www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

 3   |   4   |   5 

6   |    7   |   8

  9   |   10  |   11

  12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 02

 

TAM ĐẠI DỊCH

 


 (Tiếp theo Kỳ 3)

     Thật vậy, nếu ta dùng công-thức Việt Chi (Xem Phụ-lục III) cho những năm tiền-công-nguyên (BC), ta có, trong cơ-số-hệ thập-lục-phân (HEX):

Năm 1 (mn = Tân-dậu = 8A) được dùng làm gốc cho các năm B.C. Gọi tuyệt-trị một năm là abcd, như năm nay là 2009. Các năm B.C. được tính bằng công-thức:

κ ≡ m - d  (Amod 10)   và  χ ≡  n - abcd  (Amod 12)       

trong đó κ là can sở-quan (DEC), χ là chi sở-quan (HEX) và Amod là hàm-số đẳng-thặng chỉnh-đốn (Adjusted remainder function) của LISP, tức Quư là 10, Hợi là 12 chứ không phải là 0. Ta có:

     κ = 8 - 3 = 5 (Mậu)   và    χ = 10 - (1953 Amod 12) = 10 - 9 = 1 (Tí).

V́ chuyện xẩy ra Triều Nhà Hạ, nên tháng giêng Kiến Dần:

κ := 2 κ + 1 = (2 x 5  + 1)  Amod 10 = 1 (Giáp).

Vậy là tháng Giáp-Dần. Nên biết ngày 1.1.1 đầu Công- nguyên là ngày Mậu-Dần với số thứ-tự trong hoa-giáp là σ1 = 15. Mà TCN tây-phương theo lịch Julian và Trung- Hoa theo Lịch Tứ-phân, cả hai lịch đều có năm dài 365.25 “ngày mặt trời trung-b́nh”. Cho nên thời khoảng từ 5.3.1953 B.C. đến 1.1.1 A.D. là:

               365.25 x 488 + 302 = 178 544 = 2975 x 60 + 44,

 có nghĩa ngày can-chi muốn t́m có số thứ-tự trong hoa-giáp là:

 σ2 = 60 + 15 - 44 = 75 - 44 = 31 (Giáp-Ngọ).     QED

Mới đây nhân thử dùng nhu-liệu Voyager III của hăng NET Engineering ở Pavia, Italy, để tính Sóc gần các ngày Thất-tinh Tụ-hội lịch-sử tôi khám-phá ra hai điều quan-trọng: Sử-kiện cũng như nhu-liệu của Kevin Pang và John Bangert không được đích xác nên ta cần hiệu-chính. Ta có dùng hai nguồn tài-liệu quư giá về “Nhật nguyệt hợp bích Ngũ-tinh liên-châu 日月合璧五星聯珠” (NNHBNTLC):

 

1) “Thái-ất Bí-thư 太乙秘書” (2O, tr. 9-10) của Vương Tá đời Tống dùng phép ngũ-tư nguyên để tính xem từ NNHBNTLC năm giáp-tư dưới triều Vua Đại-nhiễu đến thời đó là Cục nào để ngoại suy ra ngày sở-quan bằng cách áp-dụng “Tiểu Đào Kim Ca ” (2O, tr. 110-3). Phép này quá phiền toái nên không chép vào đây. Đối với cổ-tịch, “Bí-thư” đồng nghĩa với Vỹ-thư.

2) “Thái-ất Số-thống-tông Đại-toàn 太乙數統宗大全” (2P) của Lư Tự Minh 李自明phối-hợp với thiên Nghiêu-điển 堯典 trong Kinh Thư (1H, tr. 117-25) phụ với “Trung-quốc Lịch-đại Đế-vương tại vị hành-niên can chi dữ bát-quái kư-sự Biểu” trong sách “Dịch-kinh Hoàng-cực Kinh Thế biện-thích 易經皇極經世辨釋” (2Q, tr. 273-390) của Trương Sùng Tuấn 張崇 .

