Mục Lục

 

  Trang B́a
     
Ban Biên Tập
 
 Chúc Tết
      Đồng Hương
 
 Lá TXuân
      Hải Lộc
 
 S Táo Quân Tổng Kết 10
      
Năm

     
Nguyễn Thị Thanh T
     
Nguyễn Đôn Huế Trang
 
 Câu Đối Mừng Xuân
      Lê Bá Thiên
 
 Câu Đối Tết
      Nguyễn Hữu Quang


 

H́nh nh
Xuân


 
 H́nh nh Xuân
      SXương Hải

 

Chùm
T Xuân
 


 
Phút Chạnh Ḷng...
     
Việt Hải Los Angeles
 
Ngày Xuân
      Bến Nhớ Chiều Xuân
      Nguyễn Tường Hoài
 Thiêu Thiếu...
      Dương Công Khánh
 
Mừng Xuân
      Hoàng Công Khiêm
 
 Tin Xuân - Đặc San
      Tin Xuân - Nguyện Cầu
      Đinh Thị Lan
  Nhớ Xuân

      Xuân Đă V
     
 Lư H
  Tin Xuân

      Xuân Nguyện
      Phan Phước Huy
 
Tin Xuân
     
Lê Văn N
 
 Vui Xuân
      
Hoàng Phi
  Anh Đă Đến, Mùa Xuân

      Bích Phượng
 
Tin Xuân
      Phi Ṛm (Hoàng Tiên)
 
Ḍng TXuân Tiếp Nối
     
Nguyễn Thị T


 

Năm Mới
Ô
n Chuyện Cũ




 
 Những Mùa Xuân Đă Qua
     
Nguyễn Thị Phương Hiền
 
 Kư c Xóm Rượu Với Nghề
      
Làm Bánh Tráng

     
Nguyễn Xuân Hoàng
 
Nắng Xuân
     
Nguyễn Thị Lộc
 
Mồng 3 Mồng 5 Tết Tân Măo
      Lê Văn Phan
 
 Chào Năm Cũ Mừng Năm
      
Mới...

     
Phi Ṛm
 

 

TVi
 



  TVi Năm QT2013
      
Phạm Kế Viêm
 
 Vận Hạn Năm QT 2013
      
Cho Những Người Tuổi Rắn

      
Phạm Kế Viêm


 

Chuyện Vui
Xem/Đọc
3 Ngày Tết
 


 
 Ai Ơi Có Biết?
      
Loan Anh
 
 Câu ĐVui
      
Trần Duy Biên
 
 Vài Chuyện Vui
      
Lan Hương
 
 Năm Mới Nói Chuyện GTrẻ
      Nguyễn Hiền
 
 STáo Phong
      
Phạm Thanh Phong
 
 Những Câu ĐVui
      
Trần NPhương

 



Hội Ngộ
N
inh Ḥa-Dục Mỹ
 

  Buổi Họp Mặt Thân Hữu
      
Đầu Tiên

      
Nguyễn Thị Yến
 

 

Cắm Hoa Trang T



  Nghệ Thuật Cắm Hoa

 
     Lê Thị Lộc

 

Tranh
N
ghệ Thuật



  Tranh nh Nghệ Thuật

     
 Phi Ṛm


 

TVui
 


 
Rắn
      Tú Trinh

 

 

XUÂN Ca Hát


  Nhạc Xuân Và Q Hương

      
Lan Hương, Lan Đinh,  Lư H
  "Áo Lụa Hà Đông"

      
Mai Hữu Thọ


 

Tôn Giáo

 

  Tiếng Chuông...Tiếng Đời
      
Đinh Thị Lan


 

Năm T Nói Chuyện RẮN
 

  Xuân QTKChuyện Rắn
       Nguyễn Chức
 
Rắn Qua Tín Ngưỡng, Văn
      
Hóa, Đời Sống

       Vinh H
 
Đầu Xuân Tản Mạn VRắn
       Vinh H
 
Tản Mạn Tết Năm Q T
      
Nguyễn Văn Thành
 
Độc Trị Độc
       Thi Thi

 

 

d_bb
Đ.H.K.H
 

  Liêu Trai C Dị-459
      Đàm Quang Hưng
  Thanh Phong Thi Tập-150
     
Vũ Tiến Phái
 
Nam Tông Và Bắc Tông
       Nguyễn Văn P
 
 Tính Biến Cải Và Tạp Chủng
      
Trong Văn Học Hậu Bắc

      
Thuộc

      
Lê Phụng
 
 Câu Đối Tết
      Nguyễn Hữu Quang
 
Dịch Vi Ngôn
     
Nguyễn Hữu Quang
  TSGhi Thời Đi Học
       Nguyễn Đức Tường
 
 TVi Năm QT2013
      
Phạm Kế Viêm
 
 Vận Hạn Năm QT 2013
      
Cho Những Người Tuổi Rắn

      
Phạm Kế Viêm
 

 


Văn Hóa
m Thực




 
 Bún Cá Xóm Cồn
      Quách Giao
 
 Mâm CNgày Tết Của
      
Người Dân 3 Miền

      Hoàng Bích Hà
 
 HTiếu Nam Vang:
      
KVà Nước

      Lan Hương
 
 HTiếu K
      Diệp Lan Mai
 
 Tết Đến Xuân V Nói
      
Chuyện Rượu

      Vơ Hoàng Nam
 
Mẹ Với Bánh Chưng BánhTét
      Vơ Hoàng Nam
 
 Thịt Kho Tiêu Và Rau Muống
      
Thấu

      Nguyễn Thị Thục





Sức Khỏe

      

 
Bệnh Cườm Nước (Glaucoma)

      
BS Lê Ánh
  Bệnh Mắt Cườm (Cataract)

      
BS Lê Ánh

 

 

Biên Khảo
Kinh Tế
 

Việt Nam

  Tổng Kết Nền Kinh Tế
      
Việt Nam Năm 2012

     
 Nguyễn Văn Thành


H
oa Kỳ/Thế Giới

  Tổng Kết Nền Kinh Tế
      
M Quốc Năm 2012

     
 Nguyễn Văn Thành
 


 

Kinh Nghiệm Sống



  Lịch S Và Tế Nhị

      Hoàng Bích Hà
  Nhật Kư Đời Thường Của Tôi

      Mai Tuyết Hồng
  YÊU

      PVĩnh Sơn

 

 

Viết v
Ninh Ḥa
Dục M
 


  Chút T́nh XUÂN C Hương

      NGH(NH) Nguyễn Văn Ḥa
  Dục M Trong Tôi

      Phan Phước Huy

 



Viết v
ninh-hoa.com



  Mùa Xuân Đến Với
      
Ninh-ḤaDOTCom

     
Trâm Anh
 
 K Niệm 10 Năm Trang Mạng
      
Cho Ninh-ḤaDotCom

      Nguyễn Xuân Hoàng
  Mười Năm T́nh Xuân

      Lư H
 
 Vui Xuân Đón Tết
      Thi Thi
 
 Ninh-ḤaDOTCom, Đó...
     
