Mục Lục
 

  Trang B́a
     
 Ban Biên Tập
 
Lá T Xuân
     
 Nguyễn Thị Thanh T
      
Đọc Lá TXuân:
      
Lê Thị MChâu
  S Táo Quân
     
 Nguyễn Thị Thanh T
 Câu Đối Tết 
     
 Lê Bá Thiên
 Câu Đối Tết
       Vinh H

 

Chúc Tết
 

 Mừng Xuân Canh Dần
      Vinh H
 
Đôi Lời Tâm S
     
Lư H
 TChúc Tết
     
Trần Đ́nh Thọ


X
uân
Q
N



 
 Mùa Mai Hiếm
      
Nguyễn Quang Lộc
 
 Chuyện Cái Thùng Bánh Tét
       Lương LBích San
  Xuân Này Tôi Nhớ Măi
      
Trần N Phương

 

Xuân
Đ
ất Khách


  Một Cái Tết L K 
      
LThanh Cư
  Xuân Nguyện
       Đinh Thị Lan
 
CCâm
     
 Lâm Thanh Nhàn
 
Trước Thềm Năm Mới
       Đặng Thị Ngọc N
  Hai Không L Chín Nh́n Lại 
     
 Phi Ṛm


 

Sinh Hoạt Tết
Hải Ngoại
 

  Kịch Vui Vơ Thuật 
     
 Nguyễn Dzuy Nam
      
Nguyễn Dzuy An

 

 

H́nh nh Tết
 

  QN 
     
 SXương Hải
 
 Hải Ngoại 
     
 Đinh Bá H

 

Hoa Xuân
N
gày Tết
 

  Hoa Đào Trong Mắt Ai 
     
 Phạm Thị Nhung

 

Chuyện Vui
 

 Đầu Năm K Chuyện Vui
     
Lư H
 Tiếng Việt
     
Nguyễn Quang Lộc

 


Ca Hát/Nhạc

     Tiếng Hát:

 Mộng Chiều Xuân
     
Lan Đ́nh
 Tiếng Sáo Thiên Thai
     
Lan Đ́nh
 Gái Xuân
     
Lan Hương
 
Ca Vọng C
     
Lư H
 Đọc Truyện:"Trăng Q
      
Nhà" Của Phùng Thị Phượng

     
Lư H
 Nha Trang Ngày V
     
Nguyễn Tính
 

 

TVi


  Người Tuổi Dần
     
ABC Sưu Tầm (NXV)
 

 

Tôn Giáo


  Phật Giáo Đi Vào Đời
     
Mục Đồng
  Chùa Ngọc Lâm

     
TBửu Nguyễn Thừa
 

 

Năm Canh Dần
N
ói Chuyện H  

  Cọp V Làng
      
Vinh H
 
Tản Mạn Về Năm Canh Dần
      
Nguyễn Văn Thành

 

 

d_bb
Đ.H.K.H
 

  Cách Chơi Mạt Chược 
      
Tô Đồng
  Liêu Trai C D
       Đàm Quang Hưng
  Thanh Phong Thi Tập 
     
 Vũ Tiến Phái
 
LVu Lan
       Nguyễn Văn P
 
Chính Danh Thủ Phạm
      
V Đổi Lịch Báo Hại

     
 Nguyễn Hữu Quang
 
Cỗi RBậc Hai
       Nguyễn Đc Tường
 


 

Tranh
N
ghệ Thuật


 Tranh Họa Nghệ Thuật

      
Phi Ṛm
 

 

Kinh Nghiệm Sống

 Xuân Đời Người Theo Chu
     K
Thời Gian

      
Hải Lộc

 


Văn Hóa
m Thực



 Bánh Tét-Hương V Tết
     
Lê Thị MChâu
 GThủ
     
Lê Thị Đào
 Mứt Dẻo
     
Lê Thị Đào
 Nấu Mắm Tôm
     
Lư H
 Khoai Lang
     
Dương Công Thi

 



Sức Khỏe

      
  Đại Dịch Cúm Heo Hay
      
Đại Chủng Ngừa Cúm Gà
 
     
BS Nguyễn Vĩ  Liệt
  Những Căn Bản V
      
Di Truyền Học
 
     
BS Nguyễn Vĩ  Liệt

 

 

Biên Khảo
Kinh Tế
 

Việt Nam

  Tổng Kết T́nh H́nh Kinh Tế
      
Việt Nam Năm 2009

       Nguyễn Văn Thành

Hoa K

  Tổng Kết T́nh H́nh Kinh Tế
      
Hoa K Năm 2009

       Nguyễn Văn Thành

 

 

Chuyện
Đ
ó Đây
 

  Cảm Ơn ASIMO
      
BS ĐHồng Ngọc
 
Năm Hết Tết Đến

      
BS ĐHồng Ngọc
 
Mười Năm Chân Bước Trên
     
Đường Dài

       Lương LHuyền Chiêu
 
 Ngày Xuân K Chuyện Làm
      
Báo Singapore
 

       Nguyễn Thị Thục


 

Viết v
Ninh Ḥa


 
Ḥn Vọng Phu Q Tôi

     
 Đinh Hữu Ân
 
Ninh Ḥa Tôi Xưa

     
 Lương LHuyền Chiêu
 
Những Bước Đường Đi Qua
      
Của Một Người Con Xóm
      
Rượu

     
  Nguyễn Hưng
  Chùm Me "Phong Ấp"

     
 Lê Thị Hoài Niệm

 



Viết v
ninh-hoa.com



  Viết Cho Ninh-Hoa.com
     
 Lê Thị MChâu
 
Gái Tuổi Dần

     
 Lương LBích San



 

 KNiệm V
Trường:

Trần B́nh Trọng
Ninh Ḥa

  Những Mùa Xuân Đi Qua
     
 Thầy Trần Hà Thanh


Vạn Ninh

  Xuân Nhớ
      
N Thị Kim Anh
 
Thương V Vạn Ninh

      
Thầy NK
  Nha Trang Ngày V

      
Nguyễn Thị Kính
  Nhớ V Nha Trang

      
Nguyễn Thị Kính
  Phôi Pha Tháng Ngày

      
Thầy Trương Văn Nghi
  Một Chuyện Mùa Xuân

      
 Cô Đặng Thị Tuyết N
  Chúc Mừng X Vạn

      
Nguyễn Thị T
 

Các Trường Khác

 Thảo Trang
     
  Nguyễn Đồng Danh
 
Trường Hưng Đạo NhaTrang

     
  Phạm Thanh Phong


 