 

Một sử-liệu thời Tây-Hán, Hồng-Phạm Ngũ-hành-truyện 洪範五行傳, của Lưu-Hướng 劉向 (77-9 BC), đă được tôi kiểm-nghiệm bằng nhu-liệu vi-toán Voyager III, bản 3.60, là ngày Thất-diệu Tề-nguyên chính là ngày đông-chí 21.12.2251 B.C., với hiệu-sai giác-cự tối-đa là 12.5440, chứ không phải là ngày 28.2.2449 BC như các Cố-đạo Ḍng tên đă ức-đoán dưới Triều Vua Khang-Hi (trị v́ 1662-1723). Ngày này chính là ngày mùng 1 tháng giêng năm Tân-măo tức năm thứ 84 triều Đế Nghiêu. Ngoài ra, nếu ta  dùng công-thức Việt Chi để tính Lịch Can Chi ta sẽ thấy “Thất- diệu Tề-nguyên lịch-sử này xẩy ra cuối giờ Đinh-sửu, ngày Ất-hợi, tháng Mậu-tư, năm Tân-măo (bởi v́ chuyện xẩy ra năm 84 Triều  Đế Nghiêu nên tháng giêng Kiến Tư). Dĩ nhiên đây không phải là ngày “Nhật Nguyệt Hợp-bích Ngũ-tinh Liên-châu” của Thái-ất Thần-kinh xẩy ra vào năm 10153916 BC, theo sách “Thái-ất Bí-thư”của Vương-Tá 王佐 đời Tống (2O, tr. 80 ).

Thật vậy, nếu ta dùng công-thức Việt Chi (Xem Phụ Lục  III: XUÂN TỪ TRONG ẤY) cho những năm tiền-công-nguyên (B.C.), ta có, trong cơ-số-hệ thập-lục-phân (HEX):

Năm 1 AD (mn = Tân-dậu = 8A) được dùng làm gốc cho các năm BC. Gọi tuyệt-trị một năm là abcd, như năm nay là abcd = 2009. Các năm BC được tính bằng công-thức:

 κ ≡ m - d  (Amod 10)   và  χ ≡  n - abcd  (Amod 12)       

trong đó κ là can sở-quan (DEC), χ là chi sở-quan (HEX) và Amod là hàm-số đẳng-thặng chỉnh-đốn (Adjusted remainder function) của LISP, tức Quư là 10, Hợi là 12 chứ không phải là 0. Ta có:

   κ = 8 - 0 = 8 (Tân)   và    χ = 10 - (2250 Amod 12) = 10 - 6 = 4 (Măo).

 V́ chuyện xẩy ra Triều Nhà Đào-Đường (Đế Nghiêu), nên tháng giêng Kiến Tư:

κ := 2 κ - 1 = (2 x 3  - 1)  Amod 10 = 5 (Mậu).

Vậy là tháng Mậu-tư. Nên biết ngày 1.1.1 đầu Công-nguyên là ngày Mậu-Dần với số thứ-tự trong hoa-giáp là σ1 = 15. Mà TCN tây-phương theo lịch Julian và Trung-Hoa theo Lịch Tứ-phân từ đời Chuyên-Húc, cả hai lịch đều có năm dài 365.25 “ngày mặt trời trung-b́nh”. Cho nên thời khoảng từ 21.12.2251 B.C. đến 1.1.1 A.D. là:

    365.25 x 2248 + 2 x 365 + 11 = 821823 = 13687 x 60 + 3,

 có nghĩa ngày can-chi muốn t́m có số thứ-tự trong hoa-giáp là:

         σ2 = 15 - 3 = 12    (Ất-Hợi).     QED

         Hai bộ Dịch Liên-sơn và Quy-tàng đă thất-truyền từ Bát Vương Chi Loạn (八王 之亂) đời Tây Tấn, xẩy ra trong thời khoảng từ Vĩnh-b́nh Nguyên-niên (291), niên-hiệu của Hán Minh-đế (58-75), đến Quang-hy Nguyên-niên (306), niên-hiệu của Tấn Huệ-đế (306), mặc dù cuối đời Tây-Hán (206-8) cha con Lưu-Hướng 劉向, Lưu-Hâm 劉歆 có ngụy-tạo ra hai Kinh này. Trong khi Chu Dịch sinh sau mà Thoán-hào-từ chỉ vỏn vẹn có 715 chữ và toàn-văn bản kinh chỉ gồm 24,107 chữ, mà chính-văn hai Kinh nguỵ-tạo lần lượt dài đến hai và bốn vạn chữ. Để cứu-văn phần nào t́nh-huống éo le này chúng ta có thể tham-khảo Tây-khê Dịch-thuyết 西谿易說 (2R) của Lư-Quá   đời Tống (960-1279), Liên-sơn (2B) và Quy-tàng (2AC) của Mă Quốc-Hàn 馬國  đời Thanh (1644-1912), Tam-Dịch Bị-di 三易備遺 (2S) của Chu Nguyên-Thăng  朱元昇  đời Thanh,  Liên-Quy-Chu Tam-Dịch  連歸周三易 của Dịch-Kinh Học-hội 易經學會 Đài-Bắc và nhất là Liên-Sơn Quy-tàng Quái-danh Quái-tượng-khảo (2T) 連山歸藏卦卦象考 của Thượng  Bỉnh Hoà  尚秉  (1870-1950).

Kinh Dịch c̣n truyền đến nay là Chu Dịch 周易 gồm Cổ Kinh 古經, tức chính-văn, hoàn-thành chậm nhất vào thế-kỷ 8 B.C., và Dịch-Truyện 易傳, c̣n gọi là Thập-Dực 十翼, tức phụ-lục cho Kinh Dịch, hoàn-tất chậm nhất vào thế-kỷ 3 B.C. tức cuối đời Chiến-quốc (403-222 B.C.). Thái-sử-công Tư-mă Thiên 司馬遷 (?-110 B.C.) gọi Dịch-truyện là Đại-truyện 大傳và không chép Thuyết-quái-truyện, mới chỉ t́m lại được khoảng một trăm năm sau khi ông mất. Truyền-bản (Received Text) của Cổ-kinh là Dịch Kim Văn c̣n muốn t́m đọc nguyên-bản, Dịch Cổ Văn, cần tham-khảo các sách đại loại như "Dịch Cổ Văn 易古文" (2Y) của Dịch-gia đời Thanh La-giang Lư Điều Nguyên tập-san.

Trước thời Sơ-Hán, Cổ-Kinh và Dịch-truyện chưa nhập một như thấy rơ trong "Hán Thạch Kinh Chu Dịch Tàn Tự Tập-Chứng 漢石周易殘字集證" của Khuất Vạn Lư 屈萬里.  Bắt đầu từ đời Hán, Phí-Trực 費直 rồi Trịnh-Huyền 鄭玄mới xen lẫn Thoán-truyện, Tượng-truyện và Văn-ngôn vào Chính-Kinh. Phải chờ măi đến đời Tống trở về sau, Lă Tổ Khiêm 呂祖謙 (2U) và bốn dịch gia khác là Hà Giai 何楷 (2V), Mai Trạc (2W), Huệ Đống 惠棟 (2X), Lư Điều Nguyên 李調元 (2Y), mới tái-lập được trật-tự và văn-tự cố-hữu.

Theo truyền-thuyết, tác-giả vô-nhiễm của Cổ-Kinh là Văn-Vương Cơ-Xương 文王姬昌  cho quái-từ tức lời quẻ và con thứ ông, Chu-Công Cơ-Đán 周公姬旦, cho hào-từ tức lời hào. C̣n tác-giả vô-nhiễm của Dịch-Truyện chính là Đức Khổng-phu-tử 孔夫子 (551-479 B.C.).