Nguyễn Thị Thanh T



 

 KNiệm V
Trường:

Trần B́nh Trọng
Ninh Ḥa

 

  Một K Niệm K Quên
      Trần Hà Thanh
 
Tôn Sư Trọng Đạo

      Trần Hà Thanh
  Vũ Khúc Vọng C Đô

      Trần Hà Thanh
 

 

Dục M


 
 Viết VKư c Và K Niệm
      
Thuở Xa Xưa

      
Nguyễn Thị Đông
  K Niệm K Quên

      Phan Phước Huy

 

Vạn Ninh


 
Mứt Dừa  Một Thủa

     
Ngọc Anh
  Bút Xuân

     
Lam Kha
 
Mùa Xuân  Di-Lặc

     
Nguyên Kim
  Xuân Q Tỵ 2013

     
Nguyên Kim
  C Tiểu Bất Đắc Dĩ

      HThoại M
 
Chiếc Bóng Bên Trời

      Trương Văn Nghi
  Đón Tết

     
Lâm Ngọc
  Luyến Tiếc

     
Lâm Ngọc
  Đầu Xuân Viết T Cho Con

      Đặng Tuyết N
  Chuyện T́nh Đêm Mồng 1Tết

      Hồng Sương
  Vịnh Xuân

     
Lâm Thảo
  Chúc Xuân

     
Thi Thi
  N Một Áng Mây

      Thúy Vũ
 

 

Thể Thao
D
u Lịch



  Đội Banh Ninh Ḥa

      Lư H
 
 Những Điều Lư TV Đảo
      
Quốc Sư T

      
Hoàng Thị Lan
 
Tôi Đi D Hội THAO

      Lương LBích San


 

 

Văn Học
Nghệ Thuật
 



 
Bước Chân Người Nhớ 
      
Thương Tôi..

      
Lương L Huyền Chiêu
 
 Rồng Việt Nam
      Liên Khôi Chương
  Haiku:  V Núi

      Mục Đồng
 
 Hai Mươi Tám Tết
      Bạch Liên
 
 Nơi  Bắt Đầu Mùa Xuân
      Nguyễn Thị Khánh Minh
 
 Cao Bá Quát Với Hoa Mai
      Vơ Hoàng Nam
 
 Con Rắn
      Topa Panning
  Hương T́nh Xuân Chín

      Bích Phượng
 
 Ánh Mắt Mùa Xuân
      Nguyễn Văn Sâm
 
 BẮC HÀNH TẠP LỤC: Bài 5  
      
Lạng Thành Đạo Trung

      Dương Anh Sơn
 
 T Xuân
      Quách Tấn
  T Xuân Nguyễn Bính

      
TBửu Nguyễn Thừa
 
Điệp Khúc Mùa Xuân

      
Tiểu Vũ Vi

 

 



T
 



  Chào Xuân Viễn X

      Bích Phượng
  Hương Sắc Mùa Xuân

      Bích Phượng
 
 Hương Xưa

      Trần Ngọc Chánh
 
 Tṛn Giấc Mơ Xuân

      Trần Thị Chất
  Xuân Này Em Không V

      
Lương LHuyền Chiêu
 
 Chúc Tết - Được Lời
      Liên Khôi Chương
 
Đánh Thức Nàng Xuân
      Nguyễn Tường Hoài
 
 Mừng Xuân QT
      Song  H
  Đời Rắn

      
Vinh H
 
Mùa Xuân
      Mai Thị Hưng Hồng
 
Sinh Nhật Mai Hồng
      Mừng Sinh Nhật Cháu My
      Mai Tuyết Hồng
  Xuân

      
T Kim Huy
 
 Mừng Xuân QT
      Hoàng Lan
 
 Tiếng Sáo Đêm Xuân
     
Kiều Lam
 
 Xuân QTỵ 2013
      Bạch Liên
  Sắc Mai
      Nhất Chi Mai
 
 Duyên T
      Thụy Nguyên
 
Mộng Ngày Xuân- Xuân Đến
      Lê Văn Phan
 
 Xuân Nhớ
      
Nguyễn Hoàng Phi
 
 Công Và Bướm
      Nguyễn Quân
 
 Vẫn Đợi Chờ Mùa Xuân Đến
      Dương Anh Sơn
 
 Xé Ngang Cuộc T́nh
      PVĩnh Sơn
 
 Thế Cho Nên...
      
Kim Thành
 
T́nh Xuân
      Hoài Thu
 
 Duyên Dáng Mùa Xuân
      Tiểu Vũ Vi


 


Văn

 


 
 Mùa Xuân V Trên Làng Q
      
Yên B́nh

      Vân Anh
 
 Mùa Lại Về! Xuân Ơi...
       Lê Thị MChâu
 
 Xuân N Ư
       Lê Thị Đào
 
 Tiếng Cười Đoàn Viên
     
Khuất Đẩu
 
 Sắc Bàng Đầu Xuân
      Quách Giao
 
 Chia X Mùa Xuân
      Lê Thị Ngọc Hà
  Giọng Khổ

      
Nguyễn Hiền
 
Nhớ Ǵ V Xuân

      Lư H
 
 Xuân Yên B́nh
      Bạch Liên
 
 Nắng Xuân
      Nguyễn Thị Ngọc Lan
 
 Lần Theo Mộng o Mà Về...
      Nguyễn Thị Khánh Minh
 
 Vẫn Là Những Mùa Xuân
      
Buồn

      Topa Panning
 
 Chuyến Xe Đêm Trừ Tịch
      Trần N Phương
 
 NNúi Đá Có Từng Lớp...
      Nguyễn Văn Sâm
 
 Mái m Gia Đ́nh
      Trần Đ́nh Nguyên Soái
 
 VNinh Ḥa, Ăn Bánh Ướt
      
Bà Năm

     
 Nguyễn Hữu Tài
 
 Tết Này MKhông V
      Hà Thị Thu Thủy
 
 Gặp Lại Người Xưa
      Lê Thị Kim Thoa
 
 Một Thoáng Ninh Ḥa
      Phạm Thị Thục
 
 Những Người Thích Đùa
      Bùi Thanh Xuân

 

 

 

Thư từ, bài vở, h́nh ảnh hoặc
ư kiến xây dựng, xin liên lạc:



diem27thuy@yahoo.com

 



 

 

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thư từ, bài vở, h́nh ảnh hoặc
ư kiến xây dựng, xin liên lạc:



diem27thuy@yahoo.com

 



 

 

 

 

 

 

 


 

 


 

 

DỊCH VI NGÔN
 

(279, tr. 489-627)

 
 

Nguyên: Dịch Thượng-kinh nói: "Kiền: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh". Nguyên là bắt đầu, Kiền sơ-hào là gốc cuả Đạo, nên gọi là nguyên. Sáu hào phát-huy, bàng thông nơi Khôn, nên hanh. Lợi trinh là 6 hào đều chính, thành Kư-tế định. Thoán-truyện nói: "Đại tai Kiền nguyên, vạn-vật tư thuỷ năi thống thiên = Lớn thay kiền-nguyên, đầu mối muôn vật đều nhờ đó mà sinh ra, nên thống-thuộc cả về trời". Tư là thủ-thống bản. Số đại-diễn 50, chỉ dùng 49, c̣n 1 là nguyên. Nên 64 quẻ, 11520 sách, đều thủ-thuỷ nơi Kiền-nguyên, phệ thủ-thuỷ nơi Kiền, v́ muôn vật đều từ trời sinh ra.

