Quan Dương: Thơ & Truyện               |                 www.ninh-hoa.com



Quan Dương
Tên thật:
Dương Công Quan
  cựu học sinh trung học
Trần B́nh Trọng Ninh Ḥa
  Niên Khóa 1962-1969.
    Người xóm Đàng Luồn
 Cây Thị.



Hiện sinh sống
tại Louisiana, Hoa Kỳ.


 

 

 

 

 

Một Vài KỶ NIỆM
Quan Dương

(viết dành riêng tưởng nhớ anh Nguyễn Lương Thuật)

 

 

 

         Tôi không biết phải bắt đầu hoài niệm từ đâu để viết về anh, v́ thú thật t́nh cảm giữa tôi và anh hăy đang c̣n trong tư thế thân t́nh th́ không thể gọi là thân t́nh mà xă giao th́ cũng không có thể gọi là xă giao.

 

          Không thể gọi thân t́nh bởi v́ tôi chỉ mới biết anh chị Thuật, Bích Khuê đâu khoảng chừng 10 năm trở lại đây, sau ngày tôi định cư tại Mỹ. Mặc dù trước 75 khi đất nước hăy c̣n ch́m trong khói lữa tôi và anh được sinh ra và cùng lớn lên trên vùng đất Nha Trang. Tôi quen anh chị Thuật Khuê qua chiếc cầu Vơ Tánh Nữ trung học, chiếc cầu được các đồng môn liên trường lưu lạc nơi xứ người cùng hoài niệm để thiết kế trên xa lộ không trung từ sự giới tbiệu của cặp vợ chồng nhà văn nhà thơ Nguyễn Bá Dĩnh, Thủy Trang ở Montreal Canada.

 

         Không thể gọi xă giao, bởi v́ tôi đă từng lặn lội từ Louisiana, miền Đông Nam lên đến tận Seattle miền Tây Bắc của nước Mỹ để ghé thăm cơ ngơi anh chị, ngược lại anh chị cũng đă từng từ Tây Bắc thân chinh xuống tận Đông Nam để ghé thăm gia đ́nh tôi. Đó là chưa tính dến những năm đầu liên tiêp phụ trách đặc san cho hai trường Vơ Tánh Nữ trung học, anh Nguyễn Lương Thuật và chị Bích Khuê vừa e mail vừa gọi phone thay phiên nhau xa luân chiến réo đ̣i nợ bài vỡ hằng ngày.

 

         Nhờ cùng đi chung trên chiếc cầu trường xưa bạn cũ nơi xứ lạ quê xa, tôi được biết chị Bích Khuê là cựu học sinh Trường Nữ Trung Học. Khi chị đă tốt nghiệp trung học th́ tôi hăy c̣n lẹt đẹt mài đũng quần ở Trường Vơ Tánh. Sự xắp xếp thời điểm thật là tréo ngoe của định mệnh, tưởng chừng như không thể nào có thể xăy ra cơ duyên, vậy mà cuối cùng vẫn quen nhau. Nhiều khi nghĩ lại mới thấm được sự diệu kỳ của tạo hóa khi cấu trúc trái đất này h́nh tṛn hẳn đă có chủ định vô cùng huyền vi. Tôi đến Mỹ sau anh chị rất là nhiều năm. Khi mới biết bắt đầu vật lộn với sinh kế để c̣n kịp hội hập vào đời sống Mỹ th́ anh chị Thuật, Khuê đă có cơ ngơi. Trước 75 đă không biết anh chị là ai, sau 75 lại càng không biết ai là anh chị. Tưởng chừng xa vời vợi như thế th́ đường ai nấy ngó mặc dù cùng chung một xứ cùng chung nói tiếng Việt Nam. Nhưng mà giá như....giá như chị Bích Khuê không phải là một người nhiệt thành trong công cuộc bảo tŕ chiếc cầu tương ái Vơ Tánh, Nữ trung học và anh Nguyễn Lương Thuật người bạn đồng hành kia của chị không một dạ hùa theo th́ có lẽ tôi không bao giờ được dịp mà thân biết hai người dễ thương này. Trước kia tôi vốn lười, qua Mỹ phải vật lộn với công việc làm mỗi ngày tại hăng xưởng, cơ thể đừ người nên sự lười có cớ tăng theo. Vịn vào cái lư do hợp lệ kia nhiều khi tôi muốn xù bài vỡ cho đặc san mỗi năm, chị Bích Khuê nào chịu tha cho, chị gọi phone đ̣i nợ bài vờ c̣n hơn sở thuế. Một người đ̣i nợ một người khất nợ cứ thế mà phone qua phone lại, phone thét thành quen thuộc. Chị mệt th́ có anh Thuật nhào vô tiếp sức. Anh Thuật đ̣i nợ thật tếu lâm vui hết biết, dẫu tôi muốn lười cũng lười không xong. Cặp anh chị này giống như một người đang hát một người đang đệm đàn làm hồn tôi cứ nao nao nhớ lại những kỷ niệm của bạn bè thời c̣n cắp sách. Anh chị gợi xao động lại những kư ức đang ngủ yên. Thế là tôi viết xuống thành ḍng. Tôi vừa được trả được nợ chị Bích Khuê lại vừa được có bài lưu lại để làm của cải.

