trang thơ & truyện Lương Lệ Huyền Chiêu                |                 www.ninh-hoa.com



 

 Lương L Huyền Chiêu

 Dạy học tại trường
Trung Học Bán Công
Ninh Ḥa trước
 năm 1975



Hiện cư ngụ tại:
Ninh Ḥa, Việt Nam

 

 

 

 

 Ảnh: Sưu tầm trên Internet


Thật lạ. Mỗi khi nh́n vào tấm ảnh của một người đă chết, dù đang được đặt trên bàn thờ hay được treo trên vách, dù đang cười hay đang nghiêm nghị, tôi vẫn thấy đôi mắt của họ nh́n tôi buồn khôn tả. Và mỗi lần bước chân trên đường phố Sài G̣n, thành phố đă qua đời từ năm 1975, tôi cũng có cảm giác như có tiếng thở dài đâu đó trên từng phiến đá, từng gốc cây, từng chiếc lá.

 

Tôi không là người Sài G̣n nhưng cũng đă được nh́n ngắm thành phố này 20 năm, cho đến ngày nàng tử nạn. Cuối tháng Tư năm ấy, nàng đă bị xe tăng húc chết tại cánh cổng sắt của dinh Độc Lập. Có cần phải cư xử côn đồ đến thế, khi Sài G̣n đă đầu hàng, không hề chống cự?

Thuở bé tôi sinh ra và lớn lên ở miền Trung. Tôi không phân biệt được Sài G̣n và những tỉnh miền Tây. Sài G̣n đối với tôi là miền đất cuối cùng của đất nước. Mỗi khi vẽ bản đồ miền Nam Việt Nam tôi vô cùng hài ḷng chấm dứt công việc bằng một dấu chấm đen với hai chữ Sài G̣n.

 

Sài G̣n đẹp lắm Sài G̣n ơi, Sài g̣n ơi!”

(Y Vân).

 

Sài G̣n chắc lạ lắm, nhộn nhịp lắm v́ có “đèn ngọn xanh, ngọn đỏ”. Sài G̣n chắc vui lắm nên mới có “ai đang đi trên Cầu Bông, té xuống sông…

 

Năm tôi 15 tuổi, sau khi đậu trung học, tôi được đi Sài G̣n lần đầu không phải bằng tàu lửa hay xe đ̣ mà trên chiếc tàu thủy to nhất của Hải Quân VNCH mang số hiệu 500.

 

Nhờ có quen với hạm trưởng, gia đ́nh đă xin cho các cô cháu gái và tôi được làm một chuyến du lịch Sài G̣n như một phần thưởng.

 

Sau hai ngày bồng bềnh trên biển, con tàu khổng lồ bắt đầu rẽ vào cửa sông Sài G̣n.

 

Đứng trên boong, tôi choáng ngợp khi ngắm nh́n ḍng sông quá mênh mông bát ngát so với những ḍng sông nhỏ bé ở miền Trung. Và tôi không khỏi ngạc nhiên v́ ḍng nước ở đây không trong trẻo mà ngầu đục phù sa cùng từng mảng lục b́nh trôi nổi dập dềnh.

 

Sài G̣n đẹp và tráng lệ đến bất ngờ.

 

Tôi đă tận mắt nh́n thấy Dinh Độc Lập, Dinh Gia Long, nhà thờ Đức Bà, được dạo chơi trong Sở Thú, chợ Bến Thành, đường Catinat.

 

Trở về làm cô học tṛ đệ nhị cấp, tôi mơ một ngày được sống và đi học tiếp ở Sài G̣n.

 

Cô học tṛ đă đến tuổi mơ mộng. Buổi tối cô mở radio, chờ nghe giọng Bắc ngập ngừng rất hay của nhà văn Nguyễn Đ́nh Toàn trong chương tŕnh Nhạc Chủ Đề từ đài phát thanh Sài G̣n.