Lại nói: "Chí tai Khôn nguyên, vạn-vật tư sinh năi thuận thừa thiên = Lớn vậy thay khôn-nguyên, muộn vật nhờ vào đó mà sống, nên thuận theo trời". Kiền-Khôn nương tựa vào nhau cùng sinh-hợp. Trời đất đă phân dương, thăng âm, giáng Khôn làm thuận, nên thuận theo trời. Văn-Ngôn I nói: "Nguyên giả thiện chi trưởng dă = Nguyên là trùm mọi điều thiện". Bắt đầu nơi tư, nên nói là trùm mọi điều thiện. Truyện nói: "Chấn lôi là trưởng", nên bảo là nguyên. Thiên Thiệu-Cáo Kinh Thư nói: "Kỳ duy vương-vị tại đức nguyên = Duy ngôi vua tại đức nguyên".

 

Công-Dương nguyên niên xuân vương chính nguyệt. Nguyên niên là ǵ? Là năm đầu tiên lên làm vua. Hà-Hưu chú rằng: "Biến 1 là nguyên, nguyên là khí. Vô-h́nh để khởi hữu-h́nh, để phân-tạo, khởi thiên-điạ là bắt đầu cuả thiên điạ". Sớ nói: "Xuân Thu nói rằng: "Nguyên là đầu mối". Khí-tuyền chú rằng: "Nguyên là bắt đầu cuả khí, như nước có suối. Gốc cuả ḍng suối vô-h́nh, để khởi hữu-h́nh, để phân nh́n cái không thấy được, phân nghe cái không nghe được". Họ Tống nói: "Vô-h́nh để khởi 'tại thiên thành tượng', hữu-h́nh để phân 'tại điạ thành h́nh' ". Sớ lại nói: "Xuân Thu nói rằng: Vương không phụng thiên-văn để lập hiệu, ắt đạo-thuật vô-nguyên. Nên trước bầy xuân, sau mới phát-biểu. Vương thiên-chính không thâm-chính, thửa nguyên ắt bất năng thành thửa hoá. Nên trước tiên khởi nguyên, rồi sau mới bầy xuân. Là để suy ra chữ nguyên đặt trước chữ  xuân, chữ xuân đặt trước chữ  vương". Tại sao không nói Công tức vị? Hà-Hưu chú rằng: "Tức-vị là khởi-điểm chính-trị một nước. Không ǵ lớn bằng chính-thủy. Nên Xuân Thu mới lấy khí cuả nguyên mà hiệu-chính đầu mối cuả trời. Lấy đầu mối cuả trời mà hiệu-chính vương-chính, lấy vương-chính mà hiệu-chính tức-vị cuả chư-hầu. Tức-vị cuả chư-hầu chính, ắt trong nước trị-an. Chư-hầu không thượng phụng vương-chính, ắt không được tức-vị. Nên trước tiên nói chính nguyệt, rồi sau mới nói tức-vị. Chính-trị mà không xuất-phát từ Vương ắt không chính. Nên trước nhất nói Vương sau mới nói chính nguyệt vậy. Vương mà không thừa thiên chế-hiệu ắt vô-pháp. Nên trước nhất nói Xuân rồi sau mới nói Vương. Trời không thâm-chính, thừa nguyên ắt khôn năng thành thửa hoá. Nên trước nói Nguyên rồi sau mới nói Xuân. Năm sự-kiện đó cùng thấy một ngày, nên thành thể, ấy là đại-bản cuả thiên-nhân, sở hệ cuả muôn vật, không thể không xét. Sớ nói: "Nguyên niên xuân là gốc cuả trời. Vương chính-nguyệt, Công tức-vị là gốc cuả con người. Nên nói là đại-bản cuả trời và người". 

 

Thiên 'Danh-loại' trong Lă-thị Xuân Thu nói: Hoàng-Đế nói: "Rộng lớn thay oai cuả trời, cùng khí với nguyên". Nên nói: "Đồng-khí tốt hơn đồng-nghiă, đồng-nghiă tốt hơn đồng-lực, đồng-lực tốt hơn đồng cư, đồng cư tốt hơn đồng danh. Đế là đồng-nguyên-khí. Vương là đồng nhân-nghiă. Bá là đồng vũ-lực. Cần là chung sống ắt coi rẻ. Vong là đồng danh, đồng danh ắt bất-nhân, thô ác. Thửa trí đầy tinh-vi, tuyệt-diệu là thửa đồng cũng đầy tinh-vi, tuyệt-diệu. Ôi! Sở  dĩ tinh-vi, tuyệt-diệu cuả ngũ-đế, tam-vương hoàn–thành vậy.

 

Thiên 'Danh-loại' cũng nói: "Nguyên cũng bảo nguyên là bắt đầu cuả cát. Điều ấy đồng nghiă với 'Cơ giả động chi vi, cát chi tiên hiện giả dă = Điềm biết trước là cái kín đáo trong sự hoạt-động, là cái tốt đă hiện ra trước vậy' (Hạ-Hệ V/11)". Dịch Thông-quái-nghiệm bảo: "Cái trước cuả thiên-hoàng hợp nguyên với Kiền-diệu".

 

Thiên Đại-Tông-Sư trong Trang-tử Nam-Hoa Kinh bảo: "Phục-Hy được nó mà đoạt được nguồn gốc cuả nguyên-khí" (308, tr. 359). Tư-mă Bưu nói: "Đoạt được là hội nhập". Khí mẫu là mẹ cuả nguyên-khí. Thôi-Soạn nói: "Đoạt được gốc cuả nguyên-khí".

Trong Thông-điển, Ngụy Thi-trung Mâu tập nghiă rằng: "Nguyên là nhất, là đầu, là ban đầu cuả khí, là lấy Chu-Văn diễn Dịch để bao trùm tứ-đức, Trọng-ni viết ra Kinh Xuân Thu để thống-nhất tam-chính".

Xuân Thu Mệnh Lịch Tự nói: "Nguyên-khí chính, ắt bát-quái cuả trời đất đông đủ".

Thuyết-đề-từ nói: "Nguyên thanh-khí để làm trời hỗn-độn vô-h́nh-thể". Tống-Quân chú rằng: "Nói lúc ban đầu cuả nguyên-khí, như thế cũng là hỗn-độn vị-phân vậy". Nói khí, tại Dịch là Nguyên, tại Lăo là Đạo, nghiă không khác nhau mấy.

