trang thơ & truyện Lương Lệ Huyền Chiêu                |                 www.ninh-hoa.com



 

 Lương L Huyền Chiêu

 Dạy học tại trường
Trung Học Bán Công
Ninh Ḥa trước
 năm 1975



Hiện cư ngụ tại:
Ninh Ḥa, Việt Nam

 

 

 

 

   

 

Cuối năm học lớp đệ tứ, thầy giáo dạy Việt văn tổ chức một buổi tổng kết về các tác giả. Thầy đặt câu hỏi cho cả lớp “ Trong chương tŕnh Việt văn chúng ta vừa học, em thích nhà thơ nào nhất?”

 

Câu trả của đa số là Nguyễn Du với Truyện Kiều. Một vài bạn nói thích Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chỉ ḿnh tôi trả lời là Trần Tế Xương.

 

Tôi chọn Trần Tế Xương không phải v́ hiểu thơ của ông mà v́ tôi thương ông ấy. Trần Tế Xương gợi tôi nhớ đến h́nh ảnh người cậu quá cố của tôi.

Cậu tôi biết chữ nho, lúc nào cũng vui vẻ hài hước và lúc nào cũng nghèo.

Mẹ tôi nói “người vợ đầu bỏ ổng v́ ổng …lười biếng “

 

Người vợ thứ hai chán ngán cảnh nghèo túng, bỏ đi làm ăn xa, cậu tôi sống một ḿnh trong ngôi nhà bà ngoại tôi để lại.

 

Cậu tôi chẳng có nghề nghiệp ǵ. Ông lại vụng về, không sửa được cái hàng rào, không lợp được cái mái nhà, không cầm được cái cuốc. Lạ thay, những ngón tay vụng về của ông lại thoăn thoắt trên phiếm cây đàn nguyệt, nhấn nhá uyển chuyển trên cây đàn c̣.

 

Mọi người trong xóm thương ông, đến chơi với ông để đánh cờ, nghe ông đàn và nghe ông kể chuyện tiếu lâm.

 

Cậu tôi thỉnh thoảng kiếm được vài đồng nhờ xem ngày, giờ cho người ta dựng nhà hay chôn cất. Lâu lâu ông đi thổi kèn đám ma.

 

Mặc cho lời than phiền của mẹ, tôi rất thương cậu tôi.

Đôi lúc tôi thấy ông ngồi yên lặng, mắt nh́n xa xăm tôi biết ông đang… đói và tôi không ngần ngại xúc trộm vài lon gạo của mẹ mang sang cho ông.

 

Nhà thơ Trần Tế Xương cũng nghèo và hài hước. Trẻ con rất thích những người hài hước. Chẳng phải đi xem hát chúng thích nhất là vai anh hề.

Hăy nghe Trần Tế Xương mô tả chân dung của chính ông:

 

“Ở phố Hàng Nâu có phổng sành

Mặt th́ lơ láo mắt th́ nhanh

Vuốt râu nịnh vợ con bu nó

Quắt mắt khinh đời cái bộ anh” (1)

 

Ông tú ấy sống trong một thời đại nho học đă suy vi :

 

“Cái học ngày nay đă hỏng rôi

Mười người đi học chín người thôi” (2)

 

Chung quanh ông xă hội đường như không c̣n nề nếp:

 

Nhà kia lỗi đạo con khinh bố

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng” (3)

 

Đó là thời mà các giá trị văn hóa Nho giáo đang tan ră, triều đ́nh ươn hèn, người dân đang bị khép lại trong kiếp sống của một đất nước bị trị bởi ngoại bang.

 

C̣n ông tú tài Trần Tế xương th́ biến thành một người đàn ông vô dụng, ăn chơi, trụy lạc.:

 

“Thua bạc đi ra với mẹ nhà

Bệnh ǵ không bệnh, bệnh tiêm la

Vui quá đến nỗi ra người dại

Lỡ bước cho nên nhắm mắt qua” (4)

 

Có quá nhiều bài viết mô tả Trần Tế Xương dựa theo những câu thơ ông tự trào.

Nào ông là kẻ trác táng :

 

“Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta

Chừa được thứ nào hay thứ đó

Có chăng chừa rượi với chừa trà” (5)

 

Rồi ông chỉ là một kẻ vô dụng, vô t́nh trút hết gánh nặng gia đ́nh cho vợ:

 

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi được năm con với một chồng” (6)

 

C̣n có loại người nào xấu xa hơn ông:

         

“Cao lâu thường ăn quỵt

Thổ đĩ lại chơi lường” 

 

Nhưng tôi không tin những điều ông nói.

Ông là người khôn khéo, trước khi cười người ông tự phê phán ḿnh.

 

Hăy nghe một người bạn học, ông Lương Ngọc Tùng vẽ lại chân dung Trần Tế Xương :

 

Cùng làng, cùng phố, học cùng trường

Nhớ rơ h́nh dung cụ Tú Xương,

Trán rộng, tai dày, da tựa tuyết,

Mồm tươi, mũi thẳng, mắt như gương.