Thi Nhạc
Giao Duyên
 

 Hồn Tôi Theo G Bay V
      
Mùa Xuân

     
 LMST
 Nắng Mai

     
 Mục Đồng
 

 

Văn Học NT
Lịch Sử/Địa Lư
 


 
Cảm Nghĩ VNhạc Dân Gian

      
Anh Bằng - Hoàng Nam
 
"Xuân Dạ"

      
Dương Anh Sơn
  "Xuân Nhật Ngẫu Hứng"

      
Dương Anh Sơn
  Em Là Nốt Nhạc D Thương

      
NxVạn
 
Bài Hát V Tha La Trong
      
Kư c

      
Việt Hải  Los Angeles
  Ai Xuôi V Tây Đô ?

      
Việt Hải & Mindy Hà
  Sống Đ Viết, Viết Đ Sống

      
Trần Minh Hiền
  T Xuân Điều Ngự Giác
      
Hoàng Trần Nhân Tông

      
TBửu Nguyễn Thừa

 



T
 


  Chúc Xuân

      
Nguyễn Thị Bảy
  Mừng Ngày Hội Ngộ 

      
Nguyễn Thị Thanh B́nh
  Ba Mùa Xuân

      
Nguyên Bông
  Hoài Cảm

      
Nguyên Bông
  Gởi Thiệp Xuân Thăm Mẹ

      
Trần Ngọc Chánh
  Nhớ Xuân

      
Hương Đài
  Xuân Của Chị

      
Lan Đinh
  Hương Biển Mặn Mà Xuân

      
Thầy Quách Giao
  Xuân Tàn

     
 Lê Thị Ngọc Hà
  Đôi Mắt Em

      
Việt Hải LA
  Một Nửa Yêu Em

      
Việt Hải Los Angeles
  Khai Bút 2010

      
Trần Minh Hiền
  Con Sông Nào Đă Xa Nguồn
      
Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa
  Lạc Lơng
      
Nguyễn Thị Tuyết Hoa
  Xuân Ly Hương

      
Vinh H
 Xuân V Lại Nhớ Q Hương

      
Vinh H
  Ngọt Ngào Xuân  

      
Trần Thị Phong Hương
  Bỗng

      
Nam Kha
  Sắc Xuân

      
Đinh Thị Lan
  Mùa Xuân Trên Đất Lowell

      
CBà Trần Thanh Liễu
  Chuyện Ngày Xưa

      
Nguyễn Duy Long
 Xuân Ơi! Xin Chầm Chậm N

      
Hải Lộc
  Xuân V

      
Lê Thị Lộc
  Người Đi

      
Đàm Thị Ngọc Lư
 Đôi Ta  

      
Đặng Thị Ngọc N
 Thói Đời  

      
Đặng Huy Nhẫn
 Nắng Chiều Xuân  

      
Phan Kiều Oanh  
 T́nh Xuân  

      
Phan Kiều Oanh
 Xuân Chia Ly  

      
Phan Kiều Oanh
 Hạnh Phúc Đâu Xa

      
Nguyễn Hoàng Phi
  Đợi Anh V

     
  Phạm Thanh Phong
  Không Đ          

      
Trần N Phương
  Nhớ Xuân Xưa          

      
Trần N Phương
  Gương Mặt Trái Xoan

      
NQ
  Ngỡ Ngàng NXuân

      
Lâm Minh Tài
  Xuân Tri K          

      
Lâm Minh Tài
 Mùa Xuân Đó Phút T́nh C  

     
Cô Kim Thành
 Trăng Ngủ Quên

      
Cô Kim Thành
  Nỗi Nhớ Chiều Cuối Năm

      
Vơ Ngọc Thành
  Phác Họa

      
Vơ Ngọc Thành
  Dấu n T́nh Q

      
Anh Thy
  Quả Dưa Ngày Tết

      
Nguyễn Thị T
  Tưởng Nhớ

      
Thi Thi
  Xuân Tha Hương

      
Nguyễn Thị T
  Mùa Xuân Và Nỗi Nhớ

      
Trần Đ́nh Thọ
  Chúc Mừng Năm Mới

      
N Trưởng Tiến
  Q Hương Tôi Nỗi
      
Chờ Mong

      
Nguyễn Tính
  Xuân Viễn X

      
Nguyễn Tính
  Tháng Giêng Ơi

      
Lương MTrang
  Em Có Biết

      
Nguyễn Thục
  NCọp Lên Ngôi
     
Tú Trinh
  Xuân - Vẫn m Ḷng

      
Thượng Tọa Thích Ngộ T
  Thương Nhớ Ơi !
      
Nguyễn Thị Thanh T
 T́nh Xuân Đất Khách

      
Du Sơn Lăng T
  Xuân Gợi CHương

      
Du Sơn Lăng T
  Ca Khúc Mùa Xuân

      
Lê Duy Vũ
 


Văn

 

  Bóng Nắng Xuân
       Nguyên Bông
 
 Những Vần TVụn Gẫy
       Nguyễn Tấn Ca
 
 Nỗi Nhớ Cuối Năm
       Trần Thị Chất
 
 Những Ngày Giáp Tết
       Lê Thị MChâu
 
 Hạt Giống Đang Nảy Mầm
       Phan Phụng Dung
 
 Mái NXưa
       Tâm Đoan
 
Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng
     
 Lê Thị Ngọc Hà
 
Bông Cải
     
 Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa
  Hơi Thở Mùa Xuân
      
 Nguyễn Thị Tuyết Hoa
  Mưa Cuối Mùa
      
 Nguyễn Thị Tuyết Hoa
 
Tiếng Vọng Trên Ngàn
     
 Tường Hoài
 
Giây Phút Giao Thừa
     
 Lư H
  Nơi Trái Tim
       Nguyễn Quang Lộc
 
 Tạm Biệt...
       Thanh Mai
  Trên Nỗi Nhớ Thương Đau   

      
Nguyễn Hữu Nghĩa
  KNiệm...Vui
     
 Phan Kiều Oanh
  Mai Hương Xuân   

     
 Topa  Panning
  Chào Bảy Mươi   

      
Trương Thanh Sơn
  Phần Thưởng
     
 Lâm Minh Tài
  Nơi Đàn Chim Bay V T́m
       
Hơi

      
Nguyễn Hữu Tài
  Đám Ma Người Ngoại Đạo
     
 Hoàng - Thanh
  Xúc Tép 

      
Dương Công Thi
  Em Tôi Đă Ra Đ

      
Hà Thị Thu Thủy
  Buồn Vui Đời Lính TT

      
Nguyễn Tính
  Những Con Đường Dưới
     
Chân Tôi
       Nguyễn Đôn Huế Trang
 


 