Thời đầu Nhà Chu, Cổ-kinh được viết ra với dụng ư bói toán. Thật vậy, cuối Đời Thương/Ân phép bói Giáp-Cốt 甲骨 hoàn-toàn đặt vào tài-nghệ và lương-tâm của bốc-quan khi giải-thích ư-nghĩa các vết rạn nứt có được khi nướng các mai bụng rùa hay xương bả vai thú-vật. Thời Sơ-Chu đó, người ta vẫn dùng Quy-bốc 龜卜 nhưng lại có thêm phép bói dùng 50 cọng cỏ thi tức Achillea millefolium (yarrow stalks), trong đó bốc-quan vừa bói vừa thầm lặng suy nghĩ đến việc bói. Dùng danh-từ điện-toán hiện-đại Quy-bốc giống như một giải-thích-khí (interpreter) kiểu ngôn-ngữ điện-toán Basics, c̣n Thi-bốc 蓍卜 giống như một biên-tập-khí (compilator) kiểu thảo-chương-ngữ C++. Bói Dịch là một phương-thức bắt mạch vũ-trụ nhân-sinh. Sau này, Kinh-Pḥng mới phát-minh ra lối bói bằng 3 đồng tiền (Xem Chương 8). Ghi sấp bằng S và ngửa bằng N, với 3 đồng tiền ta có phân-bố tứ-tượng: S3 3S2N 3SN2 và N3 tức ḍng 4 của tam-giác Dương Huy (1239?-98), một toán-gia Trung-quốc thời Nam Tống (1127-1279), mà ta quen gọi là tam-giác Pascal nghĩa là tuân theo một phân-bố nhị-thức (binomial distribution).

 

H́nh 1.4 Tam giác cân Dương Huy         H́nh 1.5.1           H́nh 1.5.2

                                                    H́nh 1.5 Tam-giác vuông Pascal

 

Chú ư: Trong H́nh 1.5.2, các chữ số A, F, và K ứng với các số thập-phân 1010, 1510, và 2010 trong cơ-số-hệ 21 (0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K). Do đó các số trong H́nh 1.5.2 chẳng qua chỉ là các luỹ thừa bậc 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, của 1110.

Bói ruà và bói cỏ thi là hai phép bói tối-cổ của Trung-Hoa. Thế mà Kinh Thư tức Thượng-thư 尚書 (1H, tr. 188a), thiên “Hồng-phạm 洪範”, Chương VII: “Xét ngờ” (Kê-nghi 稽疑) cũng như Kinh Thi (1H, tr. 316b & 417a & 469b & 527a), Thiên “Đại-nhă 大雅”, đều đề-cập bói ruà, bói cỏ thi mà không hề dẫn-chứng Dịch. Huống hồ phần lớn kinh-văn Thi, Thư lâu đời hơn Dịch. Cho nên khi kể tên ngũ-kinh là ta kể theo thời-tự: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân-Thu. Thật vậy, Lễ-kư 禮記 (1H, tr. 1620a), , thiên XXX (Phường-kư 坊記) lập lại câu Kinh Thi nói về bói ruà và bói cỏ thi: “考卜惟 王。度是鎬京惟龜正之。武王成之。Khảo bốc duy vương. Đạc thị Hạo-kinh. Duy quy chính chi. Vũ-vương thành chi.” (Chỉ Vua thạo bói. Hạo-quan lo toan. Chỉ rùa thích đáng đó. Vũ-vương thành đó.) và “爾卜爾筮。履無咎言。Nhĩ bốc nhĩ phệ. Lư vô cữu ngôn.” (Mày bói bằng cỏ thi, lễ phép không lỗi lời). Lễ-kư (1H, tr. 1651b), Chương XXXIII (Truy Y 緇衣) và Luận-Ngữ (1H, 2508a), Chương XIII (Tử-lộ), Tiết 22, đều viện-dẫn hào-từ Cửu-tam quẻ Hằng của kinh Dịch (1H, tr. 47c):“不恆其德或承之羞 Bất hằng kỳ đức hoặc thừa chi tu” (Không giữ thường được đức tức ư-chí và hành-vi của ḿnh, có khi bị xấu hổ.). C̣n bói cỏ thi là căn-cơ của bói Dịch và là bàn đạp của Cổ Chu Dịch tiến mạnh vào văn-hoá Trung-Hoa. Cho nên ta thấy Tả-truyện (1H, tr. 1697-2188), một trong Xuân Thu Tam-truyện 秋三 , dẫn chứng Chu Dịch cả thẩy 20 lần trong khi Quốc-ngữ , một quyển sử của Vương-thất Nhà Chu khác của Tả Khưu Minh , người trùng danh-tính với họ Tả mà Đức Khổng-tử có nhắc đến trong Luận-Ngữ  (LN, Công Dă Tràng, Tiết 25, 2A, tr. 95), chỉ dẫn chứng Chu Dịch có ba lần, như nhà trị Dịch Tiêu-sơn Mao Kỳ Linh 蕭山毛寄齡 (1623-1716) đă tường-thuật phần nào trong “Xuân Thu Chiếm-phệ-thư 春秋占筮書”. Phải chăng hai quyển Tả-truyện và Quốc-ngữ là tiền-cổ-sử của Xác-suất-học (Probability) viễn-đông?

