Bài Đọc Thêm Để Hiểu Rơ Về Di Truyền Của Siêu Vi Cúm
NHỮNG CĂN BẢN VỀ DI TRUYỀN HỌC
DNA
là căn bản xây dựng sự sống. Ngày nay, nếu
chúng ta nói đến những bệnh truyền nhiễm là chúng ta phải nói đến DNA,
RNA. Đặc biệt để hiểu siêu vi khuẩn (siêu vi), chúng ta càng cần hiểu
nhiều hơn về di truyền học. DNA có cơ cấu của 2 chuổi xoắn ốc song song
và quấn lấy nhau. Mới nh́n có vẻ đơn giản, tuy nhiên những luật lệ mă hóa
bên trong cơ cấu này giúp chỉ rỏ đặc tính của h́nh dạng và chức năng của
tất cả các tế bào trong một sinh vật đa bào/nhiều tế bào (eukaryotes) như
con người hay sinh vật đơn bào/một tế bào (prokaryotes) như vi khuẩn hay
siêu vi khuẩn. DNA bao gồm 2 chuổi dài của nhiều deoxyribonucleotides (đơn
vi căn bản của DNA), như h́nh 2 con rắn cùng quấn xung quanh một cành cây
theo chiều kim đồng hồ, để tạo h́nh xoắn ốc đôi (double helix) không gián
đoạn. Những nhóm deoxyribose-phosphate liên tục thay phiên nhau nối dài
thành 2 chuổi này, với nhóm phosphate tạo cầu nối 5’-3’ phosphodiester
giữa nguyên tử carbon thứ 5 của một ṿng đường pentose với nguyên tử
carbon thứ 3 của ṿng pentose kế tiếp:

H́nh 1:
H́nh trên đại diện cho 2 chuổi xoắn ốc DNA (DNA double helix). Nét riêng biệt của thông tin về di truyền được mang trong 4
bases- Guanine, Adenine, Thymine, và Cytosine – nó nối dài vào trong từ
sugar-phosphate backbone (sườn) và cặp đôi với base phù hợp với sợi DNA
đối diện. Hậu qủa quan trọng của A-T và G-C cặp đôi này là thứ tự
nucleotides trên một sợi này quyết định thứ tự của nucleotides trên sợi
đối diện. Luật cặp đôi của những bases này quyết định trong việc tích trữ,
phục hồi (retrieval), và chuyễn nhượng chất liệu di truyền, hoặc sự sao
chép DNA vào trong tế bào con, sửa chửa DNA bị hư, hoặc đọc vào mẫu cho
bản sao chép của RNA.

H́nh 2:
H́nh đơn giản của DNA
Những nucleic bases của chuổi này nối liền với nhóm đường pentose của
chuổi kia trong ṿng xoắn, thẳng gó với trục của ṿng xoắn. Thứ tự của
nucleic acids ghi rỏ chi tiết sẻ dẩn tới thứ tự của sản phẩm chất đạm của
nhân di truyền. Chỉ có 4 bases hiện hửu: 2 purines Adenine &
Guanine (A&G) và 2 pyrimidines Cytosine & Thymidine (C&T).
Trong lúc sắp xếp ṿng xoắn đôi, một purine chỉ có thể cặp đôi với một
pyrimidine, và ngược lại. Mổi cặp bases tạo thành một nấc thang của cầu
thang xoắn ốc của phân tử DNA, có thể chứa nhiều triệu cặp bases. Hai
chuổi của DNA, được giữa lại với nhau bằng những cầu nối hydrogen, giữa
những cặp bases bổ sung cho nhau, có điện cực hóa chất đối nghịch nhau.
Một chuỗi hướng theo 5’ đến 3’, th́ chuổi kia hướng theo 3’ dến 5’. Những
phân hóa tố (enzymes) nhận ra thứ tự đặc biệt của DNA cũng nhận ra cực của
mổi chuổi. Một phân hóa tố đọc được những thứ tự của nucleotides trên hai
chuổi đối nghịch nhau. Bởi v́ cơ cấu xoắn ốc của DNA không thay đổi,
những phân hóa tố có nhiệm vụ sao chép, cắt xén, và sửa chửa sự găy vở của
hai chuổi DNA có thể làm việc bất cứ nơi nào trên bề dài của DNA.
Ở trong nhân tế bào (cellular
nucleus) con người có 23 cặp nhiễm sắc thể (chromosomes) khác nhau, chứa
toàn bộ di truyền (genome) của con người. Mổi chromosomes là một phân tử
DNA h́nh xoắn ốc rất dài, cuộn chặc lại với nhau nhỏ lại và riêng biệt bởi
những chất đạm nhân (nuclear proteins). Chiều dài của mổi nhiễm sắc thể,
thứ tự và cấu trúc của những cặp bases thay đổi khác nhau trong 23 cặp
nhiễm sắc thể. Tổng số deoxyribonucleotides trong 23 cặp nhiễm sắc thể
của tế bào con người là khoảng 3 tỉ (3×109)
cặp bases và khoảng 30,000 nhân di truyền (genes). Những thông tin mang
trong bộ di truyền tương tự nhau ở trong tất cả tế bào trong một sinh vật
và chỉ khác một ít trong cùng một loài (species). Thật vậy, bộ di truyền
của loài người, Homo sapiens, vào khoảng 99% giống nhau giữa những người
khác nhau.