 

 

 

 

Thư từ, bài vở, h́nh ảnh hoặc
ư kiến xây dựng, xin liên lạc:

 
diem27thuy@yahoo.com

 



 

 

 

 

 

 

 


 

 


 

 

            PHẬT GIÁO ĐI VÀO ĐỜI 

 

1. Mục đích sự có mặt của Phật Giáo giữa cuộc đời

 

Trong giáo lư nhà Phật nói chung, tản mát khắp nơi như kinh điển, chùa viện, hoành liễn trang hoàng, có một câu tuyên bố rất nổi tiếng: “Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Chính đức Phật dạy như thế, và bản thân Ngài cũng đă hành như thế. Đây chính là cốt tủy của sự dấn thân, v́ tha nhân phục vụ, sự mở cửa rộng răi để đón nhận cũng như truyền trao các giá trị đạo lư trong một mức độ tương tác tối đa giữa đạo và đời.

 

Hai tính chất cơ bản của Phật Giáo là từ bi và trí tuệ. Có sự hiểu biết lớn, thấu hiểu nỗi đau của mọi người mọi loài, thông cảm được mọi hoàn cảnh và sự chuyển biến của các tầng mức xă hội, th́ mới có thể yêu thương và cứu độ một cách trọn vẹn. Nếu chỉ đơn thuần ḷng thương, ra tay cứu giúp, mà không hiểu bản chất của việc cứu giúp, đối tượng được nhận sự cứu giúp, th́ giá trị thật của việc cứu giúp kia chỉ đạt một phần rất tối thiểu. Đôi khi, nó c̣n bị phản ứng ngược, ḷng thương yêu trở thành thương hại. Nếu là một nhà thiện nguyện đích thực, phải là một người biết giúp đỡ từ cái “gốc”, chứ không phải chỉ san sẻ chia sớt ḥng vơi đi nỗi đau trước mắt, đó là sự giúp đỡ cho “cái ngọn”. Một nhà từ thiện đích thực là người biết tổ chức cho đối tượng được cứu giúp nhận được cả hai phần: sự chia sẻ vơi bớt cái “ngọn” đau thương tạm thời và phương pháp diệt trừ cái “gốc” thiếu thốn, phiền năo. Giống như một nhà thiện nguyện nào đó đă tuyên bố: “Tôi sẽ cho anh cái cần câu và cách câu cá, chứ tôi không cho anh con cá”.

Đọc lại lời nguyện thứ 11 của đức Phật Dược Sư, ta sẽ thấy rơ gồm hai vế: “Trước ban vật thực (phương tiện, nhịp cầu), sau ban bố chánh pháp giải thoát (cứu cánh)”. Qua đây cho thấy, sự yêu thương đích thực trong Đạo Phật bao gồm đủ hai yếu tố: “ban vui” và “cứu khổ”. Tức, khía cạnh thứ nhất của t́nh thương là làm vơi bớt nỗi đau trên bề mặt hiện tượng, bằng cách gần gũi với đối tượng, tận tay chăm sóc đối tượng, dùng lời lẽ dịu dàng an ủi, ánh mắt chân thành cảm thương. Khi duy tŕ bước thứ nhất được bền bỉ, dần dần tiến đến tháo gỡ những khúc mắc sâu xa hơn, cung cấp những nền tảng cơ bản để đối tượng có khả năng tự dẹp tan nguyên nhân gây đau khổ cho ḿnh, đó là khía cạnh thứ hai. Hai khía cạnh này, giáo lư nhà Phật nói đơn giản bằng hai chữ “Bi” và “Từ”. Bi là ḷng thương đối với những cảnh ngộ thật sự khốn đốn khổ đau, Từ là ḷng thương không c̣n phân biệt, thương tất cả đối tượng đang sung sướng hay khổ đau. Bên cạnh đó, ḷng thương yêu và sự phục vụ trong nhà Phật là hoàn toàn tự nguyện.

Một số tư tưởng tôn giáo với tính chất ép buộc của giáo điều, tín đồ thường có ḷng tin tuyệt đối, ít dùng lư trí phán đoán, họ tuân thủ nhất mực với đấng tối cao, nên đôi khi sự cống hiến, phục vụ thường có tính chất miễn cưỡng, v́ một đấng thiêng liêng nào đó, hoặc v́ danh tiếng, sự xưng tụng... Ngược lại, đức Phật không hề dạy đệ tử phải tuyệt đối trung thành với bản thân Ngài. Ngay cả lời dạy của ḿnh, Ngài cũng không cho phép đệ tử nhất nhất nghe theo mà không dùng trí tuệ tự quán chiếu. Đối với sự cung phụng, hiến dâng, Ngài định hướng rất rơ cho đệ tử cùng hướng về với tất cả chúng sanh. Nếu chúng ta tự nguyện trong ḷng, trên thế gian này chỉ có đức Phật là người xứng đáng nhất để tôn thờ, tri ân; th́ sự trả ơn cho đấng tôn quư ấy chính là cùng Ngài thực hiện công việc giúp đỡ chúng sanh. Hầu như, tất cả Phật tử Việt Nam đều thuộc ḷng cụm từ “đương nguyện chúng sanh” (xin nguyện cho tất cả mọi loài), v́ nó luôn xuất hiện trong thời khóa tu tập hằng ngày.

VD: “Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại Đạo, phát vô thượng tâm.”

Nghĩa là: “Con về nương tựa Phật, xin nguyện cho tất cả chúng sanh được cùng con thể nhập vào con đường lớn và phát tấm ḷng thương yêu hiểu biết lớn.”

