trang thơ & truyện Lương Lệ Huyền Chiêu                |                 www.ninh-hoa.com



 

 Lương L Huyền Chiêu

 Dạy học tại trường
Trung Học Bán Công
Ninh Ḥa trước
 năm 1975



Hiện cư ngụ tại:
Ninh Ḥa, Việt Nam

 

 

 

 


 

CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH MIỀN NAM
HUYỀN CHIÊU
(Viết ngắn)
 

                                                                             Ảnh: Sưu tầm trên Internet



 

Có lẽ họ là những chiến b́nh gầy ốm nhất trong lịch sử các cuộc chiến.

Tôi đă xem h́nh người lính Y Uyên, Trần Hoài Thư, Vũ Hữu Định, Nguyễn Bắc Sơn…

Và sực nhớ ra thuở ấy so với lính Mỹ, lính Đại Hàn người lính miền Nam quá nhẹ kư.

Mà làm sao cao lớn được khi người dân Việt sống bằng những bữa cơm quá đạm bạc với ngày nào cũng chỉ một bát canh rau, đĩa dưa cà và một vài con cá kho mặn.

Bù lại việc làm của người dân Việt thuở ấy cũng khá thanh nhàn.

Không bao giờ phải gấp gáp, người nông dân mỗi sáng vác cuốc :

 

“Lững thững đi vào nắng mai” (1)

 

Cái cuốc trên vai cũng khá nhẹ nhàng so với sức vóc của người Việt.

 

Trẻ em nông thôn th́:
 

“Ngồi ḿnh trâu phất.

 ngọn cờ lau

Và miệng hát nghêu ngao”.(2)

 

Những cô cậu được cắp sách đến trường cũng lững thững đi bộ với cây bút và vài quyển vở trên tay.

Người dân thành phố mỗi chiều cũng chậm răi dạo gót và có rất nhiều thời gian để nh́n thấy nhau:

 

“Phố chiều bao tà áo trắng

Lượn trên hè phố nắng

Những cô nàng xinh

Đang tṛn trăng.

Có chàng đi t́m quá khứ

………………………..(6)

 

Bỗng nhiên chiến tranh ập tới như cơn lốc, cuốn hút cái dân tộc gầy ốm và ‘lững thững” ấy vào một trận cuồng phong khủng khiếp.

Những cậu bé 18 tuổi gầy nhom bỗng trở thành người lính và được trang bị vũ khí, quân dụng mà người chế tạo không dành cho những thanh niên chỉ nặng trên dưới 40 kí lô.

Đôi săng đan ṃn vẹt nhẹ hều đă được thay bằng đôi bốt nặng đến mấy kư, rồi mũ sắt rồi lựu đạn, rồi súng đạn rồi ba lô…

Người lính miền Nam bị tung ra chiến trường mà không biết tại sao ḿnh phải làm lính.

Hăy nghe người lính Nguyễn Bắc Sơn phát biểu:

 

“ta vốn hiền khô, ta là lính cậu

đi hành quân rượu đế vẫn mang theo

mang trong đầu những ư nghĩ trong veo

xem chiến cuộc như tai trời ách nước” (3)

 

người lính Nguyễn Bắc Sơn được phát cho cây súng nhưng anh cũng mù mờ về kẻ địch. Trong ḷng anh lúc nào cũng phân vân:

 

“Ta bắn trúng ngươi v́ ngươi bạc phước

V́ căn phần ngươi xui khiến đó thôi

Chiến tranh này cũng chỉ một tṛ chơi “ (3)

 

Thật nhẫn tâm khi bắt con người hiền khô chơi tṛ chơi giết chóc.

Và người thư sinh ngày nào đă trong cơn tuyệt vọng, trở thành kẻ du côn nổi loạn sau khi nhận ra:

 

“Lũ chúng ta sống một đ̣i vô vị

Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau” (3)

 

Nguyễn Bắc Sơn có câu thơ cảm động:

 

“Mai ta đụng trận ta c̣n sống” (*)

 

Thật đáng thương cho một thế hệ thanh niên mà sự sống được tính từng ngày:

 

Không “du côn:

 

“Về ghé Sông Mao phá phách chơi “

 

như Nguyễn Bắc Sơn, Trúc Phương buồn bă, đau đớn trong thân phận người lính : 

 

“Đơn vị thường xuyên

Nằm trên đất giặc

Thèm trong hăi hùng

Tiếng hát môi em

Tiếng hát ngọt mềm”

 

Thật thảm thiết nghe người lính Trúc Phương kêu gào:

 

“Đến với tôi

Hăy đến với tôi

Đừng yêu lính bằng lời”

 

Thương cho những chàng trai đang tuổi thanh xuân:

 

“không thèm đánh giặc

Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc” (3)

Sau:

 

“Bốn chuyến du hành một ngày mệt ngất”

 

Dừng chân giữa chốn núi rừng tươi đẹp, người lính miền Nam mơ mộng:

 

“hăy tựa gốc cây, hăy ngắm mây trời

Hăy tưởng tượng ḿnh đang đi picnic”(3)

 

Ngày các chàng lính miền Nam khoảng trên dưới 20 tuổi, tôi khoảng đôi tám trăng tṛn.

Nhưng thuở ấy tôi ngây thơ về chiến tranh và rất sợ những chàng lính “phá phách”.

Tôi vẫn thích hơn được:

 

“Chiều chiều đi trong nắng nhặt hoa rơi ép vào trang giấy”, (4)

 

Tôi sống ở thành phố, rất xa “những đóm mắt hỏa châu” nhưng lại gần với “Mùa Thu Paris” của Cung Trầm Tưởng. Tôi chưa biết buồn v́ vận hạn của dân tộc chỉ biết bâng khuâng khi “mùa thu vàng tới, là mùa lá vàng rơi” trong mùa Thu Vàng của Cung Tiến.

 

Nhưng nay tôi đă là mẹ của những đứa con trai. Tôi đă thấm nỗi đau của người mẹ :

 

“Đưa con về trần tủi nhục chung thân”(5)

 

Hàng triệu người lính trẻ gầy g̣, vô vọng đă bị quăng vào một cuộc chiến phi lư, nơi người ta :

 

Mang bom đạn chơi tṛ chơi pháo tết

Và máu xương làm phân bón rừng hoang (3)

 

Nơi “đàn con ra lính đi rồi không về” (5)

 

Hơn 40 năm qua rồi tôi vẫn khóc khi nghe câu hát:


”Đứa con của mẹ da vàng

Ru con ru đạn nhuộm hồng vết thương”

“Ôi vết thương nào đục sâu da nồng

Thịt xương này mẹ nhọc nhằn hôm mai” (5)    

 

Ghi Chú

 

(1) Thơ Bàng Bá Lân

 (2) Nhạc Phạm Duy

 (3) Thơ Nguyễn Bắc Sơn

 (4) Nhạc Hoàng Trọng

 (5) Nhạc Trịnh Công Sơn

 (6) Nhạc Hoàng Thi Thơ

 

 

 

Huyền Chiêu

8/2015

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Lương Lệ Huyền Chiêu         |                 www.ninh-hoa.com