Trong lúc phân bào (cell
division), những phân hóa tố (enzymes) được gọi là phân hóa tố trùng hợp
(polymerases) mở những nhiễm sắc thể thẳng ra và sao chép từng chuổi DNA
theo đúng thứ tự và chiều dài của chúng. Rồi th́, mổi tế bào con thừa
hưởng một phân tử DNA chứa một chuổi củ và một chuổi mới. Mổi chuổi DNA
này lần lượt tạo ra một chuổi mới giống y hệt như chuổi củ. Sự sao chép
một cách trung thành là căn bản cho sự chuyễn hóa thông tin di truyền một
cách chính xác. Những sai lầm trong quá tŕnh này thông thường là nguồn
gốc của sự đột biến (mutation) của nhân di truyền (gene), và chúng được
thừa kế trong những giai đoạn phân bào sau đó.
Một nhân di truyền (a gene) là
một khúc (a segment) thứ tự của các bases trong một chuổi DNA. Nó được
dùng làm mẩu (template) cho diển tiến sao chép lại (copying process) của
sự sao chép (transcription). Và do đó, nó là một đơn vị căn bản của sự
thừa hưởng thông tin di truyền. Những nhân di truyền chỉ là một phần nhỏ
của tất cả DNA trong một nhiễm sắc thể. Thông tin mật mă của những chất
đạm được chứa trong một nhân di truyền, thay v́ liên tục nhau nó nằm trên
nhiều mảnh nhỏ được gọi là mă hiệu (exons: coding DNA). Giữa những mă
hiệu này (exons) là những đoạn không chứa mật mă (introns) có chiều dài
khác nhau. Chức năng của những mảnh không có mật mă này chưa được rỏ. Có
lẻ chúng chứa khối thông tin điều hành để điều khiển sự biểu lộ
(expression) của 30,000 nhân di truyền mă hóa những chất đạm và vô số
những thành phần có chức năng như là những nhân di truyền mă hóa những cái
không phải là chất đạm (non-protein coding genes) và những yếu tố quyết
định thứ tự chuổi (sequence determinant) của những năng động nhiễm sắc thể
(chromosome dynamics).

H̀NH 3:
Ḍng thông tin di truyền.
Sự sao chép trong nhân tạo một bản sao bổ túc ribonucleic acid từ
một sợi của DNA. mRNA được vận chuyễn vào trong tế bào chất, nơi nó được
diển dịch ra protein

H̀NH 4:
Ḍng thông tin di truyền.
Sự sao chép trong nhân tạo một bản sao bổ túc ribonucleic acid từ
một sợi của DNA. mRNA được vận chuyễn vào trong tế bào
Bước
đầu tiên biểu lộ thông tin di truyền là sao chép (transcription), nó mang
thông tin di truyền ra khỏi nhân và đi vào trong tế bào chất (cytoplasm)
nơi sự tổng hợp protein xăy ra. Trong diển tiến này, sự sao chép DNA qua
RNA cần sự biểu hiện của mẩu in ấn di truyền (gene template) được gọi là
messenger RNA (mRNA) ở trong nhân tế bào. Một phân hóa tố đặc biệt,
RNA
polymerase (phân hóa tố trùng hợp
RNA), bản sao chép của một trong 2 chuổi DNA (antisense strand), tạo một
phần bổ túc của thứ tự giống y như chuổi kia (sense strand). Cơ cấu RNA
hơi khác với DNA. Một base của RNA, uracil, thay thế base thymine của
DNA, và đường phosphate ribose của RNA thay thế đường deoxyribose của
DNA. Đường ribose dể để cho phân tử RNA bị thoái hóa (degradation) hơn
deoxyribose của DNA (more stable). Điều này cho phép RNA đáp ứng nhanh
hơn với sự chuyễn biến (shifts) trong tín hiệu của tế bào và di chuyễn
nhanh chóng vào tế bào chất giúp sự chế tạo protein.
Ở
siêu vi cúm, bộ di truyền (genome) không có DNA. Và những nhân di truyền
siêu vi cúm A nằm trong 8 khúc một chuổi (thay v́ 2 chuổi song song như
DNA) đối nghịch với mRNA (negative-sense RNA genome). V́ thiếu mRNA, nên
siêu vi cúm cần một tế bào kư chủ để tạo ra mRNA trước khi tái tạo những
siêu vi cúm mới. Ngoài ra, chính trong siêu vi cúm không có những vật
liệu như những nucleic acids nên chúng dùng những vật liệu này của tế bào
kư chủ để xây dựng nên những siêu vi cúm mới.
Sau khi xâm nhập vào đường hô hấp
của kư chủ, siêu vi cúm dùng gai HA (hemagglutinin antigen), một
glycoprotein bám vào màng tế bào biểu b́ h́nh trụ (ciliated columnar
epithelium) có những lông mao, nơi màng tế bào đường hô hấp trên của người
có những bộ căm nhận (receptor) α2→6 sialic acid bởi siêu vi cúm ở người
và những bộ căm nhận α2→3 sialic acid của những tế bào biểu b́
(epithelium) của đường hô hấp dưới (cuống phổi) bởi siêu vi cúm gia cầm.
Siêu vi cúm gởi qua tế bào chủ
một mảnh di truyền (nucleocapsid) gồm một mảnh RNA đối xứng với mRNA với
những phân hóa tố trùng hợp PA, PB1, và PB2. Phân hóa tố trùng hợp PB2 có
phân hóa tố endonuclease cắt bỏ nút chặn (sequence cap) là phần quan trọng
trong sự tạo ra mRNA. Siêu vi cúm dùng nút chặn này của kư chủ ráp vào
mảnh đối xứng RNA của mảnh di truyền (nucleocapsid) để trở thành mảnh mRNA
của siêu vi. Sau đó, những phân hóa tố trùng hợp PB1 và PA điều khiển sự
trùng hợp những siêu vi mới. Gai đạm glycoprotein NA có h́nh quả nấm cắt
bỏ nhóm acid sialic của oligosaccharides trên màng kư chủ, tạo ra lổ hỏng
và giúp các siêu vi mới thoát ra. Ngoài ra, phân hóa tố trùng hợp PB1 tạo
ra một chất đạm nhỏ PB1-F2 kích động sự chết của tế bào kư chủ
(apoptosis).