Tiếng vàng sang sảng ngâm thơ phú,

Gót ngọc khoan khoan dạo phố phường.

Mấy chục năm trời đà vắng bóng,

Ngh́n năm c̣n rạng dấu thư hương

 

Với tôi, Trần Tế Xương không chỉ là nhà thơ tiêu biểu cho nền văn thơ trào phúng, làm sư tổ một văn đàn có những môn sinh như Tú Mỡ, tú Sụn, Tú Kếu, Cử Nạc, Tú Poanh, Đồ Phồn, Đồ B́…

Hơn thế nữa, ông là một nhà thơ với những nỗi ḷng bi ai, trằn trọc cho số phận của đất nước đang suy tàn, cho thân phận vô dụng của một kẻ sĩ trước thời cuộc quá gay go.

 

Và khi trở về với tâm trạng này, giọng văn của ông vô cùng cảm động:

 

“Trời không chớp bễ với mưa nguồn

Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn” (7)

 

Nằm nghe tiếng ếch kêu, ông nhớ tiếc một thời đất nước c̣n có tam cương ngũ thường, Người dân biết trọng Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, kẻ biết chữ Nho c̣n được trọng vọng:

 

“Sông kia rày đă lên đồng

Chỗ làm nhà cửa chỗ trống ngô khoai

Đêm nghe tiếng ếch bên tai

Giật ḿnh c̣n tưởng tiếng ai gọi đ̣” (8)

 

Khác hẳn với những giọng thơ bông phèn một cách thô lỗ, Trong sâu thẩm tâm hồn, Trần Tế Xương là một người rất thanh cao, dịu dàng và trân trọng t́nh bạn :

 

Ai ơi có nhớ ai không?

Trời mưa, một mảnh áo bông che đầu.

Nào ai có tiếc ai đâu?

Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô.

Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ

Kẻ về khóc trúc, than ngô một ḿnh

Non non, nước nước, t́nh t́nh

V́ ai lận đận cho ḿnh ngẩn ngơ.(9)

 

Một người đàn ông nhớ một người đàn ông ít ai viết được những câu “âu yếm” như thế này :

 

“Ta nhớ người xa cách núi sông

Người xa xa lắm nhớ ta không” (10)

 

Nói về t́nh cảm của Trần Tế Xương dành cho vợ, nhiều người nhắc đến bài “Thương Vợ”

Tôi thích bài Văn Tế Sống Vợ hơn. Bài phú có những ư tưởng rất mới, câu văn đáng yêu c̣n hơn bài thơ mới “T́nh Già” của Phan Khôi.

“Thế mà

Ḿnh bỏ ḿnh đi không than không thở

Hay ḿnh thấy tớ nay hàng Thao, mai phố Giấy mà bụng ḿnh ghen?

Hay ḿnh thấy tớ sáng Tràng Lạc, tối Viễn Lai mà ḷng ḿnh sợ?

Thôi th́

Chết quách yên mồ

Sống càng nặng nợ

…………………..”

 

Trần Tế Xương là một nho sinh lận đận, thi măi không đậu cử nhân.

Cùng thời, khoa thi năm canh tí 1900 Phan Bội Châu đậu thủ khoa trường Nghệ, Phan Chu Trinh đậu cử nhân thứ ba trường Thừa Thiên, Huỳnh Thúc Kháng đậu giải nguyên trường Quảng Nam.

 

Sau đó Phan Bội Châu đi Nhật t́m đường cứu nước, Phan Chu Trinh sang Pháp t́m cơ hội mở mang dân trí, Huỳnh Thúc Kháng trong nước là nhà cải cách văn hóa tích cực.

 

C̣n Tú Xương? Hăy nghe tâm sự buồn bă của ông:

 

“Một ḿnh đứng giữa quăng chơ vơ

Có gặp ai không để đợi chờ

Nước biếc non xanh trông vắng vẻ

Kẻ đi người lại dáng bơ bơ

Hói trời chỉ thấy mây xanh biếc

Đợi nước càng thêm tóc bạc phơ

Đường đất xa khơi ai mách bảo

Biết đâu mà ngóng đến bao giờ?” (11)

 

Đối với riêng tôi, trong cảnh đất nước tan tành, dân tộc lầm than, một người được gọi là kẻ sĩ, dù không làm được ǵ cũng c̣n biết ngồi buồn hỏi trời, hỏi đất, khóc v́ ngóng chờ một tương lai mù mịt là đáng quư lắm rồi.

 

 

                

 

(1) Phổng Sành

(2) Cái Học Ngày Nay

(3) Đất Vị Hoàng

(4) Bệnh

(5) Ba Cái Lăng Nhăng

(6) Thương Vợ

 (7) Đêm Buồn

(8) Sông Lấp

(9) Áo Bông Che Bạn

(10) Nhớ Bạn Phương Trời

(11) Lạc Đường

 

 

 

 

 

Huyền Chiêu

Tháng 7/2017

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Lương Lệ Huyền Chiêu         |                 www.ninh-hoa.com