sống về nghề nông : 'Nhất sĩ nh́ nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nh́ sĩ'’. Nói đến muà-màng của nhà nông là phải nói đến thời-tiết. Thời (nguyên-âm là th́, sau vi kỵ húy Vua Tự-Đức nên đổi là thời) nguyên nghĩa  là muà (như tứ-thời là bốn mùa), và tiết (từ đó suy ra tiếng Tết) bao gồm cả tiết trời quanh năm lẫn tiết-tấu vần-vụ của Thái-dương-hệ trong bầu trời tinh-tú. Ca-dao có câu : 

Người ta đi cấy lấy công,

Tôi đây đi cấy c̣n trông nhiều bề.

Trông trời, trông đất, trông mây,

Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.

Trông cho thân cứng lá mềm,

Trời êm bể lặng mới yên tấm ḷng.  

Lịch làm ra cốt phục-vụ nhà nông nên phải dựa vào chuyển-động tương-đối của Mặt Trời, Mặt Trăng đối với Trái Đất và các định-tinh mà quan-trọng nhất là tiểu-hùng-tọa có chứa sao bắc-đẩu.

Về phiá Mặt trời, chu-kỳ một năm (Hán-văn gọi là tuế-chu 歲周 hay tuế-thực歲實) là 365.24220 ngày được chia thành bốn muà và tám tiết chính như trong vế câu đối của Tam-nguyên Yên-đổ 'Tứ thời bát-tiết canh chung thủy' 四時八節更終始. Tứ-thời chỉ bốn muà biểu-trưng bằng bốn quẻ kép Chấn s, Ly ^, Đoài z, Khảm ], c̣n bát-tiết chỉ tám tiết chính của Mặt Trời đánh dấu đầu muà (Lập-xuân, Lập-hạ, Lập-thu và Lập-Đông) và giữa muà (Xuân-phân, Hạ-chí, Thu-phân, và Đông-chí), biểu-trưng bằng các Hào Sơ và Tứ bốn quẻ nêu trên và biểu-hiện bằng tám điểm mốc trên ellipse Hoàng-đạo (Ecliptic) mà các tia vectơ kế-tiếp làm với nhau một góc 450 và chúng ta có thể xác-định dễ-dàng bằng Công-thức Binet của Động-học (Kinematics) hoặc bằng Định-luật Képler thứ ba (T2 = 4π2a3/MG, T là sóc-thực, M là khối-lượng trái đất, a là khoảng cách giữa trái đất và mặt trăng, và G là hằng-số vạn-vật hấp-dẫn) của Cơ-học Thiên-thể được hiện-đại-hoá nhờ lư-thuyết độc-đáo của Hamilton-Jacobi trong đó mọi vi-thể đều được coi như sóng ! Chính nhờ đó mà ta mới hiểu nghĩa vật-lư của phương-tŕnh chính-tắc của Cơ-học Thuần-lư và mới bắt sang học thoải mái Toán Biến-thiên (Variational Calculus) áp-dụng cho Cơ-học Nguyên-lượng (Quantum Mechanics). Lời ông bạn quá-cố Từ-Khiết tưởng chừng như c̣n văng vẳng bên tai! 

Về phía Mặt Trăng, với chu-kỳ trung-b́nh hiện thời là 29.530589 ngày, Hán-văn gọi là sóc-thực 朔實, Cụ Hăn gọi là sóc-sách ( 朔策 viết theo Nguyên sử), nên phải có tháng đủ 30 ngày và tháng thiếu 29 ngày. Nếu ta lấy bội-số chung nhỏ nhất của hai chu-kỳ Nhật/Nguyệt, ta sẽ được đúng 19 năm (chương-tuế 章歲 tức chu-tŕnh Meton) ứng với 235 tuần trăng (chương-nguyệt 章月 ). Số thừa của phép chia 235/19 là 7, cho ta thấy rằng trong 19 năm có 7 tháng nhuận (nhuần) là các năm  niên-số abcd chia cho 19 có số thừa là: 0, 3, 6, 9, 11, 14, và 17. C̣n muốn biết năm nào nhuận tháng nào, xin đọc Bài "Lịch Tầu" bên dưới. Vd : các năm 1995 (Ất-hợi), 1998 (Mậu-dần), 2001 (Tân-tỵ), 2004 (Giáp-thân), 2006 (Bính-tuất), 2009 (năm nay : Kỷ-sửu), 2012 (Nhâm-th́n), và 2014 (Giáp-ngọ) v́ các năm này chia cho 19 số thừa lần lượt là : 0, 3, 6, 9, 11, 14, và 17 (kiểm!). Thông thường tháng nhuận chỉ  có sơ-tiết mà không có trung-khí. Bài Mười Ba Con Giáp bên dưới sẽ đề-cập ngoại-lệ. Bên Tầu thời xưa, ngày sóc năm nhuận, Vua không làm lễ Cốc-sóc như đầu các tháng thường khác, mà chỉ đứng ở cửa Cáo-miếu chứ không bước vào bên trong. Do đó chữ nhuận  được viết với chữ vương (Vua) đứng dưới chữ môn  (cửa). Tương-tự, chữ náo (ồn ào) được viết với chữ thị (chợ) đứng trước chữ môn. Bây giờ ta có quyền nói : Thị tại môn tiền náo, vương lai môn hạ nhuần 市在門前鬧,王來門下閏