Hoặc, ngay lúc mới thức dậy, cũng đă nguyện: “Thùy miên thỉ ngộ, đương nguyện chúng sanh, nhất thiết trí giác, châu cố thập phương.”

Nghĩa là: “Ngủ vừa mới thức dậy, con xin nguyện cho tất cả trí hiểu biết của chúng sanh đều được chu toàn khắp cả mười phương.”

Sự thật của cuộc đời vốn là bất toàn, khổ đau. Sự xuất hiện của đạo Phật, do đó, là một phương thuốc để làm vơi bớt sự khổ đau này, bằng chính chất liệu từ bi vô hạn.

 

2. Con đường nhập thế

 

Truyền thống từ thời đức Phật c̣n tại thế, tuy chưa có h́nh thái mở rộng, khuếch đại thành mô h́nh to lớn, nhưng yếu tố từ bi cứu đời, dấn thân thể nhập của Phật Giáo đă hiển nhiên có mặt như vốn bản chất của nó. Sự tương tác giữa người tu hành xuất gia và tại gia cư sĩ là quan hệ hỗ tương của hai yếu tố: phương tiện vật thực nuôi sống thể xác và phương tiện Đạo lư nuôi dưỡng tâm linh. Mỗi buổi sáng thức dậy, thiền tọa, kinh hành, … trước giờ Ngọ, vị Tỳ kheo ôm b́nh bát đi vào làng khất thực, với hai mục đích rất rơ ràng: (1) t́m vừa đủ một phương tiện nuôi thân là một bữa ăn duy nhất hằng ngày; (2) tạo điều kiện cho người cư sĩ có cơ hội gieo trồng phước đức cũng như đón nhận những bài pháp của vị khất sĩ bằng thân giáo và (đôi khi c̣n có) khẩu giáo. Qua sự trao đổi “đạo - đời” như vậy, h́nh ảnh từ ái, thanh thoát, xả kỷ vị tha, không tranh cầu chiếm đoạt của những vị khất sĩ đă dần đi vào ḷng xă hội. Đồng thời, vị ấy cũng có đủ một phương tiện tối thiểu nuôi sống tấm thân giả tạm ở mức độ trung dung, không khô gầy cũng không cần béo tốt.

 

Mỗi địa phương, mỗi thời điểm có một cách thức, nguyên lư nhập thế khác nhau. Khi đạo Phật truyền vào Trung Hoa và các nước châu Á nói chung, nó phải thay h́nh đổi dạng để thể nhập được thuận chiều. Ở Trung Hoa, mọi h́nh thái văn hóa, chính trị đều bị ảnh hưởng nặng nề bởi Nho Giáo lâu đời. Con người là con người của xă hội, không thể tách rời khỏi xă hội. Yếu tố định h́nh con người theo Nho Giáo từ xưa đă cụ thể hóa theo từng mức từ thấp đến cao: tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ. Do đó, với tinh thần “tùy duyên bất biến”, các nhà truyền đạo đă uyển chuyển, thay đổi mô thức tu hành để phù hợp với con người mang đậm chất Á Đông, tạo nên sự kết hợp hài ḥa giữa Phật Giáo và Nho Giáo.

 

Một khi cần đáp ứng như thế, mọi thứ thuộc về hiện tướng của Phật Giáo đều được thay đổi, như: phương pháp tu tập, tổ chức Tăng già, mô h́nh sinh hoạt, cách ăn mặc, màu sắc y phục, v.v.

VD: Khi c̣n ở Ấn Độ, tu sĩ Phật Giáo chưa có chiếc áo hậu vàng, tay rộng. Nhưng khi đến Trung Hoa, Phật Giáo được tầng lớp hoàng tộc tôn sùng, thỉnh ban một h́nh thức cao cả để thể hiện sự kính trọng, nên các vị Tăng mới được chế thêm chiếc áo na ná giống áo của vua (áo màu vàng chỉ có vua mới mặc). Tuy nhiên, “y phục gốc” của một Tỳ kheo đệ tử Phật vẫn không bị mất, đó là chiếc Cà Sa (cái y h́nh vuông, mà ta thường nói qua câu tục ngữ “đầu tṛn áo vuông”). Chiếc áo này được đắp phủ lên chiếc áo “đặc ân” của vua chúa kia.

Để chia sớt sự vất vả của con người về phương tiện vật thực, vị Tỳ kheo của phong thái mới này không c̣n chờ đến giờ ôm bát đi khất thực nữa, mà các vị đă tự túc sản xuất ra vật thực. Việc tự túc kinh tế thiền môn đă dần dần trở nên rơ ràng, cụ thể, nổi tiếng qua các giai thoại trong lịch sử Phật Giáo. Như tổ sư Bách Trượng - Trung Hoa có câu nói bất hủ: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn). Sản xuất nông thiền đă giải quyết được dễ dàng vấn đề nuôi thân của Tăng đoàn, đồng thời cũng đánh tan được quan niệm sai lầm vốn rất kỳ thị của Nho Giáo và xă hội Trung Hoa nói chung, là “đạo Phật yếm thế lánh đời”. Về sau, thời kỳ cận đại, trong giai đoạn chấn hưng Phật Giáo Trung Hoa, Thái Hư Đại Sư c̣n có những quy định cụ thể về “tam giáo”: giáo lư, giáo chế, giáo sản.

 

Hoặc một ví dụ khác gần đây hơn, tại Việt Nam vào khoảng thập niên 60, 70, để nuôi dạy đủ cho đời sống tu tập của học Tăng Phật Học Viện Hải Đức - Nha Trang, Ḥa thượng Thích Đỗng Minh đă đứng ra thành lập các hăng sản xuất vị trai, đèn cầy, xà pḥng … bằng kỹ thuật tiên tiến nhất lúc bấy giờ. Cuộc đời dành trọn cho hành tŕ giới luật, đào tạo Tăng tài của Ḥa Thượng c̣n được lưu lại bằng một câu nói hết sức sống động, thể hiện cực độ tính chất nhập thế tu hành: “C̣n nhỏ đi học th́ học chết bỏ, khi ra làm việc th́ làm việc chết bỏ, về già tu th́ tu chết bỏ.”