Trong những diển tiến phân bào
(cell division) của loài có vú (mammalian), những vật liệu di truyền được
sao chép thành 2 bản và phân phối đồng đều khi tế bào phân đôi. Ngay
trước khi phân bào, nhiễm sắc thể với 2 chuổi DNA hay những DNA khác bị hư
hoại, được sửa chửa bởi một loạt những trạm kiễm soát chu kỳ tế bào (cell
cycle checkpoint). Dưới t́nh trạng b́nh thường, những DNA của tế bào được
sửa chửa và tế bào hoàn thành phân bào. Trong những tế bào, DNA không
được sửa chửa sẻ chết (apoptosis), hay tế bào được sắp đặt chương tŕnh để
chết. Cơ chế này giúp sự phân bào vỉnh viển tốt đẹp, trong đó DNA không
bị thay đổi. Sự tạo ra ung thư (carcinogenesis) có thể xảy ra khi tế bào
thoát khỏi sự điều hành của các trạm kiểm soát (checkpoint control), và
những tế bào với nhiễm sắc thể bi găy hay những DNA bị hư hoại, sự phân
bào sẻ xăy ra một cách vô trật tự. Những trạm kiểm soát này có những chất
đạm căn bản là những phân hóa tố (enzymes) cyclins kinases và cyclin-dependent
kinases. Bốn giai đoạn của phân bào được điều hành bởi cyclin-CDK
complexes:
1.
Gap 1 hay G1 phase (Thời kỳ
phát triển 1)
2.
DNA replication hay S
phase (Thời kỳ tổng hợp chất đạm/DNA)
3.
Gap 2 hay G2 phase (Thời kỳ
phát triển 2)
4.
Và
mitosis hay M phase (Thời kỳ phân bào chia ra làm 4 giai đoạn: Tiền kỳ,
Trung kỳ, Tiến kỳ, và Hậu kỳ)

H́nh 5: Chu Kỳ Tế Bào của Loài Có Vú.
Cyclins, cyclin-dependent kinases, và
cyclin-dependent kinase inhibitors hoạt động trong mỗi giai đoạn
kiễm soát..
Giải thưởng Nobel Y học 2009 về tay ba nhà khoa học Mỹ : các giáo sư
Elisabeth Blackburn, người Úc quốc tịch Mỹ, cùng hai đồng nghiệp Mỹ Carol
Greider và Jack Szostak. Cả ba đă được nghiên cứu phân hóa tố (enzyme)
telomerase bảo vệ tế bào chống tiến tŕnh lăo hóa.
Cyclin kinase:
bất cứ chất đạm nào thuộcmột nhóm chất đạm biến đổi khác nhau, có khoảng
từ 35đến 90 kD và có một cơ cấu trung tâm giống nhau, chúng điều hành
những giai đoạn khác nhau của chu kỳ tế bàobằng cách kết dính vào và kích
động cyclin-dependent kinases và quyết định chất đạm có được phosphate hóa
hay không.
Cyclin-dependent kinases (CDKs):
bất cứ phần tử nào của một nhóm của
protein-serine/threonine kinases,
chỉ hoạt động khi kết dính với cyclin, gây xúc tác sự phosphate hóa
của những chất đạm được quyết định bởi cyclin phối hợp trong việc điều
hành của chu kỳ tế bào.
Những CDKs là những holoenzyme complexes:
Hợp chất chức năng được thành lập bởi sự hổn hợp của một apoenzyme và
coenzyme thích hợp của chúng.
apo·en·zyme (ap
o-en´z
m)
thành phần chất đạm của một phân hóa tố mà có thể tách ra được từ
nhóm giả
(cofactor or coenzyme)
nhưng chúng cần sự hiện diện của nhóm giả tạo (prosthetic group)
để thành lập một hổn hợp có chức năng (holoenzyme).
Coenzyme :
một phân tử hửu cơ không phải là chất đạm, thường là một chất phát xuất từ
chất bị phosphate hóa của một vitamin tan trong nước, kết dính với phân tử
chất đạm
(apoenzyme)
để thành lập phân hóa tố hoạt động
(holoenzyme)
Những khám phá mới này về sự điều
hành trong chu kỳ tế bào (phân bào) và cái ǵ đă làm cho những tế bào
trong cơ thể con người ngừng phân chia, có nghỉa là ngừng sửa chửa những
tổn thương của cơ thể đưa đến “sinh lảo bệnh tử”. 3 nhà khoa học ở Mỹ đă
khám phá ra “telomerase” là những phân hóa tố trong sự kiểm soát và điều
hành sự phân bào, đă giúp họ lảnh được giải thưởng nobel về y học trong
năm 2009. Họ là Elizabeth Blackburn, PhD. của đại học California
University tại San Francisco; Carol Greider, PhD. của John Hopkins
University; và Jack Szostak, PhD. của Harvard University và Howard Hughes
Medical Institute ở Chevy Chase, Maryland.