 

         Năm 2000, anh chị Thuật Khuê du hành xuống miền Nam, anh chị ghé lại New Orleans thăm tôi. Tôi nhớ rơ cảm giác ḿnh khi gỏ cửa khách sạn để gặp anh chị, cảm giác hồi hộp nửa lạ lẫm nửa thân t́nh v́ đó là lần đầu tiên chúng tôi biết mặt nhau sau nhiều năm liên lạc qua vũ trụ không gian. Khi cửa pḥng mở, chị Bích Khuê nhỏ nhắn trẻ trung hơn tôi tưởng tượng và anh Nguyễn Lương Thuật th́ rất tự nhiên vồn vă chạy ra ôm vai. Cử chỉ vô cùng thân mật khiến nửa lạ lẫm kia tan biến tự khi nào. Lâu lắm mới được nghe lại giọng nói Nha Trang thân thuộc. Giống như hai anh chị và tôi đă từng là bạn từ lâu. Đó là vào những ngày cận tết Tân Tỵ, cái lạnh tháng chạp của miền Nam nước Mỹ d́u dịu thâm thấm vào da chứ không chà siết đến độ rát mặt như miền Tây Bắc nơi anh chị ở. Cũng v́ thế mà cây tắc ngọt phía sau vườn nhà tôi trái bám vàng lên khắp các cành cây.. Trái trĩu nặng xuống làm lộ ra những cḥm lá xanh um. Anh chị Thuật thích lắm bởi v́ cùng vào thời điểm đó ở Seattle cây cối đều đă khô cằn và đang chơi vơi trong tuyết. Anh nói nh́n cây tắc nhớ Nha Trang lúc này thiên hạ đang rộn ră dạo mua cây cảnh ớ chợ Đầm và chợ xóm mới để đem về nhà chưng tết.

 

         Tôi đưa anh chị thăm cây cầu dài nhất thế giới bắt trên hồ Pontchartrain ( chính nước từ chiếc hồ này theo cơn băo Katrina phá vỡ đê nhấn ch́m thành phố New Orleans chết đuối 5 năm sau đó ). Lái xe cùng nhau chạy trên chiếc cầu hùng vĩ mênh mông biển nước không thấy bờ, chúng tôi so sánh với chiếc cầu xóm Bóng biểu tượng của thành phố Nha Trang. Thấy nhớ thương khung cảnh yên lành dưới chân Tháp Bà vào mỗi mùa hè khi hàng cây phượng vĩ rực đỏ ḥa theo tiếng ve kêu buồn bă cùng những mối t́nh thơ dại thuở c̣n đi học. Tôi kể anh chị nghe về cái thời xách gói đu theo đít xe Khánh Ḥa mỗi tuần từ Ninh Ḥa vào Nha Trang trọ học tại Hà Ra, cái thời nhất quỉ nh́ ma thứ ba là học tṛ không bị cha mẹ kềm kẹp, phá như quỉ sứ. Anh Thuật thích thú theo ḍng đời tôi kể. Nh́n anh rạng rỡ ḷng tôi vô cùng hạnh phúc, ḷng thầm ám ơn chiến tranh đă làm chúng tôi khốn khổ nên có cớ gặp nhau. Chị Khuê bảo tôi về những ngày tháng từ giă Trường Vơ Tánh, vĩnh biệt tuổi học tṛ để gia nhập vào cuộc chiến tranh. Tôi kể chị nghe về những người lính thư sinh miền Nam ngoài chiến trường làm quen với lửa đạn đánh nhau với kẻ ác từ phương Bắc. những người lính đánh nhau vẫn biết sẽ thua nhưng vẫn đánh v́ không thể để đối phương đè đầu cỡi cổ. Mặc dù cuối cùng vẫn bị đè đầu cỡi cổ nhưng không phải ở thế tự tại an nhiên. Anh Thuật chị Khuê kể tôi nghe về những ngày đầu đặt chân qua Mỹ với ước mong làm chiếc cầu nối nhịp của nhiều thế hệ thanh niên của hai trường. Chúng tôi nói chuyện cùng nhau vô cùng thân quen, giống y như là chúng tôi đă từng gặp gỡ nhau nhiều lần trong mấy chục năm qua chứ không phải là lần đầu gặp gỡ.