 

Không chỉ dừng lại ở đó, vào thời kỳ hiện đại với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, Đạo Phật cũng tùy theo nhân duyên này mà trở ḿnh mạnh mẽ. Các kênh thông tin Phật Giáo ra đời, website Phật Giáo ngày một rầm rộ. Kinh điển được sao chép không như ngày xưa trên lá bối, mà ngày nay trên những CD mỏng tanh. Một bộ nhớ nằm trên bàn tay có thể gói trọn Tam Tạng của Phật Giáo. H́nh thức thuyết giảng trở thành quy mô rộng khắp với sự hỗ trợ tối đa của âm thanh, ánh sáng, truyền thông. Các đạo tràng tu tập cho xuất gia, tại gia được tổ chức theo quy mô hoành tráng, nhân rộng khắp nơi trên thế giới. Một nhà sư thời nay không chỉ có ngồi thiền, ê a tụng kinh cầu nguyện để cứu rỗi linh hồn cho người sống hoặc người chết, mà c̣n kiêm cả một nhà giáo dục, nhà tâm lư học, triết gia, một kỹ thuật viên, nhà kinh tế, một nghệ nhân, hướng đạo viên chuyên nghiệp, v.v. Có nhà sư c̣n là bác sĩ, một cô nuôi dạy trẻ để trực tiếp giải quyết vấn đề cứu tế xă hội.

 

Một sự phát triển bao giờ cũng có hai mặt. Nếu không ư thức rơ cái cần thiết là “đem Đạo vào đời”, th́ vô t́nh Phật Giáo sẽ bị “nhiễm đời vào Đạo”, hay nặng hơn nữa là “Thế tục hóa Phật giáo” thay v́ “Hiện đại hóa Phật Giáo”. Sự nhập thế của Phật Giáo hiện đại cũng hiển nhiên đi kèm với những hạn chế nhất định, v́ nhập thế th́ phải gắn liền với kinh tế, xă hội, chính trị, nghệ thuật … Một nhà sư thay v́ chỉ chú trọng thời gian cho việc thiền định th́ bây giờ phải bỏ ra rất nhiều th́ giờ để học tập, nghiên cứu cho kịp với đà tiến của xă hội. Giả sử tham gia làm kinh tế, th́ nhà sư ấy bắt buộc phải hiểu rơ quy luật cung cầu, phương thức sản xuất, thị hiếu khách hàng, yếu tố cạnh tranh, v.v. Đầu óc của những vị ấy sẽ dần dần phai nhạt “Chư pháp vô ngă, chư hành vô thường, Niết Bàn tịch tịnh”, phải tô đậm lên h́nh ảnh của những con số, công thức, mô h́nh, cơ cấu tổ chức, v.v. Tham gia tổ chức, nghệ thuật, văn hóa, nhà sư bắt buộc phải đầu tư nhiều hơn về phương tiện vật chất: xe máy, xe hơi, điện thoại di động, internet, vân vân và vân vân, thậm chí bill điện nước, hợp đồng thuê mặt bằng, nhà đất. Nếu không đặt nặng yếu tố cơ bản là “sử dụng phương tiện để cứu đời” th́ chắc chắn h́nh ảnh một nhà sư không khác chi người thế tục, thậm chí có thầy c̣n giàu có, xa hoa hơn cả một cư sĩ. Dù sao những cái này vẫn c̣n nhẹ coi hơn nếu một nhà sư tham gia chính trị. Ngày xưa, một nhà sư tham chính rất đáng tôn sùng như Vạn Hạnh thiền sư, Khuông Việt quốc sư là cố vấn hoàng gia, Phật Hoàng Trần Nhân Tông tuy thân đă xuất gia, tu hành giải thoát thành Phật vẫn đích thân tham chính, đi t́m hiểu ban giao với nước bạn Chăm Pa. Ngày nay, nhà sư mà dính líu vào chính trị th́ chắc chắn không dễ thở chút nào: biết cách mưu tính, đầu óc cang cường, vận động đấu tranh, rồi hệ quả là bị rêu rao, chửi bới, chụp mũ … Thế th́ thời gian đâu mà tu niệm, không gian nào để tĩnh tọa, tư duy nào để quán chiếu vô ngă, vô thường? Thật khó thay!

 

Nhận định về con đường nhập thế, nếu bỏ qua sự lợi dụng phương tiện để bảo chứng cho hành vi ham muốn của một số cá nhân, vấn đề ứng dụng khoa học kỹ thuật vào việc hành đạo, hóa đạo là một vấn đề rất cần thiết, cấp bách cho Phật Giáo và nên được khuyến tấn phát huy liên tục. V́ con đường này không dừng lại, mà vẫn tiếp tục dọc theo sự biến chuyển của cuộc đời, để có hành động “đi ngược ḍng đời” mà ứng dụng, chuyển hóa.

 

3. Lời dạy nhập thế trong kinh điển

 

Rải rác trong khắp các kinh điển, những lời dạy về sự dấn thân đem Phật Pháp vào đời rất rơ ràng sống động. Với Phật tử Việt Nam, đa số vẫn gần gũi nhất là bản kinh A Di Đà, v́ Phật Giáo Việt Nam trước nay xu hướng rộng răi nhất là theo Tịnh Độ Tông. Kinh A Di Đà có đoạn: “Nhặt tất cả các loại hoa thơm, đi cúng dường 10 phương chư Phật, sau đó trở về quốc độ phạn thực, kinh hành”. Đọc kinh Đại Thừa, ta phải hiểu ư nghĩa ẩn dụ, thi ca của nó chứ không chỉ hiểu trên nghĩa đen. Đoạn kinh trên tả cảnh nhân dân ở cơi Cực Lạc mỗi ngày trau dồi tất cả công đức an tịnh, thơm hương (hoa ở đây là chỉ cho đức hạnh, các việc lành), hướng những việc lành ấy về các cơi, không phân biệt, không giới hạn. Con số mười là con số tượng trưng cho sự trọn vẹn, đầy đủ. Cho thấy, đâu phải sinh về Cực Lạc rồi là chỉ ngồi đài liên hoa hưởng phước! Mà sau khi đă sinh về Cực Lạc, chúng sanh càng tu tập tinh tấn hơn, sống đời sống vị tha cao cả hơn, sống tích cực hơn, sống có lợi cho số đông hơn. Sau khi cúng dường mười phương cơi xong, nhân dân nước ấy trở về quốc độ, dùng cơm, kinh hành. Đây là ư nghĩa tự lợi, lợi tha kiêm toàn. Không chỉ lăng xăng lo việc bên ngoài, mà một hành giả c̣n cần phải ư thức lấy chính ḿnh, mọi hành xử phải trong chánh niệm. “Kinh hành” c̣n có ư nghĩa là biết sử dụng năng lực của ḿnh, đi trên chính bước chân của ḿnh. Vừa là hoạt động tích cực, vừa giữ được ư thức chánh niệm tự tâm. Bên cạnh đó, hành giả c̣n tiết kiệm phước báu, cảm nghiệm được giá trị của sự lợi lạc, không hưởng dụng phước báu chỉ cho riêng ḿnh.