Những CDKs là những hổn hợp chức năng holoenzymes (holoenzymes complexes)
bao gồm những đơn vị phụ cyclin điều hành (cyclin regulatory subunits) và
những đơn vị phụ CDK xúc tác (CDK catalytic subunits). Điểm giới hạn kiểm
soát (restriction point control) trong tiến kỳ (G1 phase) được điều hành
bởi 2 CDKs, cyclin D-dependent kinase và cyclin E-dependent kinase. Những
loại cyclin D (D1, D2, và D3) phản ứng hỗn hợp với 2 bạn đồng hành xúc tác
(catalytic partners), CDK4 và CDK6, sớm trong tiến kỳ (G1) để cho ra ít
nhất 6 holoenzymes biểu lộ trong những kiểu mẩu đặc biệt của mô
(tissue-specific patterns). Cyclin E đi vào (complexes) hổn hợp với bạn
đồng hành của nó là CDK2 và cộng tác với cyclin D-dependent kinases để
hoàn thành phosphor hóa của retinoblastoma tumor-suppressor protein (Rb:
chất đạm ức chế ung thư retinoblastoma) trể trong tiến kỳ (G1) đưa đến sự
di chuyễn qua trạm kiểm soát giữa tiến kỳ-trung kỳ (G1-S checkpoint) đi
vào trung kỳ (S phase).
Những chất ức chế cyclins-CDKs
nội tiết, được gọi là cyclin-dependent kinase inhibitors hay CKIs, được
biểu lộ trong suốt tiến kỳ (G1) để ức chế sự phosphor hóa và sự kích động
của hổn hợp cyclin-CDK, kết qủa là tiến kỳ (G1) ngừng lại. Chức năng
của CKIs là ngăn cản sự chuyển tiếp qua điểm kiểm soát tiến kỳ (G1
checkpoint) và ức chế phân bào, đưa đến sự phát triển của tế bào ngừng lại.
CKIs được xếp vào 2 gia đ́nh dựa trên căn bản cơ cấu của chúng và mục tiêu
nhắm vào CDKs. Những chất đạm CIP/KIP nhắm vào trên phương diện tổng quát
là những tác động ức chế (acting inhibitors) dùng thay đổi những hoạt động
của cyclin-D, cyclin E-, và cyclin A-dependent kinases. Gia đ́nh gồm
p21(Cip1), p27(Kip1), và p57(Kip2). Cả 3 bao gồm những chủ đề đặc biệt
(characteristic motifs) trong những đoạn cuối amino acid (amino-terminal)
của chúng dính với những chất nền cyclin và CDK. p21(Cip1) có chức năng
như chất khởi động bên dưới của ḍng phản ứng (downstream effector) của
yếu tố sao chép (transcription factor) và nhân di truyền ức chế bứu (tumor
suppressor gene), p53, làm cho DNA bị hư hoại được sửa chửa và/hoặc để
tiến đến apoptosis (tế bào tự chết). p27(Kip) là một chất ức chế mạnh của
phát triển tế bào trong mô b́nh thường và bệnh, và là một chất dàn xếp
quan trọng (critical mediator) trong mô bị thương tích, viêm, và sửa chửa
vết thương. Gia đ́nh INK4 (inhibitor của CDK4) bao gồm INK4A (p16), INK4B
(p15), INK4C (p18), và INK4D (p19). Những CKIs này chứa multiple ankyrin
repeates, chỉ dính vào CDK4 và CDK6, không dính vào những CDKs khác, đặc
biệt ức chế những đơn vị xúc tác (catalytic units) của CDK4 & CDK6. INK
proteins là những bộ phận điều hành (regulators) quan trọng của sự tăng
trưởng của bướu và trong sự phát triển sinh học, nhưng chúng giữ vai tṛ
ít quan trọng hơn trong bệnh tim mạch.
Thương tổn tim và mạch máu đưa
đến giai đoạn tái tạo được thích ứng dưới t́nh trạng b́nh thường hoặc bất
thường trong trường hợp bệnh lư. Phản ứng lại kích thích sinh lư học,
những tế bào cơ trơn của mạch máu (VSMCs: vascular smooth
muscle cells) trong những môi trường nảy nở và
di chuyễn vào nội mạc (intima) để tạo ra nhiều lớp sang thương của mạch
máu (multilayered vascular wound) hay c̣n được gọi là nội mạc mới (neointima).
B́nh thường, đây là một tiến triển tự giới hạn thành một vết thương lành
tốt đẹp của mạch máu và tái ổn định ḍng máu lưu thông trong mạch. Tuy
nhiên trong những bệnh mạch máu, VSMC phát triển trở nên nhiều quá, đưa
đến vết thương bệnh lư trong mạch máu và đưa đến triệu chứng lâm sàng.
Những bệnh này thường có đặc điễm của viêm toàn thân hay tại chổ đưa đến
phản ứng mạnh mẻ và dư thừa của sự phát triển VSMC. CIP/KIP CKIs là những
chất điều hành quan trọng của mô tái tạo trong mạch máu. p27 (Kip1) căn
bản biểu hiện trong VSMC và những tế bào biểu mô bên trong của động mạch
và bị giăm sự điều khiển đưa đến sự tiếp xúc VSMC và những tế bào biểu mô
bên trong với mitogen (chất gây ra sự phân bào). Sau khi sự phát triển
bùng lên, VSMC tổng hợp và bài tiết những phân tử của chất gian bào bên
ngoài tế bào (extracellular matrix molecules), đưa tín hiệu đến VSMC và
những tế bào biểu mô nội mạch, dẩn đến sự căm ứng (induction) của
p27(Kip1) và p21(Cip1) và ức chế cyclin E-CDK2. Biểu hiện CIP/KIP CKIs
đưa đến chu kỳ tế bào (cell cycle) ngừng và chận đứng sự phân bào.