Cần nhắc lại là trong Tả Truyện, bói rùa xuất hiện 14 lần và có hai lần bói rùa đụng độ với bói cỏ thi:

 

1)      Hi Công 4, Huệ Vương 21, Ất-sửu (656BC):

Tả-Truyện: Xưa Tấn Hiến-Công muốn cho Ly-Cơ làm Phu-nhân, bói rùa thấy xấu, bói cỏ thi thấy quẻ tốt. Công chọn quẻ tốt. Người bói rùa nói: Phệ (bói cỏ thi) sở-đoản, Quy (bói rùa) sở-trường. Vả lại lời dao (thoán) có câu: Tự chuyên biến đổi, ngăn cái hay của Công. Một thơm như cỏ huân, một hôi như cỏ du, tiếng xấu mười năm chưa hết, xoá bỏ hết tốt đẹp của Công. Xin đừng đổi. Công không nghe, lp làm Phu-nhân. Về sau v́ lời dèm của Ly-Cơ với Công, Thế-tử phải thắt cổ ở Tân-Thành (Khúc-Ốc), Công-tử Trùng Nhĩ chạy ra ấp Bồ và Công-tử Di-Ngô chạy ra ấp Khuất.

2)      Hi Công 15, Tương Vương 7, Bính-tí (645BC) ,  (1H, 1879c & 1880a): 

Tả-Truyện: Tri Trang-tử (Tn-Thủ) nói: “Đạo binh này lâm-nguy. Trong Kinh Dịch về quẻ Lâm S, tự quẻ Sư G ra (G   S), có nói: Một đạo quân ra trận phải theo luật đă ban-hành. Nếu luật không hay thế là hung. Vị chỉ-huy nếu theo đúng binh-pháp th́ mệnh-lệnh thành hay. Nếu sai binh-pháp th́ mệnh-lệnh thành dở. Một số đông đem chia ra th́ thành yếu. Các ḍng nước mà ngược nhau th́ thành nước ao tù ... Kinh Dịch bảo như thế đó". 

Chính Đức Khổng-tử cũng đă nói: "Bất tri mệnh vô dĩ vi Quân-tử dă 不知命無以 為君子也 ." (LN, Nghiêu Viết, Tiết 3, 2A, tr. 244) có nghĩa là: "Không biết Thiên-mệnh th́ làm sao nên người Quân-tử được".

Sách sử c̣n ghi, lúc sinh tiền, Ngài có lần nóng ruột muốn biết tại sao Tử-lộ hẹn về mà chửa thấy về. Sau khi bốc vấn, Ngài vẫn c̣n hoang mang. Nhan Hồi đang hầu bên cạnh, bèn thưa: “Do đang xuôi ḍng và cũng sắp về tới.” Quả nhiên Nhan Hồi đoán đúng.

Một lần nữa, bà mẹ Thương Cù thấy con ḿnh đă 40 tuổi đầu mà vẫn chưa có con nối dơi, bèn đến hỏi Đức Khổng-tử. Ngài đáp: “Bà đừng lo, chỉ vài năm nữa tṛ Bốc Thương sẽ có ba con trai”. Mấy năm sau, bà quả có ba cháu nội trai. 

 

Trong Lă-thị Xuân Thu 氏春秋, thiên “Thận-hành luận 慎行論” (2P,Q. 22, tr. 409), Lă Bất-Vi 不韋có chép chuyện Khổng-tử bói, được quẻ Bí V(Hạ Ly thượng Cấn). Khổng-tử bảo: “Chẳng lành”. Tử-cống nói: “Phàm quẻ Bí cũng tốt vậy thôi! Sao Phu-tử lại bảo là chẳng lành?” Khổng tử bảo: “Phàm trắng ra trắng, đen ra đen, phàm Bí, trắng lờ lờ lại tốt sao? Phàm người hiền ghét vật nào là phải có lư-do, chứ không ghét suông đâu!” Khổng-tử Gia-ngữ (2Q) cũng nói rằng không phải chính-sắc.