 

Một bản kinh Đại Thừa khác mà h́nh ảnh ứng dụng, thi ca rất phong phú là kinh Pháp Hoa. Trong kinh này, phẩm Phổ Môn kể về công hạnh của Bồ tát Quán Thế Âm có nêu ra 32 ứng thân phát nguyện của Bồ tát. Trường hợp cần sử dụng thân nhà vua để đối tượng được hóa độ, Ngài liền hiện thành thân vua để thuyết pháp. Tương tự vậy, Ngài có thể biến hiện thành các ứng thân khác: Trưởng giả, em bé thơ, tiên, rồng, nhạc sư, quan lớn hay thần Kim Cang … Đây là một h́nh thái biểu tượng cho sự nhập thế rất cao cả của Phật Giáo Đại Thừa. Bất kỳ t́nh huống nào, trường hợp nào một vị Bồ tát đều không phân biệt, có khả năng thể nhập, tiếp cận và dùng phương tiện quyền biến để hóa giải. Phải nói rằng, h́nh ảnh Bồ tát Quán Thế Âm là đỉnh cao của nghệ thuật ẩn dụ cho sự nhập thế cứu đời.

 

Trong kinh Dược Sư, nếu ai đă từng tŕ tụng th́ chắc chắn nhớ câu: “Giải kiết, giải kiết, giải oan kiết”. Chữ “giải kiết” được lập đi lập lại rất nhiều lần, không chỉ trong câu ngắn bảy chữ này mà c̣n trong cả bản kinh nữa. Phật tử Việt Nam khi cầu an đảo bệnh thường tŕ tụng kinh Dược Sư, bởi nó được xem như một liều thuốc mát, làm nhuận tiêu những sự nhiệt năo, nóng bức trong tâm hồn. Bao nỗi oan khiên, oán kết mà ta đă tự tạo, tự kết dài lâu qua nhiều đời nhiều kiếp, giờ đây nhờ giọt Cam lồ mát dịu này mà được tiêu tan. Ngoài ra, đối với những oán kết bên ngoài thân tâm ta cũng thế, nhờ liều thuốc Từ Bi, tinh thần xả kỷ vị tha, hành giả có thể làm mát dịu và dần dần dập tắt những mối oán kết giữa người với người, giữa đất nước với đất nước, v.v. Cho nên, bản kinh Dược Sư cũng ẩn chứa một nghệ thuật nhập thế chính trị rất cao, là lộ tŕnh giải kết hận thù, với mục tiêu dập tắt chiến tranh.

 

Kinh Pháp Cú, một bản kinh sưu tập những lời dạy ngắn gọn xúc tích của đức Thế Tôn, cũng ẩn chứa nhiều lời dạy sâu sắc, có thể dùng làm kim chỉ nam hoạt động cho sự dấn thân của hành giả Phật giáo.

Câu pháp cú số 49 đúc kết nên h́nh ảnh một vị sư với phong thái ung dung đi vào làng khất thực, gieo trồng chất liệu từ bi vào ḷng người, rồi cũng ung dung bước đi, không luyến tiếc, không vướng bận, như con ong tới hút mật rồi đi, không làm hại đến hoa:

 

Như ong đến với hoa,

Không hại sắc và hương,

Che chở hoa, lấy nhụy.

Bậc Thánh đi vào làng.

Không nên nh́n lỗi người,

Người làm hay không làm.

Nên nh́n tự chính ḿnh,

Có làm hay không làm.

 

Pháp Cú 54 ca ngợi hương thơm đức hạnh của một người chân tu. Loại hương thơm này không cần xúc tác của gió trời mà tự nhiên như thị tỏa ngát muôn phương. Nơi đâu có sự xuất hiện của đức hạnh, nơi đó có an lành, thong dong giải thoát:

 

Hương các loại hoa thơm

Không ngược bay chiều gió,

Nhưng hương người đức hạnh

Ngược gió khắp tung bay.

Chỉ có bậc chân nhân

Tỏa khắp mọi phương trời.

 

Pháp Cú 58 và 81 xây dựng một biểu tượng của bậc trí đi vào đời, như hoa sen vươn lên từ bùn, nhưng không nhiễm mùi bùn mà vẫn tỏa ngát hương thơm. H́nh ảnh này rất gần gũi câu ca dao Việt Nam “Trong đầm ǵ đẹp bằng sen … gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Một bậc trí có mặt giữa đời, có thái độ như đàn voi lâm trận, xông pha giữa rừng gươm đao, giáo mác. Cũng như vậy, trước thế sự thị phi, hành giả vẫn hiên ngang bước đi, không chút sợ hăi bởi trong thâm tâm vị này, không c̣n vướng bận chuyện khen chê, được mất, bại thành:

 

Như giữa đống rác nhớp,

Quăng bỏ trên đường lớn,

Chỗ ấy hoa sen nở,

Thơm sạch, đẹp ư người. (PC 58)

Như đá tảng kiên cố,

Không gió nào lay động,

Cũng vậy, giữa khen chê,

Người trí không giao động. (PC 81)

 

 

4. Những tấm gương nhập thế

 

Trong lịch sử Phật Giáo, từ xưa đến nay, rất nhiều những hiền giả nổi tiếng, mà nhờ những vị này, con đường giải thoát vĩ đại của Thế Tôn được kích thích mạnh hơn trong công cuộc thể nhập vào quần chúng.