p27(Kip1) cũng là một yếu tố điều hành (regulator) quan trọng của sự viêm
mô (tissue inflammation) trên hiệu qủa của nó trên sự sinh sản phát triển
của T-lymphocyte. Trong mạch máu, p27(Kip1) dàn xếp sự sửa chửa, qua sự
điều hành của nó trên sinh sản (proliferation), viêm sưng (inflammation),
và tế bào gốc của tủy xương (bone marrow progenitor cells). Hủy bỏ di
truyền của p27(Kip1) ở chuột (mice) đưa đến benign hyperplasia của
epiothelial và mesodermal cells ở nhiều cơ quan bao gồm tim và mạch máu.
p21(Cip1) cần cho sự phát triển và phân biệt (differentiation) ở tim,
xương, da, và thận, và nó ban cho tính nhạy căm đến sự chết tế bào (it
confers susceptibility to apoptosis). CKI này hoạt động trong phương cách
một p53 lệ thuộc và một p53 độc lập. Ở tim, p21(Cip1) được biểu hiện độc
lập của p53 trong cardiac myocytes; biểu hiện quá lố của p21(Cip1) trong
những tế bào cơ đưa đến ph́nh lớn (hypertrophy).
Hầu hết những tế bào ung thư ở
người giữ vững được những đột biến làm thay đổi những chức năng của p53
hay Rb bởi sự đột biến trực tiếp của gene sequences hay bằng cách nhắm vào
những nhân di truyền theo từng giai đoạn (epistatically) để ngăn chận chức
năng b́nh thường của chúng. Rb giới hạn sự sinh sản của tế bào bằng cách
ngăn chận tế bào đi vào trung kỳ (S phase). Cơ chế là ngăn cản E2F
transcription factors không kích động những nhân di truyền cho DNA
replication và nucleotide metabolism. p53 bị đột biến trong hơn 50% ung
thư của loài người. Protein tích tụ khi phản ứng với cellular stress từ
DNA hư hại, thiếu dưỡng khí, và nhân di truyền về bướu kích động. p53
khởi động một chương tŕnh sao chép (transcription program) kích động
(trigger) ngừng chu kỳ tế bào (cell cycle) hay tự chết (apoptosis).
Chúng ta có thể tóm tắc đời sống
của một sinh vật theo lư thuyết của đức phật Thích Ca:
1.
Sinh
bắt đầu của sự phối hợp giữa 2 thành phần trứng và tinh trùng.
2.
Lăo
hóa bắt đầu ngay sau khi sự thụ tinh bắt đầu. Tế bào nguyên thủy hay
trứng thụ tinh bắt đầu sự phân chia tế bào (sự phân bào). Sự lảo hóa bị
ảnh hưởng đến bởi các phạm vi lớn của những yếu tố di truyền (mang theo
ngay khi sự thụ tinh bắt đầu), dinh dưởng, những điều kiện xă hội.
3.
Những sự xuất hiện của những bệnh liên quan đến tuổi tác như
xơ cứng mạch máu (arterosclerosis), tiểu đường (diabetes mellitus), và
thấp khớp (osteoarthritis) làm hư hại cơ thể sâu xa hơn làm các cơ quan
trong cơ thể một sinh vật mất dần chức năng và cấu trúc các cơ quan.
4.
Khi sự hư hại tích tụ của các tế bào mất khả năng tái sinh sản (phân bào),
đến một mức độ tế bào không thể tồn tại nửa và chết. Sự mất
đi của tế bào đến một mức độ nào đó các cơ quan không thể thực hiện chức
năng của nó và ngừng lại. Hổn hợp của những sự thiếu chức năng, sinh vật
ngưng hoạt động và chết.
Trong 4 giai đoạn: sinh, lảo,
bệnh, và tử, giai đoạn lảo hóa dài nhất, bằng với cuộc đời của một sinh
vật hay con người. Ta có thể định nghỉa lảo hóa tế bào là kết quả của
sự suy sụp dần trong chức năng tế bào và khả năng sinh sản, bị gây ra bởi
những bất thường của di truyền và sự tích tụ của những hư hại tế bào và
các phân tử (molecules) thuộc tế bào, do những hiệu quả của sự tiếp xúc
những ảnh hưởng bên ngoài. Theo sự nghiên cứu trên những sinh vật thí
nghiệm cho thấy sự lảo hóa bị ảnh hưởng bởi một số nhân di truyền giới hạn.
Có những bất thường trong những nhân di truyền trong những hội chứng về di
truyền cũng cho sự biểu hiện giống như sự lảo hóa.
·
Sự giảm trong số lần phân bào.
Theo sự quan sát một tế bào b́nh thường có một số giới hạn phân bào.
Trong một điều kiện nào đó, số phân bào của những tế bào này bị giăm. Như
trong tế bào của người b́nh thường, số phân bào của tế bào lấy từ người
lớn tuổi sẻ có số phân bào ít hơn những tế bào lấy từ người trẻ hơn. Một
fibroblast lấy từ người đem cấy trong môi trường cấy sẻ có số phân bào ít
hơn là trong cơ thể con người. Trong hội chứng Werner (rất hiếm), sự lảo
hóa xăy ra nhanh hơn người b́nh thường do sự thiếu sót trong sự tái tạo
(replication) của DNA đưa đến sự giăm khả năng phân bào. Người ta vẩn
chưa biết rỏ tại sao sự lảo hóa đi đôi với sự yếu dần của tế bào. Một
trong những giả thuyết cắt nghỉa hiện tượng này cho rằng: Mổi lần phân bào,
sự tái tạo phần cuối của nhiễm sắc thể không hoàn toàn (telomere ngắn lại).