 

         Anh Thuật hiền lành nhưng năng động, anh năng động nhưng lại hài ḥa, anh hài ḥa thành ra anh dễ thương và dễ mến. Tôi c̣n nhớ Năm 2003 tôi có việc phải đi Vancover tiện thể tôi ghé lại Seattle thăm anh chị. Tôi ngủ lại Seattle một đêm trong nhà của anh chị Thuật Khuê. Ngôi nhà có chiếc lưng dựa vào sườn đồi phía sau, tôi gọi đùa nhà có lưng dựa vào nỗi nhớ. Trước nhà là cây phong lan lá đổi màu vào mùa thu. Tôi không sống ớ vùng lạnh nên dốt tịt về tên cây cối, nhưng tôi cảm nhận được không khí mùa hè của seatlle rất đẹp. Nhất là ngồi trên máy bay khi sắp đáp xuống phi trường nh́n thành phố Seattle trăi dài từng hô nước nhỏ được thiên nhiên đặt trật tự lên mặt đất xanh um màu lá đẹp đến diệu kỳ. Khung cảnh nơi anh chị ở yên ắng khiến cho tôi sống lại cảm giác của những ngày c̣n độc thân sau những tháng năm miệt mài phong sương bỗng thèm được dừng chân Khung cảnh không gian xung quanh nhà anh chị chính là nơi khiến cho ḷng tôi lâng lâng trào dâng đầy cảm giác đó. Tôi cùng một người bạn và anh chị, bốn chúng tôi đi tham quan thành phố. Đập vào mắt tôi là những hàng cây xanh. Dọc trên những lề hè phố là những con heo làm bằng đất hay nhựa ǵ đó trong mọi tư thế ngồi,nằm,đứng, trông thật là ngộ nghĩnh. Tôi chỉ ghé lại Seattle một lần vào mùa hè và từ đó đến nay chưa có dịp đến nữa, nên tôi không biết khung cảnh mùa thu, mùa xuân mùa đông thế nào, nhưng chắc chắn không đẹp bằng mùa hè, do đó h́nh ảnh Seattle trong tôi là một thành phố đẹp xanh màu mướt mắt. Ở đó có t́nh cảm đối xử của anh chị Thuật, Khuê dành cho tôi c̣n mát hơn màu thành phố.

 

         Năm 2005, băo Katrina tấn công New Orleans, dân cư thành phố hoảng hốt lái xe tháo chạy. Tôi cũng tháo chạy như mọi người, nhưng không hoảng hốt. Những ǵ tôi chứng kiến xăy ra trong cảnh tháo chạy trên xa lộ 10 không hổn loạn như năm 1975 khi tôi cùng Thu Ba theo ḍng người tháo chạy từ Nha Trang theo quốc lộ số 1 vào phía Nam. Dân chúng tháo chạy nhưng vẫn c̣n có cái ǵ đó để ăn mang theo, chạy trước khi cơn băo độ bộ đến 36 tiếng đồng hồ. Chạy biết nơi ḿnh đến sẽ an toàn, có bảo bọc th́ cuộc chạy khác ǵ một cuộc đi chơi? Năm 75 cơn băo của sự hiểm ác con người thổi từ phương Bắc thổi vào đất nước đuổi tôi ra khỏi căn nhà nơi ḿnh chôn nhau cắt rốn. Tôi chạy trốn cái ác tâm đó mà không có ǵ để mang theo mà ăn và nơi đến th́ tương lai mịt mù vô định. So sánh hai cơn băo rượt trăi qua, tôi b́nh tâm không cần hốt hoảng. Nhưng anh chị Thuật Khuê qua h́nh ảnh được chiếu trên các kinh truyền h́nh của Mỹ đă lo sợ vô cùng cho tính mạng của tôi, t́m đủ mọi phương cách để biết tin tức. Cơn băo ập vào rượt tôi bỏ chạy, mọi đường phone bị cắt, tôi không có computer nên anh chị xem như không biết tôi đang ở đâu. Măi đến vài ngày sau khi biết tôi an toàn ở Houston, anh chị là người đầu tiên gửi tiền tiếp trợ để tôi mua thực phẩm. Sự việc này khiến ḷng tôi vô cùng cảm động và áy náy. Tôi cảm động v́ cách đối xử của anh chị quá ân cần, tôi áy náy v́ tôi biết rơ là ḿnh sẽ không sao hết, chưa đến độ anh chị phải lo lắng. Sống ở Mỹ, nhà có sập th́ băo kiểm đền, không có việc làm th́ xin tiền thất nghiệp. Tài sản có trôi theo ḍng nước th́ xem như huề vốn v́ khi đặt chân đến nơi này tôi đâu có ǵ ngoài hai bàn tay trắng. Anh Thuật chị Khuê không nghĩ như thế. H́nh ảnh hăi hùng từ cuộc chiến tranh Việt Nam, đến sự hăi hùng của những người dân New Orleans c̣n kẹt trong vùng nước ngập khiến chị liên kết lại với nhau để mà lo sợ. Tôi gửi lời cám ơn đến anh chị và chỉ biết nói hai tiếng cám ơn lập lại nhiều lần v́ không t́m thấy ngôn từ nào trong từ điển để diễn đạt cho tận cùng sự cảm động của ḿnh trước những nghĩa cữ cao quí kia.