Thuyêt-văn, bên dưới chữ 'vô' có chua rằng: "Kỳ-tự 'vô' thông với chữ nguyên. Sách này (Cổ-văn Kỳ-tự) do Vệ Hoằng soạn ".

Lăo-tử Đạo-đức-Kinh nói rằng: "Đạo khả Đạo, phi thường Đạo = Đạo có thểnói được không phải là Đạo". Hà Thượng Công chú rằng: "Ôi Đạo là chí-lư cuả nhất nguyên. Kinh-thuật đạo cuả chính-giáo. Dường như có Đạo trường-sinh tự nhiên. Đạo đang lấy vô-vi dưỡng thần, vô-sự an dân, hàm quang, tàng diệu, diệt tích, nặc đoan, không thể xưng là Đạo đuợc ".

Trong Xuân Thu Phiền-Lộ, Đổng-tử nói rằng: "Duy có thánh-nhân năng phó-thác muôn vật vào nhất mà buộc vào nguyên. Nên không bắt kịp gốc. Không năng thành-công". Ấy là lấy Xuân Thu biến 1 gọi là nguyên. Nguyên là toàn vẹn. Thửa nghiă tùy thuộc chung thủy cuả trời đất. Nên con người duy có chung thủy mà sống chết tất ứng biến cuả bốn muà. Nên nguyên là gốc cuả vạn-vật, là tồn-tại cuả con người.

Lễ-thống nói: "Trời đất là sở sinh cuả nguyên-khí, là tổ cuả muôn vật".

Tam-thống-lịch nói: "Nguyên-khí Thái-cực bao ba vào trong một cực. Nguyên là bắt đầu". Lại nói: "Âm–dương hợp đức, khí tụ-họp lại nơi tư, hoá sinh muôn vật. Lại nói: "Nguyên-điển-lịch bắt đầu bằng: nguyên". Truyện nói: "Nguyên là trùm mọi điếu thiện". Cộng-dưỡng tam-đức thành thiện. Lại nói: "Nguyên là trùm mọi thể". Hợp tam-thể mà làm cho toàn vẹn. Nên nói: "Nguyên nơi ba tháng xuân. Mỗi tháng iết rằng: vương nguyên  tam-thống, hợp nơi một nguyên. Nên nhân nguyên mà đặt ra phép chín-ba". Lại nói: "Trải qua một nguyên để thống-thủy đầu mối cuả Dịch-thái-cực".

 

Thể Nguyên: Văn Ngôn 1 & 2 quẻ Kiền nói: "Nguyên giả thiện chi trưởng dă. Quân-tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân = Nguyên là trùm mọi điều thiện. Người quân-tử thể-hiện điều nhân để làm cho tài giỏi con người trở nên lớn mạnh". Kiền là thiện thủy (giỏi lúc bắt đầu), sinh nơi cung tư.  Nên nói: "Thiện trở nên lớn mạnh". Ngoại-truyện nói: "Chấn lôi là lớn mạnh". Nên nói: "Nguyên cuả Dịch có tam-tài, nên lệ-cử đức nhân cuả người quân-tử ở hào sơ-cửu". Nguyên là sự lớn mạnh cuả thể-hiện. Người quân-tử thể-hiện đức nhân nên là sự trưởng-thành cuả con người.

Lại nói: "Kiền nguyên dụng cửu, thiên-hạ trị dă = Trong đạo Kiền mà biết dùng số 9  th́ b́nh-trị được thiên-hạ (Văn-Ngôn 15 quẻ Kiền)". Án: Chính-nguyên để thành thành hoá, nên b́nh-trị được thiên-hạ. Sớ nói rằng: "Xuân Thu Nguyên-mệnh-bao nói: Trời không thâm-chính thửa nguyên th́ không năng thành được thửa hoá. 9 là nghiă cuả biến-hoá.  Lấy đạo nguyên dùng số 9, sáu hào đều chính. Bậc vương-giả thể-nguyên, thiết-lập cực, mà quân-thần trên dưới ai ở ngôi nấy, nên b́nh-trị được thiên-hạ".

Lại nói: "Phi long tại thiên năi vị hồ thiên-đức = Như rồng bay trên trời, là lúc có đức trời để hưởng ngôi trời" (Văn-Ngôn 20 quẻ Kiền). Lại nói: "Kiền nguyên dụng cửu năi kiến thiên-tắc = Trong đạo Kiền mà biết dùng số 9 là thấy được phép trời. Ở cơi người ta, ắt là Dịch-thuyết vương-độ: trong Dịch, sáu ngôi chính là thấy vương-độ.

Kinh Thư nói: "Duy có vương-vị tại đức-nguyên, tiểu-dân bèn chỉ có dung vượt vương-hiển cho thiên-hạ".

Trong Tấn-ngữ, Trác-Công nói với chư Đại-phu: "Kiềm-chế người khác có nguyên-quân sẽ theo mệnh trời phú. Nếu theo mệnh rồi lại vất bỏ, là đốt cháy thiện. Vài ba người không tuân lệnh, nên t́m nguyên-quân mà cầu. Ta không phế nguyên. Th́ ai oán nguyên mà dung bạo-ngược để kiềm-chế hai, ba người không tuân lệnh? Nếu muốn phụng-nguyên để cứu giúp đại-nghiă là tại hôm nay. Nếu muốn dung bạo-lực để xa dời trăm họ, ắt phản dịch dân thường cũng tại hôm nay".

 

Tam-Vi: Dịch-Vỹ Kiền-Tạc-Độ nói: "Thiên-khí tam-vi thành một trứ, ba trứ thành một thể. Trịnh-Huyền chú rằng: "Năm ngày là một vi, 15 ngày là một trứ. Nên 5 ngày có 1 hậu, 15 ngày thành một khí. Đông-chí duơng bắt đầu sinh, tích 15 ngày  đến tiểu-hàn là một trứ, đến Đại-hàn là 2 trứ, đến Lập-xuân là 3 trứ. Phàm 45 ngày thành một tiết. Nên nói 3 trứ thành một thể vậy. Tháng giêng ắt sự việc dùng quẻ Thái, nên nói thành thể mà giao vậy". Hậu-Hán-thư, Truyện Lỗ-Cung, nghị tấu rằng:

"Hiếu-chương Hoàng-đế thâm hiểu đạo cuả cổ-nhân, giúp vi cuả tam-chính, định luật, trước lệnh". Chú rằng: "Tam chính là tam-vi". Tiền-thư âm-nghiă rằng: "Nói dương-khí bắt đầu thi-hành vi cuả muôn vật mà chưa rơ rệt nên mới gọi là vi".