Khi ngắn đến một mức độ nào đó, sự phân bào ngừng lại. Telomere là một
chuổi ngắn lập đi lập lại ngắn ở cuối chuổi nhân di truyền DNA của nhiễm
sắc thể (TTAGGG). Nó quan trọng v́ nó ngăn ngừa sự thoái hóa hay dính lại
của chuổi DNA của nhiễm sắc thể. Mổi lần phân bào, một khúc nhỏ của
telomere không được sao chép lại. Kết quả là cái đuôi telomere này ngắn
dần đi sau nhiều lần phân bào. Khi telomere quá ngắn, nó không bảo vệ
được sự thoái hóa hay găy vở của DNA. Những trạm kiểm soát sự phân bào sẻ
tạo ra chương tŕnh cho những tế bào có phân tử DNA hư hoại tự chết
(apoptosis). Telomerase b́nh thường giữ chiều dài của đuôi nhiễm sắc thể
hay telomere bằng cách thêm vào những nucleotides nếu bị ngắn đi.
Telomerase là một hổn hợp chất đạm và RNA đặc biệt. Nó dùng RNA của nó
như một bản sao để thêm những nucleotide vào đuôi nhiễm sắc thể khi cần
thiết. Những hoạt động của telomerase bị kiềm chế bởi những chất đạm điều
hành (regulatory proteins). Những chất đạm này biết được khi nào telomere
(đuôi nhiễm sắc thể) bị ngắn đi, sẻ điều động telomerase làm việc và ngược
lại để tránh sự làm cho telomere quá dài không cần thiết. Telomerase hoạt
động mạnh nhất ở tế bào mầm (germ cells), yếu hơn ở tế bào gốc (stem
cells), và hầu như không t́m thấy được ở tế bào thể (somatic cells) ở các
mô của cơ thể. Do đó, các tế bào trong các mô khi phân bào lúc c̣n trẻ,
đuôi nhiễm sắc thể bị ngắn dần rồi biến mất (apoptosis) và không thay thế
được những tế bào bị mất đi ở tuổi già. Ngược lại, tế bào ung thư có sự
tái kích động telomerase và đuôi nhiễm sắc thể (telomere) được ǵn giữ
chiều dài. Đây là bước quan trọng và căn bản cho sự thành lập bướu. Thay
v́ sự quan sát mới mẻ này nhưng liên hệ của chiều dài của đuôi nhiễm sắc
thể và hoạt động của telomerase đối với sự lảo hóa và ung thư vẩn c̣n phải
được t́m hiểu và chứng minh chính xác. Ngoài ra, sự lảo hóa cũng bị ảnh
hưởng bởi sự biểu hiện của những chất ức chế trong chu kỳ tế bào, p16INK4a
như chúng tôi đă đề cập ở trên và sự hư hoại của DNA.

H́nh 6:
Vai tṛ của telomere và phân hóa tố telomerase trong những tế bào tái tạo
lảo hóa. A, Telomerase điều khiển trực tiếp sự tổng hợp RNA
template-dependent DNA, mà trong đó nucleotides được thêm vào trên một sợi
ở cuối một nhiễm sắc thể. Sợi thiếu sót được lấp vào bởi DNA polymerase.
B, Giả thuyết telomere-telomerase và khả năng sinh sản của những
tế bào. Chiều dài của telomere được sắp xếp một số phân bào. Những tế
bào mầm và những tế bào gốc cả hai đều chứa telomerase hoạt động, nhưng
chỉ những tế bào mầm có đủ những mức độ của phân hóa tố để ổn định chiều
dài telomere hoàn toàn. Trong những tế bào thể không có hoạt động của
telomerase, và telomeres dần dần ngắn lại với những phân bào kế tiếp cho
đến khisự tăng trưởng ngừng lại, hay già đi, xăy ra. Sự kích động
telomerase trong tế bào ung thư chống lại sự ngắn dần của telomere giới
hạn khả năng sinh sản của những tế bào thể.
·
Sự tích lủy sự hư hại của biến dưỡng và di truyền.
Tuổi thọ của một tế bào là sự quân b́nh giữa những hư hại do biến cố của
biến dưỡng trong tế bào và sự sửa chửa bởi những đáp ứng về phân tử do
những biến cố này gây ra. Một nhóm hóa chất, sản phẩm của biến dưỡng có
tiềm năng làm hư hại là những chất oxưt hóa (reactive oxygen species).