Ngoài ra ngày đầu tháng (Mùng một) phải là ngày trăng mới, bắt đầu bằng thời-điểm Mặt Trời, Mặt Trăng và Quả Đất tụ-hội nghĩa  là thẳng hàng nhất (Conjunction) và ngày giữa tháng trăng tức ngày rằm phải là ngày trăng tṛn. V́ tuần trăng 29 ngày có lẻ nên thời-điểm tụ-hội có thể rơi vào bất-kỳ giờ phút nào trong ngày đưa đến mâu-thuẫn tiêu-chuẩn định ngày Mùng Một trong Lịch Ta và Lịch Tàu. Trên nguyên-tắc, ngày Mùng Một sẽ là ngày trong đó thời-điểm tu-hội gần nửa đêm nhất. Thời-điểm ấy đựợc gọi là Thiểu   nếu nhằm buổi sáng và Nục nếu nhằm buổi chiều, đúng theo định-nghĩa  của câu lục-bát trong Tự-Đức Thánh-chế Tự-học Giải-nghĩa -ca (2AM, Nôm tr. 31, QN, tr. 182) của Vua Dực-tông:

Nục là bữa sóc trăng non,
          Thiểu là bữa hối trăng c̣n mái tây.
 

Theo Thiết-vận-khảo, Đường-vận, Quảng-vận v.v. chữ đọc là Thiểu (Thổ + Liễu). Các chữ Nục, Thiểu được dùng nhan-nhản trong các sách Tiền-, Hậu-Hán-Thư, Tùy-thư hay Hoàng-cực Kinh-thế Thư-truyện. 

Xin nhắc lại là Thiên-văn Á-Đông xưa chia các sao trong ṿng Bắc-cực-khuyên (Circumpolar stars) và cả các sao trong ṿng Hoàng-đạo thuộc nửa múi cầu liên-hệ trong thiên-cầu được chiếu xuống mặt phẳng xích-đạo thành 12 cung từ Tí đến Hợi. Chuôi sao Bắc-đảu trong Tiểu-hùng-toạ (Ursa Minor) chỉ vào cung Tí th́ gọi là Kiến-Tí, chỉ vào cung Sửu th́ gọi là Kiến-sửu, chỉ vào cung dần th́ gọi là Kiến-dần, chỉ vào cung Hợi gọi là Kiến-hợi. Kể từ đời Hán đến nay Âm-lịch chọn Kiến-dần làm tháng giêng. 

Âm-dương Hợp-lịch biến-đổi theo Triều-đại: Nhà Hạ lấy Kiến-Dần làm tháng Giêng, Nhà Thương/Ân lấy Kiến-Sủu làm tháng Giêng, Nhà Chu lại lấy Kiến-Tí làm tháng Giêng. Nhà Tần lại lấy tháng Hợi làm tháng giêng. Kể từ Nhà Hán trở đi, tháng Kiến Dần mới nghiễm-nhiên được chọn làm tháng giêng. Cuộc cải-tiến lịch đầu là việc băi bỏ Lịch Chuyên-Húc năm Đinh-sửu (104 BC), đời Hán Vũ-Đế. Lịch ấy mang tên Thái-sơ, đế-hiệu mới của Hán Vũ-Đế. Sử-gia Tư-mă Thiên (145-78 ?) tạo ra Lịch Tứ-phân  四分  (1 năm = 365 1/4 ngày), c̣n Lưu-Hâm (#46 BC-23) tổng-hợp ra Lịch Tam-thống dùng Kinh Dịch một cách triệt-để, nhưng dùng thiên-văn lịch-tượng một cách tối-thiểu. Sau này, Đời Nguyên và Đời Minh đều dùng Lịch Thụ-th́. Trên nguyên-tắc Đời Minh có đặt ra Lịch Đại-thống 大統 nhưng trên thực-tế họ vẫn dùng Lịch Thụ-th́, sửa đổi chút ít để chỉnh tuế-sai cho hợp với giáp-tí đương-quan. Đời Thanh lại đặt ra Lịch Th́-hiến với sự giúp đỡ của các linh-mục Ḍng Tên (Xem Bài "Lịch Tầu" bên dưới).