Truyện Trần-Sủng: Nhà Hán xưa, đoán ngục báo trọng thường làm trong ba tháng muà đông. Thời đó, Hiếu-chương Hoàng-đế mới cải-dụng thành sơ đông (tháng một) mà thôi. Nguyên-hoà năm thứ hai, Trường-thủy Hiệu-úy Giả-Tông tâu: nói để đoán ngục tất cả không nằm trong muà đông. Nên, âm-khí vi-nhược, dương-khí phát-tiết chiêu trí tai-tảo-xử tại nơi đó. Đế theo lời tâu ra lệnh cho công khanh nghị-luận Sủng tâu rằng: tiết đông-chí dương-khí chớm manh-nha, nên tháng một ứng có lan-xạ nơi vân-lệ. Thời-lệnh nói: cỏ cây muốn manh động. Trời lấy chính Chu làm xuân.

Tháng chạp, dương-khí thượng-thông, chim dẽ gáy, gà cho con bú, để lấy chính Ân làm xuân. Tháng 13 (tức tháng giêng ngày nay), dương-khí đă đến, trời đất đă giao, muôn vật đă trổ khỏi mặt đất, sâu đất bắt đầu chui lên, con người lấy chính Hạ làm xuân. Tam-vi thành rơ rệt để thộng tam-thống. Nhà Chu lấy thiên-nguyên, nhà Ân lấy điạ-nguyên, nhà Hạ lấy nhân-nguyên. Nêu lấy thời-đoạn ấy mà hành-h́nh, ắt đầu năm Thương, Chu đều lưu-huyết, không hợp nhân-tâm mà cũng không thuận ư trời.

Nguyệt-lệnh nói: Tháng mạnh-đông (chính ra phải nói: tháng quư-thu), ư-vị ngục-h́nh, vô lưu tội, hoàn-tất tại lập-đông. Tần thi-hành bạo-chính, bốn muà hành h́nh, thánh Hán sơ-hưng, cải thành giản-dị. Tiêu-Hà thảo luật, quư-thu luận tù, đều tránh tháng lập đông, mà không kể chính cuả trời đất. Xuân cuả hai vua Nhà Ân, nhà Chu, quả thực sai lầm. Bệ-hạ thám-u, tích-vi, cầm đúng đạo trung, cải cách sai lầm cuả trăm năm, trên có nghênh đón công cuả vĩnh-niên, dưới có phụng ân-huệ cuả tam-vi.

Cáng đáng ư cuả nguyệt-lệnh, thánh công mỹ-nghiệp không nên nghi ngờ thư-tấu.

Bạch Hổ Thông nói: chính sóc có ba, tại sao lại bắt rễ từ 'trời có tam-thống gọi là Tháng tam-vi'? Minh-vương là đương phụng thuận mà noi theo. Nên thụ mệnh mỗi thống một chính. Kính nể bắt đầu, tôn trọng gốc rễ. Sóc là cải cách. Bảo là muôn vật canh cách, cho nên thống.

Truyện Lưu-Hướng trong Hán-thư sớ: “Vương-giả tất thông tam-thống, hiểu rơ điều ǵ thiên-mệnh giao-phó. Bác không phải là độc một họ“. Ưng-Thiệu nói: “Sau hai vương với ta nữa là  tam-thống vậy“. Mạnh-Khang nói: “Đó là khởi thủy cuả tam-tài thiên-điạ-nhân vậy“.

 

Ky (Cơ): Ngu-Thư Cao Dao Mô nói: “Răn đe cẩn-thận, ngày một ngày hai vạn-ky tức ky-vi, nghiă là e sợ vi cuả vạn-sự“.

Lại nói: "Niệm lự cơ-vi để bảo-toàn an-ninh cuả ḿnh".

Lại nói: "Đế Dung có làm bài ca: phụng chính thiên-mệnh, để đi gặp dân, duy tại thuận-thời, duy tại thuận-vi".

Cơ đi trưóc cát, thấy phi-cơ bất-thiện.

Dịch nói: "Phù Dịch Thánh-nhân chi sở dĩ cực thâm nhi nghiên cơ dă = Ôi đạol Dịch đấng thánh-nhân v́ đấy mà biết rất sâu và xét rất tinh-vi vậy" (Thượng-Hệ X/5).

Lại nói: "Đức Khổng-tử nói rằng: Tri cơ kỳ thần hồ, quân-tử thượng giao bất siểm, hạ giao bất độc, kỳ tri cơ hồ, cơ giả động chi vi, cát chi tiên hiện giả dă, quân-tử kiến cơ nhi tác, bất sĩ chung nhật = Biết cái điềm trước là thần ru? Người quân-tử giao-tiếp với người trên th́ chẳng nịnh, giao-tiếp với người dưới th́ chẳng khinh nhờn, là biết cái điềm trước ư?" (Hạ-Hệ V/11). Ngu-Phiên chú rằng: "Cơ là dương vậy. Dương tại hào sơ quẻ Phục xưng là cơ". Vương-Bật nói rằng: "Cơ là khử vô nhập hữu, hữu lư lúc chưa thành h́nh".

Văn-Ngôn 6 quẻ Kiền nói: "Tri chí chí chi khả dữ cơ hồ = Biết có tới được, th́ đi tới, là có thể cùng tiến". Giải nghiă là: Tới là hào sơ, là vi cuả động, tri vi tri chương nên  có thể cùng tiến.

 

: Thoán-truyện  quẻ Hàm nói: “Trên núi có đầm, tượng trưng cho sự cảm-ứng. Người quân-tử lấy hư-không mà tiếp-đăi người“.

Tế-nghiă nói: “Hiếu-tử đem tế tới, suy nghĩ về sự việc không thể không cảm-ứng. So thời, đầy đủ vật không thể không dự-bị hư-trung để quản-trị“.

Thiên Tâm-thuật trong sách Quản-tử nói: “Hư-vô vô-h́nh gọi là Đạo“. Lại nói: “Hư đấy với người, vô-gian duy thánh-nhân được hư-đạo“. Chú rằng: “Hư năng quán-xuyến nhân-h́nh, nên nói vô gian“. Lại nói: “Đạo trời hư không Đạo đất. Tĩnh hư ắt bất-khuất, tĩnh ắt bất-biến“. Lại nói: “Hư là bắt đầu cuả muôn vật“. Chú rằng: “Hữu h́nh sinh nơi vô h́nh“.

B́nh-tố mà không thiết-thi vậy, thuật vậy. Thửa theo khống chế muôn vật, số cuả động-tĩnh, phàm điều đó đều là đạo cả.

 

Thủy: Hào-từ sơ-lục quẻ Hằng: "Lăng Hằng trinh hung, vô du lợi = Như thể đào sâu cái thường thường, chính cũng xấu, không có chỗ nào để đi mà lợi". Tượng nói: "Lăng Hằng chi hung, thủy cầu thâm dă = Đào sâu cái thường, bị xấu, là mới đầu mà đă cầu vào sâu vậy". Ngu-Phiên chú rằng: "Kiền là bắt đầu nên nói rằng: cầu vào sâu vậy".