Bí là trang-sức. Phàm vẽ núi thêu lửa trên quần áo đều phải dùng chính sắc mà nay nơi quẻ Bí lại bảo không phải là chính-sắc như Kinh Pḥng viết trong Kinh Pḥng Dịch Truyện (Cấn cung, 2R, tr. 148-50): Ngũ-sắc bất thành gọi là Bí. Mao Truyện cũng nói: Bí là mầu vàng nhạt. Trịnh Huyền, Vương Túc cũng cùng một ư-kiến. Trong Kinh Thái Huyền, nơi thủ Hiền =2 2, tán thứ nhất, Dương Hùng cũng viết: Vàng không thuần, khuất nơi rễ. Rồi chú rằng: quẻ Bí của Dịch; dưới núi có lửa là mầu vàng trắng vậy. Nay Khổng-tử nói đến mầu đen chứ không nói đến mầu vàng giống như trong hào-từ lục-tứ quẻ Bí: “Như thể: trang-sức, tuyết in sắc ngưạ vậy”. Dường như chỉ có mầu trắng mà không có hai mầu vàng đen, không làm sao mà khảo-biện được. Huống hồ trong phép bói cỏ thi, luận sắc hay bất kỳ chuyện ǵ khác, nhất nhất đều do tư-ư của người bói.

 

THƯ TỊCH KHẢO

   

2A Tân Dịch Tứ Thư Độc Bản 新譯四書讀本, tu-đính bát-bản, Tạ Băng Oanh 謝冰瑩, Lư Tiển , Lưu Chính Hạo 劉正浩, Khâu Tiếp Hữu 邱燮友 chú-thích, Tam Dân Thư-cục, Đài-bắc, tháng 9-1983.

2B Liên-sơn 連山, Thanh Mă Quốc Hàn 馬國韓 trước, 1 Quyển, Tế-nam Hoàng-hoa-quán san-bản, 1871.

2C Sơn Hải Kinh 山海經, Vơ , Ích tác, Tấn Quách Phác 郭璞 Truyện, Thanh Tất Nguyên 畢沅 hiệu-chính, Huấn-đường Tùng-thư bản.

2D Tân Dịch Hoài-nam-tử  新譯淮南子, Hùng Lễ Hối 熊禮匯 chú-dịch, Hầu Năi Tuệ hiệu-duyệt, Tam-dân, Đài-bắc, 1997.

2E Thực-dụng Kỳ-môn Độn-giáp 實用奇門遁甲, Trần Anh Lược 陳英略 biên soạn, Quỷ-cốc-tử Tung Hoành Học-thuật Nghiên-cứu-viện, Hongkong, 1980.

2F Hà Lạc Tinh-uấn 河洛精蘊, Giang Thận-tu 江慎修 trước, Vũ-lăng, Đài-bắc.

2G Le Calendrier par Paul Couderc, Presses Universitaires de France, Vendôme, 1961.

2H Clockwork Man, The Story of Time, its origins, its uses, its tyranny by Lawrence Wright, Barnes & Noble Books, New York, 1992.

2I Độc Dịch Tam-chủng 讀易三種, Khuất Vạn Lư 屈萬里 soạn, sơ-bản, Liên-kinh Xuất-bản Sự-nghiệp, Đài-bắc, tháng 6-1983.

 

2J Thành-ngữ Thục-ngữ Từ-điển 成語熟語詞典,, Lưu Diệp Thu 劉葉秋, Uyển Dục Tân 苑育新, Hứa Chấn Sinh 許振生 biên,,Thương-vụ Ấn-thư-quán, Bắc-kinh, 2002.