 

         Ngày người bạn của tôi từ Seatlle gửi e mail báo tin anh Nguyễn Lương Thuật vừa mất v́ thoát không qua khỏi một căn bệnh hiểm nghèo, ḷng tôi chợt nhiên đanh lại. Tôi bị quá bất ngờ. Tôi có đọc e mail của các thầy cô bạn bè liên trường Vơ Tánh, Nữ Trung học Nha Trang chia buồn cùng chị Bích Khuê. Trong những số đó không có tên tôi. Anh Nguyễn Lương Thuật mất, tôi cũng buồn và buồn ghê gớm. Người ta viết cáo phó, phân ưu, chia buồn với gia đ́nh người chết nói cho cùng ra cũng chỉ là thực hiện theo phong tục tập quán cha ông lưu lại. Lần này tôi phá lệ. Anh Nguyễn Lương Thuật mất tôi ôm sự buồn không chia cùng chị Bích Khuê v́ tôi biết chị là một người phụ nữ tuy nhỏ nhắn nhưng rất can trường. Những khổ đau này rồi chị cũng sẽ vượt qua. Chung quanh chị, ngoài con cái thành đạt, c̣n có bạn bè thầy cô và bằng hữu.

 

         Trước năm 1975 tôi đă vốn không biết anh Nguyễn Lương Thuật, tuy cùng sống và lớn lên chung địa danh Nha trang. Phải chờ măi đến hơn ba mươi năm, sau khi lăn thân gần hết đời người mới vịn được vào bờ thành chiếc cầu Vơ Tánh, Nữ trung học mà gặp cơ duyên. Kỷ niệm chia xẻ cay đắng ngọt bùi không nhiều. Điều ấy rơ ràng là như vậy, nhưng không hiểu sao trước tin anh bỏ ra đi khỏi cơi trần gian này, ḷng tôi buồn vô hạn. Tôi nhớ khuôn mặt hiền lành của anh, nhớ lần anh đến New Orleans trên đường lái xe vào khu phố trời đă vào đêm lạc lên lạc xuống t́m tôi không ra. Tôi nhớ nụ cười hạnh phục khi anh quay lại bấm máy chụp h́nh chị Bích Khuê đang ngủ gục khi xe đang chạy trên chiếc cầu 24 dậm. Tôi nhớ anh xếp hàng hai vợ chông tôi cùng chị Bích Khuê chụp h́nh kỷ niệm đứng dưới chân cầu xe lữa cao nhất thế giới có tên là Huey P.long. Tôi nhớ đôi kiếng cận và cách tiếp chuyện vừa hài ḥa vừa ḷa x̣a của anh. Tôi nhớ h́nh ảnh anh nhai trái tắc hái sau vườn nhà tôi, anh bảo anh đang ăn tết tại quê nhà. Nhưng sự nhớ rất nhỏ nhặt kia rồi đây cũng phải theo thời gian năm tháng nguôi ngoai đế c̣n ch́m vào quên lảng.

 

 Biết thế nhưng ḷng tôi vẫn sao đau đáu một sự đau.

 

 

 

 New Orleans 5/2008
Q
uan Dương

 

 

Quan Dương: Thơ & Truyện                |                 www.ninh-hoa.com