 Thoán-truyện quẻ Kiền nói: "Đại tai Kiền nguyên, vạn vật tư thủy năi thống thiên = Lớn thay Kiền-nguyên, đầu mối muôn vật đều nhờ đó mà sinh, nên thống thuộc về trời". Tuân-Sảng chú rằng: "Bảo là phân thành 64 quẻ, 11520 sách, đều tiếp nhận bắt đầu nơi quẻ Kiền".

Dịch nói: "Nguyên thủy yếu chung, cố tri tử sinh chi thoát = Suy nguyên từ trước, trở lại về sau, nên biết giải-thoát cuả sống chết" (Thượng-Hệ IV/2).

Đại-Học nói: "Vật có gốc ngôn, sự việc có đầu đuôi".

Kiền Tạc Độ nói: "Kiền ẩn ngầm nơi tháng 9. Kiền là trời. Kết-thúc mà cũng là khởi thủy cuả muôn vật. Muôn vật bắt đầu nơi phương bắc, cho nên ngôi Kiền tại tháng 10 mà ngầm nơi tháng 9". Chú rằng: "Kiền ngự nơi tuất-hợi vào tháng 10 mà ẩn ngầm nơi tháng 9".

Lại nói: "Ngôi Kiền tại tây-bắc, duơng tổ vi cứ thủy".

Lại nói: "Thái-sơ là bắt đầu cuả khí. Thái-thủy là bắt đầu cuả h́nh. Thái-tố là bắt đầu cuả chất". Trịnh-Huyền chú rằng: "H́nh là hiện h́nh. H́nh thiên-tượng hiện nơi bản-thủy. Thái-thủy sinh nơi tuất trọng".

Trong Chu-thư Chu Chúc nói: "Trời là cổ-điạ làm cửu-sát muôn vật kia, gọi tên là bắt đầu".

Nhĩ-thất Thích-hỗ nói: "Mở đầu thủ-cơ, khải-tổ nguyên-thai, rơi trước quyền-dư". Chú: "Quyền-dư nghiă là bắt đầu".

Lăo-tử Đạo-đức-kinh nói: "Vô-danh thiên điạ chi thủy = Không tên là trước trời đất".

Chú rằng: "Vô-danh là gọi Đạo. Đạo vô-h́nh nên không thể gọi tên. Thủy là gốc đạo. Nhả khí bố-hoá xuất từ hư-vô làm nên bản-thủy cuả trời đất".

Ngô-tử nói: "Ôi! Đạo sở dĩ là phản-bản phục-thủy".

Lă-Lăm Triệu-loại nói: "Nguyên là bắt đầu cuả cát".

Hôn-nghiă nói: "Ôi! Lễ bắt đầu từ lễ 'Đội mũ', bắt rễ từ hôn-lễ".

 

Tố: Dịch-vỹ Kiền-tạc-độ nói: "Thái-tố là bắt đầu cuả chất". Trịnh-Huyền chú rằng: "Là sở bản-thủy cuả điạ-chất". Lại nói: "Thái-tố có chất-thủy-h́nh". Án: Thái-tố sinh nơi hợi trọng.

Văn-tuyển chú: "Phương-Ngôn nói: Tố là gốc".

Hào sơ là bắt đầu quẻ Lư, nên nói: tố tố cũng nghiă là bắt đầu".

Án: Hào sơ là bắt đầu quẻ Phục, nên nói: Tố. Sớ nói: Kiền-tạc-độ nói: "Thái-tố là bắt đầu cuả chất". Trịnh-Huyền chú: Thượng-Thư Đại-truyện nói: "Tố giống như bắt đầu. Hào sơ là bắt đầu quẻ Lư, nên nói: "Tố tố", cũng nghiă là bắt đầu.

Tiểu Tượng Lư sơ-cửu nói: "Cái đi trong trắng như bản-chất, là chỉ một ḿnh ḿnh đi làm nguyện-vọng cuả ḿnh vậy". Án: vi gọi là độc.

 

Thâm: Hằng sơ-lục nói: "Tuấn Hằng trinh hung = Như thể đào sâu cái thường thường, chính cũng xấu". Tiểu-tượng nói: "Tuấn Hằng trinh hung, thủy cấu thâm dă = Đào sâu cái thường thường, bị xấu, là mới đầu mà đă cần vào sâu vậy". Ngu-Phiên chú rằng: "Đào sâu là sâu". Trang-công năm thứ chín, Công-Dương-Truyện: "Đào sâu là ǵ? Là sâu vậy". Bên dưới hào sơ xưng là sâu, nên nói: "Đào sâu là sâu". Kiền là bắt đầu, cũng chiếm-cứ hào sơ. Sơ là bắt đầu, là nguyên, là lớn thay đạo Kiền- nguyên, đầu mối muôn vật đều nhờ đó mà sinh ra, nên Kiền là bắt đầu vậy.

Hệ-Thượng X/2 nói: "Vô hữu viễn cận u thâm = Không có xa gần kín sâu khác nhau". Ngu-Phiên chú rằng: "Xa là trời, gần là đất, sâu là dương, kín là âm". Lại nói: "Phù Dịch Thánh-nhân chi sở dĩ cực thâm nhi nghiên-cơ dă = Ôi đạo Địch Thánh-nhân v́ đấy mà biết rất sâu và xét rất tinh-vi vậy" (Hệ-Thượng X/5). Lại nói: "Câu thâm trí viễn = T́m cái sâu, đi đến cái xa" (Hệ-Thượng XI/7). Ngu-Phiên chú rằng: "Sơ là sâu, nên nói: T́m cái sâu, đi đến cái xa, cái xa ám-chỉ Kiền". Lại nói: "Tinh-nghiă nhập thần = Tinh-ba nghiă-lư đi vào chỗ thần-diệu". Diêu-Tín chú rằng: "Nhập tại sơ vậy. Âm-dương tại sơ, sâu khôn lường, nên gọi là thần". Tử-Cống nói: "Thầy ta nói về thiên-tính và dạo trời, th́chúng ta không thể được nghe vậy" (Luận-Ngữ V/12). Hà-Án chú rằng: "Tính là cái con người bẩm thụ khi sinh ra, thiên-đạo là đạo nguyên-hanh thâm–vi mỗi ngày một mới, nên không thể được nghe".

Hậu-Hán-Thư, truyện Trần-Trung kể: "Kể từ khi Thuận-Đế tức-vị, trộm cướp cùng nổi lên, quận-huyện đành che giấu, chẳng khứng củ soát. Trung dâng sớ lên nói rằng:

"Thần nghe nhẹ là đầu mối kia cuả nặng, là nguồn cuả lớn-lao".

 

: Hào-từ sơ-cửu quẻ Kiền nói: 'Tiềm long vật dụng = Rồng ẩn chớ dùng'. Dịch-khí từ dưới sinh lên, cho nên lấy sơ-hào là bắt đầu. Quẻ Kiền là rồng tiềm ẩn bên dưới. cho nên nói: Tiềm long, hào sơ khó biết (Hạ-Hệ IX/2) nên bảo: 'Chớ dùng'. Số đại-diễn hư 1 không dùng là ám-chỉ hào này.

