Mục Lục

 

Trang B́a
     
Ban Biên Tập
 Lá TXuân
      Lê Thị Đào
 S Táo Quân
     
Lê Thị MChâu
 Câu Đối Tết
      Tư Nguyên & Vinh H

 

TVi


  TVi Năm Giáp Ngọ 2014
      
Phạm Kế Viêm
 Vận Hạn Năm Giáp Ngọ 2014 Của Những Người Tuổi Ngựa
      
Phạm Kế Viêm

 

Xuân Giáp Ngọ
 


Hoài Tết
     
Ngọc Anh
Giao Thừa Hoài Niệm
     
ĐThị Hương B́nh
Chúc Tết - Được Lời
     
 Liên Khôi Chương
Khai Bút
     
Cù Hà
Xuân Giáp Ngọ 2014
     
THải
Chào Xuân Giáp Ngọ 2014
     
Nguyên Kim
Giáp Ngọ 2014
     
Bạch Liên
Đầu Xuân Khai Bút -
Chúc Xuân

     
Lâm Ngọc
Đón Mừng Xuân
     
Nguyễn Thị T
Chợ Dinh Ninh Ḥa Trong Những Ngày Gần Tết Giáp Ngọ
     
Trần Anh Tuyến
Tân Niên Cung Chúc
T
iểu Vũ Vi

 

Năm Ngọ Nói Chuyện Ngựa
 

Năm Ngọ Nói Chuyện Ngựa
Nguyễn Chức
Tây Sơn NThần Mă
    Quách Giao    
Năm Giáp Ngọ KChuyện Xe Thổ M
   Việt Hải Los Angeles
Năm Ngọ Tản Mạn VNgựa
    Vinh H
Những Huyền Thoại Ngựa
    Vinh H
Con Ngựa Q Tôi
   Nguyễn Xuân Hoàng
Tản Mạn Năm Giáp Ngọ

Nguyễn Văn Thành

 

Tết KChuyện
 

Lịch
     
 Loan Anh
 Cuộc Viếng Thăm Gia Đ́nh Anh Chị Lê Phụng Chữ  -  Nguyễn Thị Lộc
Lê Ánh
Kư c Nơi Góc Bếp
     
 Lê Thị M Châu
Qua Cầu T́nh Xa
     
 Liên Khôi Chương
Lo Tết
     
 Nguyễn Hiền
Tết KChuyện Chơi Chim
     
 Nguyễn Hiền
Buổi Tiệc Cuối Năm
     
 Mai Thị Tuyết Hồng
Mùa Xuân Trong Tim
     
Bạch Liên
Những Mẩu Chuyện Đêm Giao Thừa
     
 Trần N Phươmg
Con CLu
     
 Phạm Thị Thục
Tết Ninh Ḥa
     
 Phạm Thị Thục
Bạn Và Tôi
     
 Hà Thị Thu Thủy
 

 

T Xuân
 


Mơ Một Ngày Mai
     
 Liên Khôi Chương
Viết Cho Năm Nhuần
     
 Nguyễn Hiền
Chúc Mừng Năm Mới
     
 Song H
Chùm THaiku
       Vinh H
Vịnh Chiến Mă
       Vinh H
 Đón Xuân Giáp Ngọ
      Phan Phước Huy
 Miên Man Hồng
Nguyễn Thị Khánh Minh
Nhớ Xuân Nào?
     
 Lê Văn N
 Xuân V B Ngọn Sầu Đông
      Kim Thành


 

XUÂN Ca Hát


  Nhạc Xuân Và Q Hương

     
Lan Đinh, Lan Hương, Lư H
Lương L Huyền Chiêu,
Hà Thị Thu Thủy
 

 

Cắm Hoa Trang T



  Nghệ Thuật Cắm Hoa

 
     Lê Thị Lộc

 

 

Hoa Xuân
N
gày Tết
 

  H́nh nh Hoa Xuân
Hải Lộc


 

Tản Mạn
Hoa Xuân
 


 
Hoa Cúc Trong Đời Sống Của Con Người
    Vơ Hoàng Nam
Mùa Xuân, Hoa Và Con Người
    Vơ Hoàng Nam



 

d_bb
Đ.H.K.H
 


  Cung NTriều Tống
    Đàm Quang Hưng
  Thanh Phong Thi Tập-171
     
 Vũ Tiến Phái
 
 Phật Bà Quan Âm
      
Lê Phụng
 Thanh - Tâm Tài - Nhân Thi - Tập T
      Nguyễn Hữu Quang
  Alice Munro, Giải NOBEL Văn Học 2013
       Nguyễn Đức Tường
 
 TVi Năm Giáp Ngọ 2014
      
Phạm Kế Viêm
 Vận Hạn Năm Giáp Ngọ 2014 Của Những Người Tuổi Ngựa
      
Phạm Kế Viêm



 