 

Cô cũng chịu khó đọc báo Văn phát hành từ Sài G̣n để mong trở thành người “Ham đọc, hiếu học, ưa suy nghĩ”.

 

Rồi không biết từ lúc nào, cô nhận ra rằng thành phố Sài G̣n với ḍng sông mênh mông bát ngát đă bị “xâm lăng” một cách đáng yêu bởi một tầng lớp người Bắc di cư.

 

Món phở Bắc chắc chắn đang cạnh tranh không khoan nhượng với món hủ tiếu. Trong những ngôi chợ lớn nhỏ đă xuất hiện màu xanh của rau kinh giới bên cạnh rổ giá sống trắng phau.

 

Cô cảm thấy yêu tiếng Việt hơn qua các ca khúc của Phạm Duy. Và tiếng hát của Anh Ngọc, Sĩ Phú, Thái Thanh, Lệ Thu đă làm cô không c̣n mặn mà với những bản vọng cổ rất mùi của Út Trà Ôn mà thuở nhỏ cô rất ưa thích…

 

Cô t́m đọc các nhà văn, nhà thơ Bắc di cư.

 

Cô rất muốn biết v́ sao hàng triệu người miền Bắc đă nghẹn ngào từ bỏ một miền quê hương yêu dấu đến thế, tươi đẹp đến thế để vào với Sài G̣n xa lạ.


“Nắng Sài G̣n anh đi mà chợt mát
Bởi v́ em mặc áo lụa Hà Đông.
(Nguyên Sa)

 

Câu thơ ấy sẽ ra sao nếu được viết:

 

“Nắng Sài g̣n anh đi mà chợt mát
Bởi v́ em mặc áo lụa Nam Vang”.

 

Sài G̣n sau cuộc di cư năm 1954 đă được pha phách như cốc cà phê đen cho thêm chút sữa và một chút bơ Bretagne để trở nên một hỗn hợp đậm đà hương vị.

 

Năm 18 tuổi, tôi vào Sài g̣n để ghi danh ở Đại Học Văn Khoa.

 

Và Sài G̣n dưới mắt cô sinh viên nghèo không hoa mộng như những ǵ cô đă từng tưởng tượng.

Cô nhận ra Sài G̣n không là Ḥn Ngọc Viễn Đông.

 

Chẳng vinh dự ǵ để nhận danh hiệu ấy khi những dinh thự, nhà thờ, phố xá, nhà hàng, khách sạn sang trọng của Sài G̣n là do người Pháp xây dựng và để lại.

 

Và chỉ một số rất ít, rất ít người dân Sài G̣n được sống trong những dinh thự nguy nga ấy, được ngồi uống rượu ở Continental, Givral, hay có đủ tiền mua sắm ở thương xá Tax, Eden…

 

Người dân Sài G̣n thuở ấy vẫn rất nghèo.

 

Họ là những công tư chức, thầy giáo và người lao động tự do làm thợ thuyền, làm nghề buôn bán nhỏ, kiếm sống trong những ngôi chợ tồi tàn, hay trên gánh chè, gánh bún…

 

“Nhớ thuở nào, anh đi làm công, em gánh rong.

Đôi ta cùng gặp nhau dưới cầu, bóng mát dưới cầu”

(Phạm Duy).

 

Đường phố Sài G̣n đông thật nhưng nh́n ḍng xe đạp, xe mobillet, xe xích lô máy… chen chúc nhau, người ta vẫn cảm nhận được cái nghèo của thị dân nơi đây.

 

Chính quyền Sài G̣n thời ấy hầu hết là những công chức xuất thân từ một nền hành chính Pháp thuộc hoặc từ thành phần con cháu quan lại triều Nguyễn. Họ mù tịt với các chiến lược kinh tế, và lơ đăng nh́n gần như toàn bộ nền sản xuất, thương măi nằm trong tay người Tàu ở Chợ Lớn.

 

Và mấy ông Ba Tàu th́ chưa khi nào muốn cho nền kỹ nghệ VN tiến bộ.