Những chất này là sản phẩm phụ (by-products) của sự oxưt hóa và phosphor
hóa (oxidative phosphorylation) gây ra những thay đổi đồng hóa trị
(covalent modifications) của những chất đạm, mỡ, và nucleic acids. Ngoài
ra sự hư hại do oxưt hóa cũng do những ảnh hưởng bên ngoài do tiếp xúc
liên tiếp môi trường như phóng xạ nguyên tử (ionizing radiation), sự rối
loạn chức năng của mitochondria, hay sự suy giăm những cơ chế bảo vệ chống
oxưt hóa do tuổi tác (như vitamin E, glutathione peroxidase). Số lượng hư
hại do oxưt hóa tăng lên với tuổi tác của sinh vật có thể là nguyên do
quan trọng trong sự lảo hóa. Điều này tương ứng với những quan sát sau:
(1) Tuổi thọ của các loài sinh vật có tỉ lệ nghịch với tốc độ sản xuất của
mitochondria gốc điện tử dương (anion radical) O2 và (2) sự biểu hiện nhiều quá
của những phân hóa tố chống oxưt hóa SOD (superoxide dismutase) và
catalase kéo dài tuổi thọ trong thể transgenic (chuyễn nhượng DNA từ một
bộ di truyền này qua bộ di truyền khác) của ruồi Drosophila (pomace flies
không phải fruit flies). Những gốc phân tử tự do (free radicals) có thể
có những hiệu quả tai hại trên DNA, dẩn đến vở hay bất ổn định của bộ di
truyền, do đó ảnh hưởng đến tất cả những chức năng của tế bào. Nhiều phản
ứng bảo vệ để quân b́nh sự hư hại tiến triển dần trong tế bào. Một phản
ứng quan trọng là sự nhận ra và sửa chửa DNA bị hư hại. Mặc dù hầu hết
các DNA bị hư hại được sửa chửa bởi những phân hóa tố sửa chửa nột tiết
(endogenous DNA repair enzymes), vài sự hư hại vẩn tồn tại và tích lủy khi
tế bào già đi. Nhiều bằng chứng cho thấy rằng sự quan trọng của sửa chửa
DNA trong sự lảo hóa. Những bệnh nhân với hội chứng Werner cho thấy sự
lảo hóa sớm và sự thiếu sót sản phẩm nhân di truyền, DNA helicase--một
chất đạm hoạt động trong sự tái tạo và sửa chửa DNA và những chức năng
khác cần cho sự trải dài DNA ra trước khi tái tạo. Sự thiếu sót trong
nhân di truyền này gây ra sự tích tụ nhanh chóng những hư hại của
chromosomes có thể tương tự như những chấn thương thông thường t́m thấy
trong những tế bào lảo hóa. Sự không ổn định di truyền trong tế bào thể
cũng là những đặc tính của những rối loạn khác mà những bệnh nhân biểu lộ
ra những dấu chứng của sự lảo hóa với tốc độ nhanh chóng, như hội chứng
ataxia telangiectasia. Trong bệnh này, một nhân di truyền mă hóa cho một
chất đạm liên quan đến sự sửa chửa cho sự vở ra của 2 chuổi song song của
DNA. V́ vậy, sự quân b́nh giữa sự tích lủy hư hại trong biến dưỡng và
những đáp ứng đối với những hư hại này quyết định tốc độ mà chúng ta già
đi. Trong t́nh huống này, sự lảo hóa có thể chậm lại bằng cách giăm sự
tích lủy hư hại hay gia tăng sự đáp ứng đối với sự hư hại đó. Không chỉ
có sự tích tụ hư hại của DNA mà c̣n có sự tích tụ hư hại những cơ quan nhỏ
trong tế bào lảo hóa. trong trường hợp này có thể đưa đến giăm chức năng
proteasome, bộ máy ly tán chất đạm dùng để loại bỏ những chất đạm bất
thường hay không cần thiết trong tế bào.
ataxia-telangiectasia,
một rối loạn autosomal recessive có đặc tính bởi cerebellar ataxia
và nystagmus, oculocutaneous telangiectasia, những mức độ biến đổi của
humoral và cellular immunodeficiency, thường bị nhiễm trùng của đường hô
hấp từ xoang mủi cho đến phổi, và có sự gia tăng cơ hội của
lymphoreticular malignancies. Có sự gia tăng căm ứng đối với ionizing
radiation gây ra bởi một sự thiếu sót trong việc sửa chửa DNA. Gonadal
hypoplasia, insulin resistance và hyperglycemia, liver function
abnormalities, và elevated levels of alpha-fetoprotein và carcinoembryonic
antigen are also seen in some patients. Cũng được gọi là
Louis-Bar
syndrome.
Những nghiên cứu từ men (yeast)
cho đến động vật của loài có vú đă cho thấy phương pháp hiệu quả nhất cho
sự sống lâu là giới hạn năng lượng ăn vào. Cơ chế của sự kiện này chưa
được biết rỏ nhưng nó được dàn xếp bởi một họ chất đạm
sirtuins. Sirtuins có hoạt
động của histone deacetylase, và được cho rằng nó khuyến khích sự biểu lộ
của những nhân di truyền đưa đến sự tăng tuổi thọ. Những sản phẩm của
những nhân di truyền này gồm những chất đạm làm tăng những hoạt động biến
dưỡng, làm giăm sự tự chết của tế bào (apoptosis), kích thích chất đạm xếp
lại, và ức chế những tai hại của những gốc oxy tự do (oxygen free
radicals). Sirtuins cũng làm tăng tính nhạy căm của insulin và biến dưỡng
đường glucose, và có thể dùng trong việc trị liệu bệnh tiểu đường. Một
chất trong rượu chát đỏ có lẻ kích động chất đạm sirtuins (những người có
bệnh gan và những người uống rượu chát đỏ quá nhiều cũng bị giăm tuổi thọ
nhanh chóng). Những nghiên cứu khác đă cho thấy những yếu tố tăng trưởng
như insulin-like growth factor, và intracellular signaling pathways được
kích động bởi những kích thích tố này (sirtuins) cũng ảnh hưởng lên tuổi
thọ. Những yếu tố sao chép được kích động bởi tín hiệu của bộ căm nhận
insulin có lẻ làm căm ứng những nhân di truyền gây ra sự giăm tuổi thọ, và
những đột biến của bộ căm nhận insulin được đi đôi với sự gia tăng tuổi
thọ. Người ta c̣n đang tích cực nghiên cứu sự chính xác của những phát
hiện về lảo hóa của loài người.