Biên Khảo
Kinh Tế
 

Việt Nam

  Tổng Kết T́nh H́nh Kinh Tế
Việt Nam Năm 2013

Nguyễn Văn Thành


H
oa Kỳ/Thế Giới

  Tổng Kết T́nh H́nh Kinh Tế
M Quốc & Thế Giới Năm 2013

Nguyễn Văn Thành

 

 

Sinh Hoạt Với
Câu Lạc B
 
T́nh Nghệ Sĩ

 

 Video Clips / H́nh nh      Sinh Hoạt
Ninh-HoaDOTcom
 Một Chuyến Xuôi Nam Cali Đầu Năm 2014
Trâm Anh
 Nhật Kư Tháng 9/2013
Trâm Anh
 
 Chuyến Đi Orange County, California
Lê Ánh
 
 Gặp GNha Sĩ Cao M. Hưng
Lê Ánh
 Buổi Ra Mắt Sách "Thuở Phiêu Bồng" Tại Nam Cali 5/1/2014
Trần Thị Chất 
 Lời Cảm TSau Ngày Ra Mắt Sách Thuở Phiêu Bồng
Phạm Thanh Khâm
 Tóm Lược Sinh Hoạt Trang Web Ninh-HoaDOTcom
Lê Văn N

 

Văn Hóa
m Thực



Bếp Đô Thị
Loan Anh
Rượu Chuối
Loan Anh
 Tản Mạn Hương VQN
Hoàng Bích Hà 
 Tản Mạn Món QTBàn Tay M
Hoàng Bích Hà
Nước Dừa Dâng Trời
     
Bạch Liên
Cách Làm Dưa G
   Bắp Ḅ Kho Gừng

    Hà Thị Thu Thủy
 

 

Sức Khỏe

      

 Bệnh Suyễn
Bs Lê Ánh
Thuốc Ngừa BCG

      
BS Nguyễn Vĩ Liệt
 

 

Du Lịch

      

 
Las Vegas, Tour Hội Ngộ

      Nguyễn Thị Lộc

 


Viết v
ninh-hoa.com




 Tôi Thương
      Trần Thị Chất
 Mùa Xuân KNiệm
      Phan Phước Huy

 

 KNiệm V
Trường:

 

  Trường Minh Văn Ngày y
      Mai Thị Hưng Hồng
 
 Hành Tŕnh Đi Học Trường Chu Văn An
Phạm Thanh Khâm
Nhớ Xuân Trường Xưa
     
Bạch Liên
Mùa T Ơn Năm 2013

      Trần Hà Thanh
Mùa Xuân Tản Mạn V Đặc San Hội Ngộ 2007

      Người XVạn
 

 

Văn Học
Nghệ Thuật
 


 
Cho Chữ Ngày Xuân - Một Nét Văn Hóa

      
Mục Đồng
Một Chút TVăn Năm Ngựa

      
Trần Việt Hải
  
Bắc Hành Tạp Lục:
      
Bài Số: 38-39

      Dương Anh Sơn
  Họa Bài Thơ: " Sáng Ngời Tâm Bút"

Lư Hoàng Oanh
  Di Lặc Chơn Di Lặc

      
TBửu Nguyễn Thừa
  Đêm Qua Sân Trước - Một Cành Mai

      
TBửu Nguyễn Thừa
Duyên Dáng Mùa Xuân
T
iểu Vũ Vi

 

 

T

 

   Mùa Xuân Này Có Ai VQua Đó
Loan Anh
 TPháp
Thu Bốn
Ninh Ḥa Năm Nào
     
 Liên Khôi Chương
 Tiếng Xuân
Lê Thị Đào
 Trái Tim Tôi
Lê Thị Mộng Điệp
 CThành Oanh Liệt
Thủy Khánh Điền
 Chạm Vào Mùa Xuân
Hoàng Bích Hà 
 Chờ
Lê Thị Ngọc Hà
 VLại Trường Xưa
Lê Thị Ngọc Hà
Mai Tươi
     
Việt Hải LA
 Biển Tím -Qua Biển T́nh Sầu
Nguyễn Thị Phương Hiền
Khúc Miên Trường
    NGH(NH) Nguyễn Văn Ḥa
Xuân Ơi
     
 Lư H
Mùa Xuân Trên Non Cao
     
 Nguyễn Tường Hoài
 Câu Chuyện Đầu Năm
      Phan Phước Huy
 Nha Trang Biển Hẹn
      T Kim Huy
Tặng Ngoại Đóa Mai Vàng
     