 

Từ bao năm trời, cái hũ đựng chao, cái bóng đèn hột vịt, cái tấm lịch Tam Tông Miếu vẫn thế.

 

Mà thay đổi làm ǵ khi người tiêu thụ chẳng đ̣i hỏi và túi tiền của họ vẫn ngày càng đầy.

 

Từ lưu xá Phước Hải trên đường Trần Quốc Toản xuống quận 1 đi làm thêm ở văn pḥng một hăng sản xuất hóa chất, tôi đă chen chúc cùng người dân Sài G̣n trên những chuyến xe bus chật chội, những chiếc xe lam nồng nặc mùi khói . . .

 

Ngọc th́ không được có t́ vết. Nhưng ngay cạnh vẻ lộng lẫy của trung tâm Sài G̣n là những con hẻm ngập bùn sau mỗi cơn mưa, là những khu nhà ổ chuột chen chúc trên những ḍng kinh nước đen hôi thối, nhớp nhúa.

 

Sài G̣n theo tôi là một thành phố tự phát trên cái nền sẵn có của người Pháp để lại và rất thiếu vắng sự quản lư của một chính quyền chuyên nghiệp.

 

Nhưng dầu sao người dân Sài G̣n thuở ấy rất hạnh phúc theo cách của riêng ḿnh.

 

Họ sống đời thị dân của một thành phố ô hợp một cách hồn nhiên, vui vẻ.

 

Trẻ con Sài G̣n đă lớn lên, gắn bó với ngơ hẻm thân quen.

 

Và tôi bắt đầu yêu Sài G̣n với những cơn mưa bất chợt.

 

Sáng Chủ Nhật tôi đă cho phép ḿnh quên đi nỗi cô đơn trong thành phố quá đông người này, để một ḿnh đặt bước chân ngại ngùng trên lề đường Lê Lợi, t́m lấy niềm vui vô định và để thấy cuộc sống thật nhẹ nhàng mỗi khi nh́n ngắm những balcon kiểu Pháp thấp thoáng sau ṿm lá me xanh ở khu Nhà Thờ Đức Bà.

 

Dầu sao người Sài G̣n thuở ấy hoàn toàn tự do trong suy nghĩ, trong cảm xúc.


Sau một ngày cực nhọc, họ có thể chọn lựa đi xem Thanh Nga, Bạch Tuyết ở các rạp cải lương. Họ có thể say mê nghe Hùng Cường, Mai Lệ Huyền hát Túp Lều Lư Tưởng hay vào rạp xem Audrey Hepburn trong Vacance Romaine.

 

Họ có thể đọc thơ Quang Dũng, Huy Cận, Xuân Diệu, hát nhạc Đoàn Chuẩn, Văn Cao… chẳng cần biết mấy ông đó đang ở chức vụ nào bên kia chiến tuyến.

 

Người Sài G̣n không phải họp hành, hô khẩu hiệu.

 

Người Sài G̣n có thể đứng nghiêm ngả mũ chào đám tang một người không quen nhưng không khóc tổng thống Mỹ Kennedy khi ông qua đời.

Sài G̣n không có lănh tụ.

 

Hầu hết người miền Nam và người Sài G̣n coi cuộc chiến vừa qua là “Tai trời ách nước” (Nguyễn Bắc Sơn)

 

Đi lính, người Sài G̣n vẫn có thể nói “tôi chán cuộc chiến này” nếu họ thật sự nghĩ thế…

 

Và kư ức về Sài G̣n v́ vậy vẫn c̣n là những nỗi nhớ ngọt ngào.

 

 

HẾT

 

(*) Mượn ư thơ Nguyễn Đ́nh Toàn.

——–

(Nguồn: Thư Quán Bản Thảo số 66 – tháng 10-2015)

 

 

 

Huyền Chiêu

9/2015

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Lương Lệ Huyền Chiêu         |                 www.ninh-hoa.com