Ngày nay tại các nước Á-Đông những ai c̣n nặng nghiệp bói toán (Tử-vi, Tử-B́nh, Hà Lạc Lư-số, Kỳ-môn Độn-giáp, Lục Nhâm Đại-độn, Thái Ất Thần-kinh, Thiết-bản Thần-số, Quả Lăo Tinh-tông, Tinh-b́nh Hội-hải, Bốc Dịch …), vẫn phải dùng đến Vạn-niên-lịch (VNL) hay Bách-trúng-kinh 百中經 (cho các năm từ 1624 đến 1799) có ghi đầy đủ ngày sóc, ngày vọng và các chi tiết về Lịch Can Chi (LCC), nghĩa  lả cả năm, tháng, ngày giờ đều dùng Can Chi. Để quư độc-giả không có VNL, tôi xin tŕnh bầy luôn vài công-thức đại-số cây nhà lá vườn để đổi dương-lịch (DL) ra LCC.

Dưới đây tôi sẽ đưa ra một phương-thức dễ hiểu, dễ nhớ, và dễ dùng hơn nhiều, tuy rằng hồi cuối thập-niên 1960 tôi đă tŕnh làng hai cách tính ngắn gọn, một để tính số thứ-tự σ của Can-Chi κχ trong Hoa-Giáp (ω = 60 năm), và một đề đổi DL ra năm α, tháng β, ngày  γ, giờ δ  trong LCC. 

Can

Giáp

Át

Bính

Đinh

Mậu

Kỷ

Canh

Tân

Nhâm

Quư

 

 

κ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10A

   

Chi

Sửu

Dần

Măo

Th́n

Tị

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

χ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10A

11B

12C

Trong bảng này các chữ A, B, C ám-chỉ các số 10, 11, 12 trong cơ-số-hệ 16 (Hexadecimal, viết tắt là HEX) quen-thuộc của Điện-Toán. Như vậy, can κ là một số nguyên dương thỏa bất-đẳng-thức: 1 κ 10 Amod 10 với 'đẳng-thặng hiệu-chính' 等剩效正 10 (Amod 10) có nghĩa  là phải cộng thêm 10 mỗi khi trở thành âm, và trừ bớt 10 khi κ > 10 (Khi bằng 10 th́ khỏi trừ). . Tương tự χ một số nguyên dương thỏa bất-đẳng-thức: 1 χ 12 Amod 12 với đẳng-thặng hiệu-chính 12 (Amod 12) có nghĩa  là phải cộng thêm 12 mỗi khi trở thành âm, và trừ bớt 12 khi  χ > 12 (Khi bằng 12 th́ khỏi trừ). Tương-tự, số thứ-tự σ của can-chi trong một Hoa-giáp là một số nguyên dương thỏa bất-đẳng-thức: 1 σ 60 với 'đẳng-thặng hiệu-chính' 60 (Amod 60), có nghĩa  là phải cộng thêm 60 khi trở thành âm, và trừ bớt 60 mỗi khi σ > 60 (Khi bằng 60 th́ khỏi trừ). Trong hệ-thống Việt Chi, ta có hệ-thức cho σ tính theo can  κ   chi χ :

σ 6 κ –  5 χ

dĩ nhiên là với 6 κ Amod 10 5 c   Amod 12.

Trong Y-Dịch, can và lục-phủ 六腑(+6) [vị (da-dày = bao-tử), đảm (mật), tam-tiêu三焦, bàng-quang 膀胱(bong bong = bọng đ…), đại-trường 大腸(ruột già), tiểu-trường小腸 (ruột non)] là dương, c̣n chi và ngũ-tạng (-5) [tâm (tim), can (gan), t́ (lá lách), phế (phối), thận (trái cật)] là âm. Người b́nh-dân miền Namthường bảo tam-tiêu là: ngực, bụng đ́. Chúng ta sẽ trở lại vấn-đề gây cấn này nơi CHƯƠNG 22:  Y-DỊCH LƯỢC-KHẢO.

 

 

    Xem tiếp Kỳ 8

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com