 Cao Minh Hưng
 Ngậm Ngùi Kư Văng
      Nam Kha
 Đuốc Chân Lư
      Phạm Văn K
 T́nh Xuân-Xuân Hạnh Phúc
      Hoàng Công Khiêm
Biển Nha Trang, Mùa Xuân Và Nỗi Nhớ
  Nguyễn Thị Lộc
 Thấp Thoáng Xuân
Thạch Lựu
 Mai Trắng
Nhất Chi Mai
 NTrăng Đêm Trừ Tịch
Nguyễn Thị Khánh Minh
Mùa Xuân Và Em
    Vơ Hoàng Nam
Tôi Gặp Anh, Người Lính Địa Phương Quân
    Lê Thị Hoài Niệm
 Mùa Xuân KNiệm
Thụy Nguyên
Xuân Hoa Cảnh
    Trương Khắc Nhượng
Xuân Về - Xa N
Lê Văn Phan
T́nh Cuối
Lương LBích San
Nha Trang Phố Biển
Nguyễn Đông Sanh
Ngóng Chờ Mùa Xuân Mới
Dương Anh Sơn
 Nghe Mưa Nhớ Người
      Kim Thành
 Xuân
      ThiThi
Mừng Xuân Với Nhất Chi Mai

      Huỳnh T́nh
 Đào Thắm
      Hp-TnP
Thành Kính PHẬT Đài
    Nguyễn Thị Thanh T
Tháng Giêng Anh Đă Thấy Xuân V Hay Chưa
    Tiểu Vũ Vi
Biển Hẹn
    Lê Vũ

 

Văn

 

  THăm Ba Đă Nghe Ḷng Nguyên Đán
Loan Anh
 
 Vẫn C̣n Đó Mùa Xuân Trong Tôi
Vân Anh
Cuối Năm Sao Mà Nhớ...
     
 Lê Thị M Châu
Thời Gian Tựa Cánh Chim Bay
Lương LHuyền Chiêu
 Những Con Đom Đóm
Khuất Đẩu
 Đà Nẵng Trong Tôi...
Lê Thị Mộng Điệp
 Khóm Thiết Mộc Lan
Quách Giao
 Con Sông Tuổi T
Hoàng Bích Hà
Chuyện Con Đốm
     
 Nguyễn Hiền
Giọng Khổ
     
 Nguyễn Hiền
 
 Những Sân Ga
Nguyễn Thị Phương Hiền
Hoài Niệm Xót Xa
     
 Nguyễn Tường Hoài
Cái Đẹp Của Xuân
     
 Lư H
Xuân Ḷng
     
Phan Phước Huy
Nó...
     
 Đinh Thị Lan
GXuân
     
Bạch Liên
Xuân VMang Nỗi Nhớ Với Suy Tư
 
 Hải Lộc
Mùa Xuân Và Ḍng TCũ
     
HThoại M
Không KTrước Tết Của NTôi
Lê Văn Phan
Đừng Nên Phóng Đại Nghịch Cảnh
     
Lê Văn Quốc
Hoài Niệm - Kư c Ninh Ḥa
     
Trần Đ́nh Nguyên Soái
 Cưng Chồng
Mai Thái Vân Thanh
 Dă Quỳ Ơi !
Tiểu Thu
 Mưa Chiều KNiệm
Lư Ṭng Tôn
 

 

Tưởng Niệm
 

 Ngậm Ngùi Thương Tiếc
Nguyễn Văn Thành
 Vĩnh Biệt Anh SXương Hải
Nguyễn Thị Thanh T

 

 

 

 

Thư từ, bài vở, h́nh ảnh hoặc
ư kiến xây dựng, xin liên lạc:



diem27thuy@yahoo.com

 



 

 


 


 

 

 

 

                                         

L

ịch sử thuốc ngừa BCG đi đôi với thuốc ngừa đậu mùa. Jean Antoine Villemin đầu tiên phát hiện bệnh lao ở trâu bò vào năm 1854 và sự lan truyền của nó. Bác sĩ Robert Koch đầu tiên phân biệt được giữa Mycobacterium bovis và Mycobacterium tuberculosis. Theo sau sự thành công của chủng ngừa bệnh đậu mùa trong thế kỷ 18, các nhà khoa học đã nghỉ theo phương pháp này trong bệnh lao bằng cách rút ra giống nhau giữa bệnh lao bò và bệnh đậu mùa trên bò (cowpox). Họ đã sai lầm vì bệnh lao do vi khuẩn (bacteria) và bệnh đậu bò do siêu vi khuẩn (virus). Họ đưa ra giả thuyết rằng nhiễm trùng với lao bò có lẽ bảo vệ chống lại nhiễm trùng với bệnh lao người. Vào cuối thế kỷ 19, những thử nghiệm lâm sàng dùng M. bovis đã được thực hiện ở Ý với những kết quả tai hại, bởi vì M. bovis đã được phát giác có tính dữ như M. tuberculosis.