Hào-từ sơ-lục quẻ Khôn lại nói: "Lư sương kiên băng chí = Như đi trên sương th́ biết băng dầy sắp đến".

Dịch nói: "Kỳ sơ nan tri, kỳ thượng dị tri, bản mạt dă, sơ từ nghĩ chi, tốt thành chi chung = Hào sơ khó biết, hào thương dễ biết, đó là gốc ngọn vậy" (Hạ-Hệ IX/2).

Dịch nói: "Tiểu-nhân dĩ tiểu thiện vi vô-ích nhi phất vi dă. Dĩ tiểu ác vi vô thương nhi phấ khư dă = Kẻ tiểu-nhân cho rằng điều lành nhỏ là vô-ích mà chẳng làm. Cho rằng điều ác nhỏ là vô-hại mà chẳng bỏ" (Hạ-Hệ IX/2). Ngu-Phiên chú rằng: "Tiểu thiện là hào sơ quẻ Phục, tiểu ác là hào sơ quẻ Cấu".

Công-Dương, Ẩn-công năm thứ năm, Truyện nói: "Sơ có nghiă là thế nào là bắt đầu".

Tham-đồng-khế nói: "Nguyên-tinh mây bố-trí, nhân khí mà gửi vào sơ".

Kiền-tạc-độ nói rằng: "Thái-sơ là bắt đầu cuả khí vậy". Trịnh-Huyền chú rằng: "Đó là  sở-bản-thủy cuả nguyên-khí. Thái-dịch đă lặng hẳn và không có vật vậy sao? Điều ấy là thái-sơ chăng? Ắt thái-sơ cũng hẳn là bỗng dưng tự-sinh". Lại nói rằng: "Khí cuả Thái-sơ hàn-ôn bắt đầu sinh ra vậy". Thái-sơ sinh ở dậu trọng.

Hậu-hán-thư, Luật-lịch-chí, Kinh-Pḥng Tạp-thức-đối nói: "Bí-hi làm ra Dịch, đặt rường mối cho sơ cuả dương-khí, lấy làm luật-pháp, dựng thinh ngày đông-chí, lấy hoàng chung làm cung, thái-thốc làm thương, cô-tẩy làm giốc, lâm-chung làm chủy, nam-lă làm vũ, ứng-chung làm biến-cung, nhuy-tân làm biến-chủy. Thinh ấy là nguyên cuả khí, là chính cuả ngũ-âm vậy".

Thiên Thục-trang trong sách Hoài-nam-tử nói rằng: "Cái học cuả thánh-nhân muốn lấy phản-tính nơi sơ". Cao-Tú chú rằng: "Con người bẩm -thụ trong trời đất mà sinh ra". Mạnh-tử nói: "Tính không có bất-thiện, mà t́nh-dục hại nó, nên thánh-nhân năng phản thửa tính nơi sơ".

 

Bản: Thoán-Truyện quẻ Đại-quá bảo : "Đống nạo bản mạt nhược dă = Cái cột uốn cong là gốc và ngọn đều yếu vậy". Ngu-Phiên chú rằng: "Hai hào sơ thượng âm nhu, gốc và ngọn yếu, nên là cái cột uốn cong".

Hệ-Hạ VII/2 nói: "Phục đức chi bản dă = Quẻ Phục là gốc cuả đức tính". Ngu-Phiên chú rằng: "Hào sơ quẻ Phục là đạo Kiền-nguyên, nên là gốc cuả đức tính".

Lại nói: "Kỳ sơ nan tri, kỳ thượng dị tri, bản mạt dă, sơ từ nghĩ chi, tốt thành chi chung = Hào sơ khó biết, hào thượng dễ biết, đó là gốc ngọn vậy" (Hạ-Hệ IX/2).

Hầu-Quả chú rằng: "Gốc ngọn là hào sơ và hào thượng". Trong sách Chu-lễ, họ Sư dạy Quốc-tử: Chí-đức lấy làm gốc cuả đạo. Trịnh-Huyền chú rằng: "Chí-đức là đức trung-hoà, che trùm, hàm-dung". Khổng-tử nói: "Trung-Dung là chí-đức".

Đại-Đới-Lễ, Bảo-Truyền nói: "Gốc (hào sơ) chính là lư cuả muôn vật".

Đại-Học nói: "Vật có gốc ngọn, sự việc có đầu đuôi. Biết trước, biết sau, ắt gần đạo vậy. Người thời cổ, muốn làm sáng đức sáng cho thiên-hạ, trước phải trị nước. Muốn trị nước trước phải tề-gia. Muốn tề-gia, trước phải tu-thân. Muốn tu-thân trước phải chính-tâm. Muốn chính-tâm, trước phải thành-ư. Muốn thành-ư, trước phải t́m hiểu cùng tột, tức thị biết chung thuỷ cuả thiện-ác. Muốn thế phải cách-vật, nghiă là t́m hiểu cái chân-lư cuối cùng. Vật cách rồi sau mới tri chí, tri chí sau mới ư thành, ư thành sau mới tâm chính, tâm chính sau mới thân tu, thân tu sau mới gia tề, gia tề sau mới quốc trị, quốc trị sau mới thiên-hạ b́nh. Từ thiên-tử cho chí thứ dân, ai ai cũng lấy tu thân làm gốc. Gốc loạn mà ngọn trị là sai. Cái phải dầy mà lại mỏng, cái phải mỏng mà lại dầy, chưa từng thấy. Cái đó gọi là biết gốc, gọi là biết đến nơi đến chốn".

Mạnh-tử nói: "Người có thường thường đều nói thiên-hạ, quốc-gia. Gốc cuả thiên-hạ là nước. Gốc cuả nước tại nhà, gốc cuả nhà tại thân".

 

Cực: Liệt-tử Hoàng-đế nói: "Cơ phát ra từ gót chân". Chú: Quách-Tượng nói rằng: "Thường khởi từ cực".

Trong Thông-lăo-luận, Nguyễn-Tịch (một người trong nhóm Trúc-lâm Thất-hiền) nói rằng: "Đạo là phép tự-nhiên mà làm thành hoá. Hầu-vương năng giữ được. Muôn vật hầu như tự-hoá. Dịch gọi là Thái-cực, Xuân-Thu gọi là Nguyên, Lăo-tử gọi là Đạo".

 

Trí-Nhất: Dịch-lâm Bổ-di dẫn Kinh-Pḥng rằng: "Chiếm biến một hào động ắt biến, loạn-động ắt không biến. Bổ-di căn-cứ vào Hoả-châu-lâm Dịch rằng: Ba người cùng di. ắt mất một người, một người đi một ḿnh, ắt được một người bạn". Hệ-Hạ V/13 nói: "Là nói đi đến chỗ thuần-nhất vậy". Lại nói: "Thiên-hạ chi động trinh phù nhất giả dă (Hạ-Hệ I/6). Cho nên Tả-truyện bói quẻ chỉ biến một hào như trong Mai-Hoa Dịch-số vậy.