Trở lại câu nói bất hủ của tổ Bách Trượng “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”, ta có thể nhấn mạnh hai lớp ư nghĩa: Ư nghĩa thứ nhất (như đă nêu trên): vấn đề tự túc kinh tế, phần nào hoá giải được những hiểu lầm, cách nh́n sai lệch và thoát khỏi nanh vuốt phê b́nh một cách cực đoan của Nho Giáo. Tầng ư nghĩa thứ hai là mấu chốt quan trọng để nhận ra tính chất nhập thế cao cả của một hệ phái Thiền, với chủ trương: Ngày nào không thân cận chúng sanh, nhập thế cứu đời, giúp làm vơi đi sự đau khổ của chúng sanh, th́ ngày đó không có quyền sử dụng vật thực như chủ nghĩa hưởng thụ tiêu cực. Đấy! Ai nói thiền là chỉ ngồi một chỗ? Tích cực là như thế! Quan điểm dứt khoát rơ ràng là như thế!

 

Ở Việt Nam, Tuệ Trung Thượng sĩ là một nhân vật có hành trạng phi thường, một nhân vật nổi tiếng trong Thiền môn. Tuy thân cư sĩ nhưng Ngài là một thiền gia đạt đạo, đă siêu việt ngoài ṿng kiến chấp, không câu nệ giáo điều, h́nh thức. Ngài là một trong những mẫu người sống với cuộc đời, không lánh đời mà siêu việt khỏi thói thường t́nh vọng chấp của đời. Thượng sĩ sống giữa ḷng thế tục, hoà ánh sáng của ḿnh với cuộc đời đầy trần cấu. Trong tiếp xúc, Thượng sĩ luôn giữ thái độ hoà ái, nên Ngài rất được ḷng quần chúng, dễ dàng hóa độ họ đến với sâu thẵm thiền cơ. Cuộc đời Thượng sĩ không bị ràng buộc bởi h́nh thức; lúc ẩn, lúc tàng, khi lộ diện, lúc vô thinh. Với một nhân cách tuyệt vời như vậy, chủ trương “ḥa quang đồng trần” đến cực điểm như vậy, Thượng sĩ là một tấm gương “nhập thế” tối ưu của Phật Giáo.

 

Vua Trần Nhân Tông đă sớm nhận ra chân tính ẩn tàng bên trong con người của Tuệ Trung Thượng Sĩ, nên khi chưa xuất gia hành đầu đà trên Yên Tử (rồi sau đó trở thành Trúc Lâm Sơ Tổ) vua đă lạy Ngài làm Đạo Sư. Ở Trần Nhân Tông, ta có thể nhận ra một yếu tố nhập thế tích cực khác: “Chính Giáo lưỡng toàn”. Sau khi nhường ngôi cho con trai là Anh Tông, lên núi xuất gia, hành Đầu Đà ở vườn thiền Trúc Lâm, ngài vẫn không nề tuổi cao sức bạt, vân du khắp đây đó hóa đạo quần sanh, đồng thời theo dơi nhân quần, lắng nghe tiếng nói vạn dân. Ngài chọn chốn non cao cũng là để tiện bề xem xét nhân t́nh thế cuộc quốc gia. Ngài vân du sang tận Chăm Pa, một mặt t́m hiểu Phật Giáo Đại Thừa Đồng Dương, một mặt tạo thế ḥa hợp lân bang, trao khế ước kết t́nh Tần Tấn, lập bang giao, mở rộng cơi bờ. Kết tinh nhập thế nơi Phật Hoàng đă đạt đến độ cao vời.

 

Đất nước Ấn Độ ngày nay, Phật Giáo được biết đến chủ yếu nhờ công lao to lớn của Tiến sĩ Ambedkar, một vị Bồ tát đương thời trong h́nh ảnh Giáo sư đeo kính cận, mặc áo veston nhưng được thờ lạy ngang hàng với Phật, Tổ tại các chùa viện Phật giáo nơi này. Ông xuất thân từ giai cấp cùng đinh, thấp nhất của xă hội Ấn Độ, nhưng đă nỗ lực vươn lên vị trí Bộ Trưởng, làm một cuộc “đại giải phóng”, đó là tự giải phóng mỗi con người ra khỏi ư thức hệ nô lệ của chính ḿnh. Nếu Gandhi là người có công giải phóng dân tộc ra khỏi ách thuộc địa, th́ “Bồ tát” Ambedkar hơn thế nữa, tiến hành một cuộc đấu tranh nội tại, giải phóng tự thân nhờ vào kim chỉ nam Phật Giáo. “Nếu chỉ giải phóng khỏi ngoại nhân, hoặc đối với thế lực khác ḿnh hoàn toàn không bị ràng buộc, nhưng chính ḿnh lại tự trói buộc vào gông cùm nô lệ cho nhục dục, tham ái, không thể giải phóng tư tưởng nô lệ tồn tại cố hữu trong mỗi con người v́ sự cài đặt trường cửu theo tư tưởng Bà la môn ngàn xưa để lại, th́ con người vẫn c̣n đau khổ v́ vô minh che lấp.[1] Ứng dụng giáo lư Phật Đà, nhận chân được giá trị sống thật sự, sống cho chính ḿnh, tự giác thanh tịnh hóa ba nghiệp, làm chủ được bản tâm, cảm tri hạnh phúc ngay đời này; làm được như thế th́ mới thật sự là đem Phật Giáo vào đời. Ambekar là một gương sáng trong lĩnh vực “Nhập thế Chính trị”.