 

Albert Calmette, một bác sĩ và nhà vi trùng học Pháp. Camille Guérrin, một bác sĩ thú y và đã là phụ tá của ông Albert Calmette. Họ đã đang làm việc tại Institut Pasteur de Lille (Lille, Pháp) vào năm 1908. Họ đã cấy những dòng dữ của vi khuẩn lao trên những môi trường cấy khác nhau. Họ đã ghi nhận một hỗn hợp glycerin-chất mật-khoai tây (Glycerin-bile-potatoes) nuôi những vi khuẩn ít có tính dữ hơn. Và họ đã tiếp tục cấy trở lại để sản xuất một dòng vi khuẩn bị yếu đi đủ để xử dụng như một thuốc chủng ngừa. Nghiên cứu đã tiếp tục xuyên qua Đệ Nhất Thế Chiến cho đến năm1919. Khi những vi khuẩn không có tính dữ và không thể gây bệnh lao trong những động vật thí nghiệm. Họ đã chuyển sang Viện Pasteur ở Paris vào năm 1919. Thuốc chủng BCG đầu tiên được xử dụng ở người vào năm 1921.

 

Vào mùa hè năm 1930 ở Lübeck, 240 trẻ sơ sinh được chủng ngừa trong 10 ngày đầu tiên của cuộc đời; hầu hết tất cả đã phát triển bệnh lao và 72 trẻ sơ sinh đã chết. Tiếp theo sau đó nó được khám phá ra rằng BCG đã chích cho trẻ sơ sinh đã bị ô nhiễm với một dòng vi khuẩn dữ đã đang được chứa trong cùng một máy ủ.

Bác sĩ R. G. Ferguson, làm việc tại nhà điều dưỡng Fort Qu’Appelle ở Saskatchewan, Canada, đã là một trong những nhà tiên phong trong phát triển việc chủng ngừa chống lại bệnh lao. Trong năm 1928, BCG đã được chấp nhận bởi Hội Đồng Y Tế của các quốc gia (tiền thân của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế, WHO). Bởi vì sự chống đối, nó đã không được xử dụng sau Đệ Nhị Thế Chiến. Từ năm 1945 đến năm 1948, những tổ chức cứu trợ (International Tuberculosis Campaign hay Joint Enterprises) đã chủng ngừa hơn 8 triệu trẻ sơ sinh ở Đông Âu và đã ngăn ngừa sự gia tăng điển hình được tiên đoán trước của bệnh lao sau một trận chiến lớn.

 

 BCG đã được cho là hiệu quả chống lại lao màng năo trong nhóm trẻ con, nhưng hiệu quả của nó chống lại lao phổi xuất hiện là không chắc chắn. Vào năm 2006, chỉ vài quốc gia không dùng BCG theo thông lệ chủng ngừa cho người trưởng thành. Mỹ và Hòa Lan chưa bao giờ xử dụng nó một cách theo thông lệ. Trong cả hai quốc gia, thuốc ngừa BCG không thông thường chủng cho người đã trưởng thành bởi vì họ nghĩ rằng có một thử nghiệm tin tưởng được Mantoux test và có khả năng phát hiện chính xác bệnh đang hoạt động là có lợi cho xã hội hơn là chủng ngừa một tình trạng mà bây giờ tương đối hiếm ở những quốc gia đó. Nghiên cứu mới đây bởi Imperial College London đã nghiên cứu thay vì phát hiện những chất đạm mới của thành tế bào vi khuẩn lao. Nó kích động sự đáp ứng của miễn nhiễm và thích hợp cho xử dụng trong một thuốc chủng ngừa để cung cấp sự bảo vệ lâu dài chống lại M. tuberculosis. Nghiên cứu này đã vạch ra một vài chất đạm như vậy, chất đạm hứa hẹn nhất được đặt tên EspC; nó lôi kéo một phản ứng miễn nhiễm rất mạnh, và là đặc biệt cho M. tuberculosis.

 

 BCG có tính hiệu quả biến đổi được tìm thấy trong những thử nghiệm khác nhau, xuất hiện tùy thuộc trên địa lý. Những thử nghiệm được thực hiện ở Anh Quốc đã cho thấy trước sau như nhau một hiệu quả 60% đến 80%, nhưng những thử nghiệm đó ở những nơi khác cho thấy không hiệu quả bảo vệ. Sự hiệu quả tuột xuống, khi quốc gia đó gần đường xích đạo hơn.

 

Một duyệt xét có tính hệ thống năm 1994 đã phát hiện rằng BCG làm giảm rủi ro mắc phải bệnh lao vào khoảng 50%. Có những khác biệt trong sự hiệu nghiệm, tùy thuộc vùng do những yếu tố như là những khác biệt di truyền trong những dân số, những thay đổi trong môi trường, sự tiếp xúc với những nhiễm trùng khác, và những điều kiện trong phòng thí nghiệm nơi mà thuốc chủng được cấy, bao gồm những di truyền khác nhau giữa các dòng được cấy và sự lựa chọn của môi trường cấy.