 

Nhất-Quán: Đạo Nhất-quán con nít cũng biết từ cả trăm năm nay. Thế mà ngựi già thi-hành không được. Tống-nho bảo là chỉ có Nhan-tử, Tăng-tử, Tử-cống được nghe nhất-quán là không đúng vậy. "ngô đạo nhất dĩ quán chi = Đạo cuả ta chỉ có một lẽ mà thông suốt hết cả", nghiă là từ gốc đạt ngọn, là suy nguyên về trưốc, kết yếu về sau, là cái mà Lăo-tử gọi là "rất dễ biết, rất dễ làm, thiên-hạ không năng biết, không năng làm". Trung tức nhất, thứ tức thi-hành, tức nhất dĩ quán chi. Vi Chiêu chú: Chu-ngữ, thiên Soái nói: ư năng trung gọi là thuận theo ư ḿnh, thứ mà thi-hành là trung.

Đức Khổng-tử nói rằng: "Sâm hồ! Ngô đạo nhất dĩ quán chi = Sâm ơi! Đạo cuả ta chỉ có một lẽ để thông-suốt tất cả" (Luận-Ngữ IV/15). Tăng-tử nói: "Vâng". Khổng-tử đi ra, học-tṛ hỏi Tăng-tử rằng: "Thầy nói như thế là nghiă ǵ?". Tăng-tử đáp: "Đạo cuả Thầy chỉ có trung-thứ mà thôi vậy".

 

: Quẻ Kiền nói: "Sơ-cửu: Tiềm long vật dụng". Mă-Dung nói: "Sơ-cửu là tháng kiến tư, dương-khí bắt đầu động nơi hoảng-tuyền, nên nói: Tiềm long". Minh-di lục-ngũ nói: "Cơ-tử chi Minh-di, lợi trinh". Tượng nói: "Cơ-tử chi trinh, minh không thể sinh ra được". Hợi khôn kết-thúc ở hợi, kiền xuất ờ tư, minh không thể sinh ra được.

Tham-đồng-khế nói: "Ngâm nguyên hư, truyền-bá tinh nơi tư". Quảng-nhă chú thích chữ 'thiên' rằng: "Thái sơ là khởi thủy cuả khí, sinh nơi dậu trọng. Trong, đục chưa phân. Thái thủy là khởi điểm cuả h́nh, sinh nơi tuất trọng. Trong là tinh, đục lả h́nh. thái tố là bắt đầu cuả chất, sinh nơi hợi trọng, đă có tố-phác, mà chưa phân-tán. Tam-khí tương-tiếp cho đến tư trọng, phẫu-phán, phân-ly, khinh thanh nổi lên trên làm trời, trọng trọc ch́m xuống dưới làm đất, trung-hoà làm muôn vật".

Thuyết-văn dưới chữ 'bao' có chua: "Nguyên-khí khởi nơi tư, tư là chỗ con người sinh ra".

Tam-thống-lịch nói: "Nguyên-khí cuả Thái-cực gồm ba làm một". Mạnh-Khang nói: "Nguyên-khí lúc chưa phân, khởi nơi tư, trời, đất, người hỗn-hợp làm một, nên số cuả tư độc-nhất".

Lại nói: "Âm-dương hợp-đức, khí chung đúc nơi tư, hoá sinh muôn vật".

Lại nói: "Chính cuả thiên-thống bắt đầu thi-hành chính giữa tư (tức tư trọng)".

Dịch-vỹ Kê-lăm-đồ nói: "Giáp-tư quái-khí khởi Trung-phu, 6 ngày 7/80". Trịnh-Huyền chú rằng: "Bát thập phân là 1 ngày. 7 ngày là 6 ngày 7/80 cuả 1 quẻ".

Dịch-vỹ Kiền-tạc-độ nói rằng: "Trung-phu là dương trinh-cố nơi tư, tháng một".

 

Tâm: Thoán-truyện quẻ Phục nói rằng: "Phục kỳ kiến thiên điạ chi tâm hồ = Xem quẻ Phục th́ thấy ḷng cuả trời đất vậy".

Thuyết-quái-truyện XI/5 bảo: "Khảm vi cức tâm = khảm là ḷng gấp vội".

Kiền-tạc-độ nói: "Dịch-lịch bảo: Dịch giữ giường mối cho thiên-tâm".

Tham-đồng-khế nói: "Thiên-phù có tiến, có lui, có ruỗi ra, có co vào. Ứng đối với thời-gian.  Cho nên Dịch thống thiên-tâm, quẻ Phục dựng manh-nha cuả bắt đầu.

Đại-học nói: "Muốn tu thân, trước phải chính-tâm". Cũng nói: "Muốn chính-tâm, trước phải thành-ư; muốn thành-ư, trước phải trí-tri".

 Mạnh-tử nói: "Duy đại-nhân mới năng biến cách được ḷng vua sai trái, phải nhânmà chẳng nhân, phải nghiă mà chẳng nghiă, phải chính mà chẳng chính. Một khi vua đă chính rồi, tự nhiên nước khắc định-trị".

Trong thiên Đối-Sách, Đổng Trọng-Thư nói: "Làm  bậc nhân–quân, là chính-tâm để chính triều-đ́nh, chính triều-đ́nh để chính bách-quan, chính bách-quan để chính vạn-dân, chính vạn-dân để chính tứ-phương, chính tứ-phương để chính xa gần, không ai dám bất nhất mà quên tà-khí làm hoen ố".

Thuyết-Uyển bảo Dịch nói: "Ngửng lên mà xem thiên-văn, cúi xuống mà xét điạ-lư. Cho nên biết nguyên-nhân cuả u-minh. Ôi hiệu-quả cuả thiên-văn, điạ-lư, nhân-t́nh c̣n giữ trong tâm-khảm, ắt là kho-lẫm cuả thánh-trí".

Thiên Vấn-thần trong Pháp-ngôn bảo: "Hoặc giả hỏi về thần". Đáp: "Tâm thỉnh vấn đấy". Rằng: "Tiềm tâm tức thần. Thiên điạ thần-minh mà bất trắc th́ thiên tiềm điạ, mà điạ hợp đức với trời đất. Nên nói: do sẽ đo lường người với sự-luân không đủ để bàn đến. Phục-hi, Văn-Vương, Khổng-tử là những người đó".

Thiên Canh-tang trong sách Trang-tử nói: "Vạn-ác không thể ở trong linh-đài". Tư-mă Bưu chú rằng: "Tâm là cái đài cao cuả thần-linh".

 

Viễn: Ngu-Phiên chú Dịch rằng: "Kiền là xa xôi".

Lăo-tử Đạo-đức-Kinh nói: "Huyền đức sâu vậy, xa vậy".

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư
Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics,
a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

             

 

 

 

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang XUÂN 2013- Văn Học Nghệ Thuật Và Quê Hương