Những Sản Phẩm của
Những Nhân Di Truyền của Siêu Vi Cúm A và B
|
RNA |
Những
sản phẫm nhân di truyền |
Những Chức Năng |
|
1 |
PB2 |
Bộ phận phân hóa tố trùng hợp siêu vi liên quan trong sự tổng hợp
của nút chặn mRNAs và endonuclease, dùng để cắt bỏ mRNA của kư chủ
|
|
2 |
PB1 |
Bộ phận phân hóa tố trùng hợp với những hoạt động sao chép và tái
tạo RNA |
|
|
PB-1 F2[*] |
Chất đạm siêu vi được tạo ra từ một khung đọc thay thế, kích động sự
chết tế bào |
|
3 |
PA |
Bộ phận phân hóa tố trùng hợp siêu vi liên quan trong sự tái tạo RNA
|
|
4 |
HA |
Glycoprotein để bám trên bề mặt và kết dính màng tế bào kư chủ của
con siêu vi, một kháng nguyên quyết định chính |
|
5 |
NP |
Bộ phận cơ cấu chính của nhân di truyền với màng bao đạm và là loại
kháng nguyên đặc biệt |
|
6 |
NA |
Glycoprotein trên bề mặt siêu vi với hoạt động của phân hóa tố phá
hủy bộ phận căm nhận màng tế bào kư chủ, yếu tố kháng nguyên quyết
định chính |
|
|
NB |
Đường hầm điện tử trên màng glycoprotein chỉ t́m thấy được ở siêu vi
cúm B |
|
7 |
M1 |
Chất đạm nền của màng siêu vi và loại kháng nguyên đặc biệt
|
|
|
M2 |
Đường hầm điện tử của màng siêu vi không bị kết nối với nhóm
glycosyl, chỉ t́m thấy ở siêu vi cúm A |
|
8 |
NS1 |
Chất đạm không thuộc về cơ cấu—bộ phận điều hành sau giai đoạn sao
chép độc đáo, nó ức chế sự vận chuyễn poly(A) của nhân– chứa những
mRNAs và ức chế sự tách ra thể tiền mRNA bởi sự kết dính với một
vùng đặc biệt của U6 RNA nhỏ của nhân tế bào |
|
|
NS2 |
Chất đạm của tế bào và siêu vi có chức năng chưa rỏ |

Xét
về cơ cấu di truyền của siêu vi cúm A, chúng ta không thấy sự phân bào độc
lập và những trạm kiểm soát những tiến tŕnh này. Do đó, siêu vi cúm A
cần có một kư chủ để chúng “mượn” mRNA của kư chủ để tạo ra (replicate)
những siêu vi mới. Điều này có nghỉa rằng những siêu vi cúm A mượn những
cơ sở tế bbào của kư chủ trong những quá tŕnh tạo ra những chất đạm cho
cơ cấu một siêu vi cúm A. V́ vậy, sự tạo ra một siêu vi cúm c̣n tùy thuộc
vào cơ cấu của tế bào kư chủ. Sự biến đổi (antigenic drift và antigenic
shift) tất nhiên phải xăy ra. Hơn nửa, cơ cấu của một RNA như đă tŕnh
bày trên, RNA chứa đường phosphate ribose dể làm cho RNA thoái hóa hơn là
đường deoxyribose của DNA. Cơ cấu di truyền của những động vật cao cấp có
cơ cấu DNA ổn định hơn cơ cấu RNA. Đây là lư do tại sao siêu vi cúm A
biến đổi liên tục, biến đổi sau khi nhiễm vào tế bào của một kư chủ nào đó.
Những biến đổi này không nhất thiết sẻ tồn tại cả. Những biến tính nào
không bị hệ thống miển nhiễm (kháng thể trung ḥa) của kư chủ tiêu diệt,
sẻ tồn tại và gây ra những nhiễm siêu vi từng vùng (endemic) hay những
trận dịch (epidemic) hay những trận đại dịch. Sự rộng lớn của những tiêm
nhiễm siêu vi cúm A tùy thuộc vào tính miển nhiễm của dân chúng. Do đó,
những trẻ con chưa có miển nhiễm của siêu vi cúm A sẻ bị nhiễm bệnh nặng
hơn. Những người già cũng bị nhiễm bệnh do siêu vi cúm A, một phần do sức
nhớ của hệ thống miển nhiễm bị giăm do bị nhiễm đă lâu và sự yếu đi của hệ
miển nhiễm của họ.
Tôi
hy vọng bài đọc thêm này giúp cho mọi người thấy sự khác biệt di truyền
của con người và siêu vi cúm A để hiểu được tại sao siêu vi cúm A đă và
đang gây ra phiền phức cho con người.
CHÚC
M¯NG
NæM
MªI
Viết xong ngày 29 tháng 1 năm 2010
Bác sĩ Nguyễn Vĩ Liệt
References:
1.
Inactivated influenza vaccines
Carolyn B. Bridges
Jacqueline M. Katz
Roland A. Levandowski
Nancy J. Cox
Plotkin: Vaccines, 5th ed.
Copyright ©
2008 Saunders
2.
Principles of Cardiovascular Molecular Biology and Genetics
Elizabeth G. Nabel
Libby: Braunwald's Heart Disease: A Textbook of Cardiovascular Medicine,
8th ed.
Copyright ©
2007 Saunders
3.
Cellular Responses to Stress and Toxic Insults: Adaptation, Injury, and
Death
Kumar: Robbins and Cotran Pathologic Basis of Disease, Professional
Edition , 8th ed.
Copyright ©
2009 Saunders

Bs
Nguyễn
Vĩ
Liệt

Trang XUÂN 2010- Văn Học Nghệ Thuật
Và Quê Hương