 

Khoảng thời gian bảo vệ của BCG là không rơ ràng. Trong những nghiên cứu đó cho thấy một hiệu quả bảo vệ, những dữ kiện là không đồng nhất. Nghiên cứu MRC đã cho thấy sự bảo vệ phai nhạt dần đến 59% sau 15 năm và số không sau 20 năm; tuy nhiên, một nghiên cứu nhìn lại những người thổ dân Mỹ được chủng ngừa vào thập niên 1930s đã phát hiện sự bảo vệ ngay cả sau 60 năm chủng ngừa, với chỉ phai nhạt một ít trong tính hiệu quả. Điều này đã được chứng minh ngược lại tại Canada. Những thổ dân của tỉnh Manitoba, Canada vẫn có tỉ lệ bệnh lao cao nhất trong các dân số tại đây dù họ đã được chủng ngừa lao một cách phổ biến nhất trước đây. Một số lý do có thể xảy ra cho tính thay đổi hiệu quả của BCG trong những quốc gia khác nhau đã được đưa ra, nhưng không lý do nào được chứng minh cả, và không một lý do nào có thể cắt nghĩa sự thiếu hiệu quả trong cả những quốc gia có gánh nặng thấp với lao (như Mỹ) và những quốc gia với gánh nặng bệnh lao cao (như Ấn Độ). Những lý do cho tính biến đổi trong hiệu quả đã được thảo luận dài trong một tài liệu của WHO về BCG.

 

Sự biến đổi di truyền trong những dòng BCG:sự biến đổi trong di truyền trong những dòng BCG được xử dụng có thể cắt nghĩa tính hiệu quả biến đổi được tường trình trong các thử nghiệm khác nhau.

 

Sự biến đổi di truyền trong những dân số: những dị biệt di truyền hợp thành của những dân số khác nhau có thể cắt nghĩa sự khác biệt trong tính hiệu quả. Birmingham BCG trial đã ấn hành trong năm 1988. Thử nghiệm gốc ở Birmingham, Anh Quốc, khám nghiệm những trẻ con đã sinh trong những gia đình có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ (nơi mà tính hiệu quả thuốc chủng trước đây cho thấy là số không) thử nghiệm đã cho thấy một hiệu quả 64% hiệu quả bảo vệ, rất tương tự như con số từ những thử nghiệm khác ở Anh, vậy nó đã chứng minh rằng giả thuyết sự biến đổi của di truyền là không đúng.

 

Sự can thiệp bởi những vi khuẩn mycobacteria không phải lao: Sự tiếp xúc mycobacteria trong môi trường (đặc biệt M. avium, M. marinum và M. intracellulare) đưa đến kết quả trong một đáp ứng miễn nhiễm chống lại mycobacteria. Chủng BCG cho ai đó đã có một đáp ứng miễn nhiễm không đặc biệt chống lại mycobacteria không làm gia tăng sự đáp ứng đã có. BCG do đó sẽ xuất hiện như không hiệu quả, bởi vì người đó có sẵn một mức độ của tính miễn nhiễm và BCG không thêm vào tính miễn nhiễm đó. Hiệu quả này được gọi là che đậy (masking), bởi vì hiệu quả của BCG bị che đậy bởi mycobacteria trong môi trường. Bằng chứng lâm sàng cho hiệu quả này đã được tìm thấy trong một loạt của những nghiên cứu được thực hiện song song trong những trẻ con thiếu niên đi học ở Anh và Malawi. Trong nghiên cứu này, trẻ con đi học ở Anh đã có tính miễn nhiễm căn bản thấp với mycobacteria mà đã được gia tăng bởi BCG; trái lại, trẻ con đi học ở Malawi đã có tính miễn nhiễm căn bản cao với mycobacteria và điều này đã không bị gia tăng đáng kể bởi BCG. Có hay không sự đáp ứng tự nhiên này là bảo vệ là không rỏ. Một cắt nghĩa thay thế được gợi ý bởi những nghiên cứu ở chuột nhắt; tính miễn nhiễm chống lại mycobacteria ngừng BCG sinh sản và ngừng như vậy nó không sản xuất ra một đáp ứng miễn nhiễm. Điều này được gọi là giả thuyết ngăn chận.

 

Sự can thiệp bởi nhiễm ký sinh trùng cùng lúc: Trong một giả thuyết khác, nhiễm ký sinh trùng cùng lúc làm thay đổi sự đáp ứng miễn nhiễm với BCG, làm cho nó ít hiệu quả. Khi đáp ứng Th1 cần cho một đáp ứng miễn nhiễm hiệu quả với nhiễm lao, nhiễm trùng cùng lúc với những ký sinh trùng khác nhau sản xuất một đáp ứng Th2 cùng lúc, mà nó làm cùn đi hiệu quả của BCG.