 

2K Hậu Hán Thư 後漢書, Phạm Diệp 范嘩 soạn, do Hứa Gia Lộ 許嘉璐 chủ-biên in Nhị Thập Tứ Sử Toàn Dịch 二十四史全譯, do Hứa Gia Lộ Chủ-biên, Toàn 3 Sách, Đệ-nhất-bản, Hán-Ngữ Đại-Từ-Điển Xuất-bản-xă, Thượng-hải, tháng 1-2004.

 2L Phạm-tử Kế-nhiên 范子計然, Phạm-Lăi 范蠡 in Chính-thng Mưu-lược-họcVựng-biên 正統謀略學, Nam Hoài Cẩn chủ-biên, Lăo-cổ xuất-bản-xă, Đài-bắc, Mậu-ngọ, tháng 8-1978.

2M Dịch-học Thảo-luận-tập 易學討論集 do nhóm Lư-Chứng-Cương 李證剛 biên trước, tái-bản bản, Chân Thiện Mỹ, Đài-bắc, tháng 8-1972.

2N Hoàng-Cực Kinh-Thế Thư-Truyện 皇極經世書傳, 8 quyển, Tống Tam Xuyên Thiệu Ung Nghiêu-phu 三川邵雍堯夫 soạn, Áo-châu Hoàng Kỳ 奧洲黃畿 tông-đại-truyện, Trung-hoa Thư-cục ảnh-ấn.

2O Thái-ất Bí-thư 太乙秘書, Tống Vương Tá trước, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1980.

2P Thái-ất Số-thống-tông Đại-toàn太乙數統宗大全, Lư Tự Minh 李自明 trước, Chân Thiện Mỹ, Đài-bắc, 1980.

2Q Dịch-kinh Hoàng-Cực Kinh-Thế Biện Thích 皇極經世辨釋, Trương Sùng Tuấn 張崇俊 trước, sơ-bản, Vũ-lăng, Đài-bắc, tháng 9-1993.

2R Tây-khê Dịch-thuyết 西谿易說, Lư-Quá soạn, in Đại Dịch Loại Tụ Sơ Tập (5) 大易類聚初集(五)Tân-văn-phong, Đài-bắc.

2S Tam-Dịch Bị-di 三易備遺, Tống Chu Nguyên-Thăng  朱元昇 soạn, Khang-hi Nguyên-san bản, 1680.

2T Liên-Sơn Quy-tàng Quái-danh Quái-tượng-khảo 連山歸藏卦卦象考, Thượng  Bỉnh Hoà  尚秉 soạn.

2U Cổ Chu Dịch , Tống Lă Tổ Khiêm 呂祖謙 soạn, Kim-hoa Tùng-thư bản, 1869.

2V Cổ Chu Dịch Đính Hỗ , Minh ● Hà Giai 何楷soạn, Văn-lâm-đường san-bản, 1752.

2W Cổ Dịch Khảo Nguyên 古易考原, Minh Mai Trạc soạn, Tục Đạo Tàng bản, 1607.

2X Chu Dịch Cổ Nghĩa 周易古義, Thanh Huệ Đống 惠棟soạn, Cửu-kinh Cổ-nghĩa bản.

2Y Dịch Cổ Văn 易古文, Lư Điều Nguyên 李調元 soạn, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 6-1984.

2Z Lă-thị Xuân Thu 氏春秋, Hán ● Cao Dụ 高誘 chú, Thanh ● Tất Nguyên 畢沅 hiệu, Dư Tường 余翔 hiệu-điểm, Thượng-hải Cổ-tịch Xuất-bản-xă, Thượng-hải, tháng 12-1996.    

2AA Khổng-tử Gia-ngữ Kim-chú Kim-thích 孔子家語今今譯, của Tiết An Cần và Cận Minh Xuân靳明春, Đại-liên Hải-vận Học-viện Xuất-bản-xă, Đại-liên, tháng 2-1993.

2AB Kinh Pḥng Dịch Truyện 經房易傳, Vương Mô 王謨 trước, Hán Ngụy Di-thư Sao bản, ảnh ấn, 1798.

2AC \Quy-tàng 歸藏, Thanh Mă Quốc Hàn 馬國韓 trước, 1 Quyển, Tế-nam Hoàng-hoa-quán san-bản, 1887.

 

 

 

    Xem tiếp Kỳ 5

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com