 

Tại Nhật Bản, khuynh hướng Phật Giáo Tân Tăng cũng là một dạng thức nhập thế cực đại, đưa Phật Giáo đến chỗ thực tiễn của Chơn Tục Nhất Quán. Ngài Thân Loan được coi là người có công trực tiếp. Dĩ nhiên trước đó là Thánh Đức Thái Tử, Tối Trừng đại sư, Không Hải đại sư, tổ sư Trà đạo Thiên Lợi Hưu, v.v. Chủ xướng Tân Tăng của Thân Loan ra đời là một lập trường có cơ sở vững chắc, dựa trên tinh thần tôn trọng huyết thống, lấy Thiên Hoàng làm đối tượng hy sinh. Chủ xướng này rất cần thiết cho những người phụng sự Đạo Pháp theo tiêu chuẩn nhân luân đạo đức tại đất nước Nhật Bản. Tăng sĩ phải tu học và hành tŕ các pháp môn thuộc tông phái, cho đến khi hoàn tất công phu, tối thiểu một năm mới có thể được hạ sơn, được chấp nhận trụ tŕ các ngôi chùa nhỏ, được công nhận Tăng sĩ chính thức, và được … cưới vợ. Như vậy, muốn thực hiện quá tŕnh nhập thế của Phật Giáo thật tiễn (độ tha), trước hết người Tăng sĩ phải trải qua giai đoạn nghiêm mật để lo tự độ. Như vậy, Tân Tăng không phải là sự kiện dễ duôi, tùy tiện, mà nó vẫn có quy củ và những yêu cầu tối cần thiết. Theo chủ trương Chơn Tục Nhất Quán, Tân Phật Giáo không chú trọng nhiều vào h́nh thức Tăng hay tục nữa, mà chỉ chú trọng sự cống hiến, tức là công đức lợi tha. Một trong những người có cống hiến to lớn đối với Phật Giáo thế giới, đó là Thiền sư Suzuki – cũng thuộc phái Tân Tăng Phật giáo – người để lại tác phẩm rất nổi tiếng “Thiền Luận”.

 

Trong thời kỳ hiện đại này, có hai cây đại thụ điển h́nh cần tôn xưng. Ở “đất nước vong quốc” Tây Tạng, nhân dân đều tôn sùng, thờ lạy một con người vĩ đại, một nhà lănh đạo cả về chính trị lẫn tôn giáo, một vị Phật sống: đức Dalai Lama. Những lời dạy đạo đức của Ngài đă đạt đến mức độ bao quát toàn cầu. Những hành động và bài viết của Ngài có ảnh hưởng sâu đậm đến tất cả các lĩnh vực trong thế giới đương đại: chính trị, xă hội, tôn giáo, các quan hệ mang tầm quốc tế. Bên cạnh đức Dalai Lama, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng là một con người được thế giới biết đến. Xuất thân từ sơn môn Huế, nhưng Ngài sớm có tư chất siêu việt hơn người, tư tưởng phát triển gần như có thể nắm bắt trước thời đại. Khi chỉ mới là một Sa Di, ngài đă có những tác phẩm xuất sắc. Tiếp sau đó, trong suốt cuộc đời hoằng hóa, Ngài đă cho ra đời không biết bao nhiêu tác phẩm dùng chất liệu thi văn gần gũi, hấp dẫn để chuyển tải tinh thần Phật Học vào với người đọc khắp thế giới. Tác phẩm của Ngài ngoài việc được dịch thành nhiều thứ tiếng trên thế giới, c̣n được dựng thành phim nữa. Ngài đă áp dụng và phát huy Thiền học vào tất cả lĩnh vực bằng phương pháp rất khéo léo và hiện đại, được nhân loại trên thế giới đón nhận và quy tụ về thực hành ngày một đông.

 

Bắt đầu năm 2006, khoa Phật Học của Đại Học Delhi - Ấn Độ đă chuyển cơ cấu giáo dục bậc M.A từ 5 paper lên thành 8 paper, trong đó có một môn học gọi là “Phật Giáo nhập thế”. Hai nhân vật hiện đại được xây dựng thành những bài khóa giảng trong paper này chính là ngài Dalai Lama và Thiền sư Nhất Hạnh. Bên cạnh đó là những bài học về các nhân vật cổ, kim khác.

 

5. Thay lời kết

Phật giáo có mặt giữa cuộc đời là để ban vui và cứu khổ. Bằng chứng là đức Thế Tôn đă chọn Ấn Độ - một đất nước với sự cố hữu phân biệt chủng tộc, mù mờ nhận thức chân lư vũ trụ, lúc bấy giờ nạn đói khát, nghèo nàn tràn ngập - làm nơi thị hiện đản sinh. Như người Mẹ đă rứt ruột sinh con ra, đương nhiên mẹ phải ấp ủ, vỗ về con, thương con bằng tất cả tâm trí, sức lực của ḿnh; Giáo lư nhà Phật cũng chỉ để xoa dịu đau thương, ấp ủ vỗ về cho chúng sanh bớt khổ. Không có người mẹ nào có thể quay lưng lại với đứa con cưng. Phật Giáo cũng vậy, sinh ra giữa ḍng đời, đồng hành với cuộc đời, không thể nào tách rời khỏi cuộc đời mà tồn tại được:

 

Phật Pháp có tại thế gian

Không ĺa khỏi cái biết của thế gian

Rời khỏi cuộc đời để t́m sự giác ngộ

Chẳng khác nào đi t́m sừng thỏ.

 

Tất cả những quan niệm cách ly Phật giáo khỏi cuộc đời dù là chủ quan hay khách quan, đều là quan niệm sai lầm, mù tịt về Phật Giáo.

 

Tuy nhiên, việc đi vào đời thế nào, cách thực hiện ra sao đó là tùy thuộc vào người thực hành lời Phật dạy. Cũng từ một hiện tượng “ḥa quyện” với đời thôi, đúng cũng có mà sai cũng có. Công trạng th́ như thủ lĩnh, mà tội chướng cũng đạt khôi nguyên. Đúng hay sai là do sự quyết chí, tṛn tâm của người thực hiện, có một ḷng hướng đến tha nhân, v́ sự khiếm khuyết của cuộc đời mà dấn thân chấp vá? Hay dựa theo con đường mở sẵn, bỏ cái cốt tủy tinh nguyên mà nhận lấy phần thân cành nhỏ nhặt, để khiến cho Phật Giáo ngày càng nặng nề thêm h́nh tướng vẹo vênh? Trách nhiệm để có một nhận thức đúng và hành động đúng tùy thuộc vào chính mỗi người.

 

 

 

MỤC ĐỒNG

Pune, ngày mùa mưa 14/7/09

 

 

 


 

 [1] Đồng tác giả, “Mùa Phật Đản qua đi” – đăng trong ninh-hoaDOTcom

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       

 

 

 

Trang XUÂN 2010- Văn Học Nghệ Thuật Và Quê Hương