 

Tiếp xúc với ánh sáng cực tím: Tập trung của ánh sáng cực tím (đặc biệt ánh sáng UVB) từ mặt trời có thể có vài hiệu quả của thuốc chủng BCG. UBV đã được chứng minh làm giảm hiệu quả của thuốc chủng BCG trong guinea pigs trong phòng thí nghiệm. Nồng độ gia tăng của ánh sáng UBV theo địa lý gần đường xích đạo địa cầu. Dù vậy hiện không có nghiên cứu, hiệu quả này có lẽ xảy ra như một kết quả của sản phẩm sinh tố D tùy thuộc vào ánh sáng mặt trời.

 

Bệnh lao: Xử dụng chính của BCG là cho chủng ngừa chống lại bệnh lao. Thuốc chủng BCG có thể thực hiện sau khi ra đời qua chích vào trong da. Thuốc chủng BCG được cho vào trong da bởi một người y tá có kỹ thuật trong cách chích này. Một chủng ngừa BCG trước đây có thể gây ra dương tính giả tạo Mantoux test, mặc dù một kết quả đọc được rất cao thường do bệnh hoạt động.

 

Tuổi của bệnh nhân và tỉ lệ với BCG được chích đã luôn luôn biến đổi từ quốc gia này đến quốc gia khác.

 

Chính sách của WHO về BCG: WHO đề nghị BCG được chích cho tất cả trẻ con sinh ra trong những quốc gia dịch xảy ra quanh năm cho TB bởi vì nó bảo vệ chống lại bệnh lao kê và viêm màng năo lao.

 

Mỹ: Mỹ đã không bao giờ xử dụng chủng ngừa cho dân chúng, thay vì họ tin tưởng vào sự khám phá và trị liệu của bệnh lao tiềm ẩn. Đây là điều tôi luôn ủng hộ khi đứng trên địa vị của một bác sĩ chuyên trị bệnh lao.

 

Pháp: BCG đã là bắt buộc cho trẻ con đi học giữa 1950 (Luật no. 50-7 vào ngày 5 tháng 1 năm 1950) và 2007 (sắc lệnh no. 2007-1111 vào ngày 17 tháng 7, 2007) và cho những chuyên viên y tế giữa 1947 và 2010. Thuốc chủng vẫn còn có sẵn cho các chuyên viên y tế Pháp và những người làm việc xã hội nhưng bây giờ được quyết định trên căn bản từng trường hợp.

 

Anh Quốc: Anh Quốc đã đưa ra chương trình chích ngừa BCG cho dân chúng trong năm 1953, và cho đến 2005, chính sách Anh Quốc đã là chủng ngừa tất cả trẻ đi học ở tuổi 13, và tất cả trẻ sơ sinh trong nhóm có rủi ro cao. Chích chỉ một lần trong cuộc đời (vì không có bằng chứng của sự bảo vệ thêm nữa từ chích hơn một lần). BCG cũng đã được cho để bảo vệ người đã tiếp xúc bệnh lao. Đỉnh cao của tỉ lệ bệnh lao là trong thời thiếu niên và khởi đầu trưởng thành, và thử nghiệm MRC đã cho thấy sự hiệu quả được kéo dài chỉ 15 năm là nhiều nhất. Styblo và Meijer không đồng ý cho rằng chủng ngừa trẻ sơ sinh được bảo vệ chống lại bệnh lao kê (miliary TB) và những thể khác không truyền nhiễm của lao, và không phải bệnh lao phổi đã là bệnh của người đã trưởng thành, và rằng chủng ngừa đại chúng với BCG không hy vọng có tác động đáng kể trên đại chúng. Vì những điều này và những lý do khác, BCG do đó được cho vào thời điểm bệnh lao có tỉ lệ cao của bệnh lao phổi. Chủng ngừa thông thường với BCG đã được rút lại trong năm 2005 bởi vì tính hiệu quả so với giá tiền kém: trong khi đó trong năm 1953, 94 trẻ con được chích ngừa để ngăn ngừa một trường hợp bệnh lao, vào năm 1988, tỉ lệ bệnh lao ở Anh Quốc đã tuột xuống rất nhiều, 12,000 trẻ con có lẻ sẻ được chủng ngừa để ngăn ngừa một trường hợp bệnh lao. Điều này nói lên chủng ngừa BCG tốn kém nhiều nhưng không đạt kết quả như mong muốn! Tại sao chúng ta tiếp tục làm một điều phung phí này?

 

Ấn Độ và Pakistan: Ấn Độ và Pakistan đã đưa ra chủng ngừa đại chúng trong 1948, đây là những quốc gia đầu tiên ngoài Âu Châu thực hiện.

 

Brazil: Brazil đã đưa chương trình chủng ngừa đại chúng BCG trong năm 1967-1968, và thi hành tiếp tục cho đến bây giờ. Theo luật của người Brazil, BCG được cho trữ lại cho những chuyên viên y tế và những người gần gũi với bệnh nhân lao hay cùi.

 

Norway: ở Norway BCG đã là bắt buộc từ 1947 đến 1995. Nó vẫn còn có sẵn và được đề nghị cho những nhóm người có rủi ro cao.

 

Nam Phi: Ở Nam Phi, BCG được cho thường xuyên lúc vừa ra đời, cho tất cả những trẻ sơ sinh, ngoại trừ những trẻ có triệu chứng lâm sàng AIDS. Nơi chủng ở vai phải.

 

Những quốc gia khác: trong vài quốc gia, như Liên Bang Xô Viết cũ, BCG đã được cho thường xuyên suốt đời. Ở Nam Hàn, Singapore, Đài Loan và Mã Lai Á, BCG đã được cho vào lúc ra đời và ở tuổi 12. Nhưng ở Mã Lai Á và Singapore, từ 2001, chính sách này đã thay đổi chỉ cho một lần lúc ra đời.

 

Năm 1982, tôi bắt đầu làm nội trú tại đại học Manitoba ở Winnipeg. Ngày đầu tiên, tôi được một bác sĩ thường trú giới thiệu một trường hợp của một thổ dân đã được giải phẫu cắt bỏ ruột thừa cách đó 6 tháng. Bà ta vẫn còn sốt và bị viêm phổi. Các bác sĩ đã xử dụng nhiều loại thuốc trụ sinh khác nhau nhưng vẫn không đạt kết quả như mong muốn. Họ chán nản và tính giao trường hợp này cho tôi vì không hy vọng gì! Sau khi trình bệnh án, tôi được bác sĩ thường trú dẫn xuống khu quang tuyến X để xem hình phổi. Tôi phát hiện một bóng mờ nhỏ chừng 0.5 cm trên đỉnh phổi phải. Tôi phát biểu: Đây có thể là một hang (cavity) ở phổi đây. Bác sĩ quang tuyến phản đối nhưng bác sĩ xếp của thường trú (xếp của tôi) nhẹ nhàng bảo:

Tại sao ngài không để cho học trò làm theo ý muốn. Nếu có sai, hắn cũng học được một bài học để đời?

Người bác sĩ quang tuyến hỏi tôi:

Anh muốn tôi làm cái gì đây để anh được học hỏi thêm?

Tôi trả lời ngay:

Xin cho một số hình quang tuyến cắt lớp (topography x rays)

Ông ta nói với bác sĩ thường trú: Chiều nay cô và bác sĩ trẻ này sẽ được như ý!

Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi được gọi xuống tự xem hình quang tuyến mới vì bác sĩ quang tuyến bận không xem trước được. Kết quả là tôi thấy một hang lao khoảng 2-3 cm trên thực tế. Trận chiến đã xảy ra giữa hai bên. Bác sĩ thường trú (chief resident) và tôi (intern) một bên. Còn bên kia là tất cả các bác sĩ giải phẫu (surgeons) của bệnh viện ngoại trừ bác sĩ mổ tim là những vị thầy của tôi! Chúng tôi bàn căi qua nhiều hội thảo nhưng không phe nào được thuyết phục. Trường hợp này đã được đưa lên hội thảo của toàn khu giải phẫu của đại học.

 

Lần này, xếp của tôi, chief resident bị các vị giáo sư mắng không còn thể thống gì cả. Cô ta chỉ nói một câu:

Tôi vì sự học hỏi cho các bác sĩ tương lai. Liệt đưa ra những ý nghĩ thay thế (alternative idea) mà 6 tháng qua không ai có thể nói được là cái gì! Tại sao quý vị không cho chúng tôi 8 tuần để lấy kết quả cấy lao?

 

Mọi người vẫn o ép chúng tôi dẹp cái trường hợp này vì họ cho rằng người đàn bà thổ dân này đã được chủng ngừa BCG ít nhất là một lần. Tôi đứng dậy và bàn luận rằng:

Trong 4 trường hợp có hang (cavity) trong phổi, chúng ta đều không loại bỏ được khả năng có vi khuẩn lao. Như vậy gần như chắc chắn rằng đây là một trường hợp lao. Quý vị không có một giả thuyết nào cắt nghĩa hợp lý hơn nữa! Xin quý vị tạm thời chấp nhận nó cho đến khi có bằng chứng gì hay hơn nữa!

 

Sau khi dứt lời, tôi bị la ó át tiếng nói của mọi người. Một giáo sư chuyên mổ tim liền đứng dậy. Ông ta nói một cách giận dữ:

Quư vị quên đây là một đại học rồi sao? Những lời nói của cô thường trú và cậu nội trú là những gì chúng ta muốn cho mọi sinh viên y khoa phải thấm nhuần triết lý của nó. Tôi thấy cậu nội trú lý luận có tính cách khoa học và không ai có một ý kiến nào có thể hợp lý hơn hiện giờ. Tại sao chúng ta không chờ đến khi có kết quả cấy vi khuẩn lao!

 

Mọi người đều đồng ý trên quan điểm này. 8 tuần đã đến, tôi cũng quên hết mọi chuyện đã bàn căi. Tôi đang đi xem một trường hợp để cùng với bác sĩ thường trú, xếp của tôi rút mủ từ một túi mủ ở lưng của một bệnh nhân lao. Thình lình tôi phải trả lời một cái gọi từ y tá trong khu giải phẫu một cách khẩn cấp. Sau khi chụp cái phone trả lời. Tôi nghe một giọng của một y tá:

Dr. Liệt, you should not continue your internship anymore because you are right all along. It is a pulmonary tuberculosis! Go home, man! (Bác sĩ Liệt, anh không nên tiếp tục nội trú nữa bởi vì anh nói đúng lâu nay. Đó là trường hợp lao phổi! Về nhà đi anh.).

 

Tôi vừa mừng nhưng cũng vừa lo. Bác sĩ Virginia Fraser, thường trú và là xếp của tôi bảo:

Bác sĩ Hershfield muốn thảo luận với anh về bệnh lao.

 

Chúng tôi đã thảo luận với tôi về những trường hợp lao đã được chủng ngừa BCG ở Canada và Việt Nam, ông ta đã quyết định chấm dứt chủng ngừa BCG cho dân chúng tại tỉnh bang Manitoba. Lý luận của tôi là chủng ngừa BCG tốn kém làm thuốc chủng với những tai nạn có thể xảy ra do sai lầm. Và theo kinh nghiệm của tôi ở Việt Nam, BCG không ngừa được bệnh lao phổi, lao kê, và viêm màng nảo lao. Bác sĩ Hershfield đã nói với tôi: “Tôi không cảm thấy cô đơn trong quyết định này nửa”. Ông ta triệu tập một đại hội toàn các khu của đại học y khoa Manitoba. Ông ta nháy mắt cho tôi khởi đầu phát biểu ý kiến trong trường hợp lao ở người đàn bà thổ dân. Tôi kết luận rằng:

BCG không ngừa được bất kể loại lao nào ở Việt Nam cũng như ở Canada.

 

Tôi lại bị la ó và bảo sit down and shut up! Bác sĩ Hershfield, chief of TB pavillion of Manitoba ra dấu cho mọi người im lặng. Và ông từ tốn nói:

Các anh chị là người phải sit down và shut up. Liệt, anh ta biết anh ta nói cái gì (All of you should sit down and shut up. Liệt, he knows what he is talking about). I declare that all of you, physicians and surgeons of this province do not vaccinate BCG for any child or adult from now on. (Tôi tuyên bố từ nay trở về sau các bác sĩ nội khoa và giải phẫu không được chủng ngừa BCG cho bất cứ đứa trẻ con nào hay người trưởng thành nào). Lúc đó vào tháng 9 năm 1982.

 

Và ông ta đã làm đúng vì tỉ lệ lao ở những thế hệ sau đã không gia tăng, ngoại trừ những người bị bệnh AIDS hay mang siêu vi HIV, và những người mang lao đến từ các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vancouver thuộc tỉnh British Columbia là nơi cuối cùng của Canada bỏ thông lệ chủng ngừa BCG cho dân chúng vào năm 1990.

 

Viết xong ngày 26 tháng 1, năm 2014

Cung Chúc Tân Xuân

 

References:

 

BCG Vaccine, Wikipedia, The free Encyclopedia

Tuberculosis

Phillip C. Hopewell, MD

Midori Kato-Maeda, MD

Mason: Murray and Nadel’s Textbook of Respiratory Medicine, 5th Edition, Copy righ© Saunders

Mycobacterium tuberculosis

Daniel W. Fitzgerald

Timothy R. Sterling

David W. Hass

Mandell: Mandell, Douglas, and Bennette’s Principles and Practice of Infectious Diseases, 7th Edition © Churchill Livingston

 

 

 

Viết xong ngày 26 tháng 1 năm 2014

Cung Chúc Tân Xuân

Bs NGƯYỄN VĨ LIỆT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       

 

  

 

 

 

 

 

 



 

www.ninh-hoa.com

Trang XUÂN 2014- Văn Học Nghệ Thuật Và Quê Hương