Nhà thơ
Quách
Tấn có câu:
Khánh Hòa là xứ Trầm Hương
Non cao biển rộng người thương đi về
Hai câu này đã trở thành
ca dao của tỉnh Khánh Hòa.
Non cao biển rộng
là hình thế địa linh và người thương đi về là tình thương dân dã.
Nhân
năm Kỷ Sửu, chúng ta thử lần xem dấu vết trâu được ghi lại trên Xứ Trầm
Hương như thế nào.
Trước tiên trên núi. Đó là dãy Núi Đồng Bò.
Sách
Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là Hoàng Ngưu Sơn, ở phía đông nam thành phố
Nha Trang. Núi lập thành một dãy dài hàng trăm dặm chạy từ huỵên Diên
Khánh đến Nha Trang rồi vào Cam Ranh.
Núi
không cao, nhưng hiểm trở, chạy sát ra biển đông. Đỉnh cao nhất 978 thước,
ngọn nằm sát biển cao 643 thước cây cối rậm rạp có nhiều thú dữ.
Dưới
chân núi có một cánh đồng mang tên là Đồng Bò. Do đó núi có tên là Núi
Đồng Bò. Thuở trước nơi này có nhiều bò hoang sinh sống nhờ cánh đồng liên
thông với rừng trong núi, có nhiều cây cối rậm rạp và thú dữ tập trung về
đông đúc. Bò dần dần bị tiêu diệt. Trong bầy thú dữ có một nhóm cọp chuyên
săn bắt bò. Cầm đầu là một con cọp chúa sống trên vài trăm năm, to lớn dị
thường và bị què hết một chân nhưng nhanh nhẹn vô cùng. Sau khi bò hoang
trên cánh đồng không còn đủ cung cấp thức ăn cho cọp, chúng bèn xuồng làng
xóm bắt gia súc và người.
Năm
1793 trấn thủ thành Diên Khánh là Nguyễn Văn Thành tướng của Gia Long được
tin cọp dữ, đem quân săn bắt song không thu được kết quả. Sau đó phải nhờ
vào sự cầu đảo bà Thiên Y A Na mới bẩy được hổ. Từ đó tên núi nơi bắt được
hùm có tên hòn Cầu Hùm được thường xuyên nhắc đến. Hiện nay tuy vùng Đồng
Bò không còn dấu vết xưa nhưng vẫn được người dân Nha Trang nhắc đến khi
đi du lịch ngang qua vùng sông Lô.
Cạnh
Đồng Bò còn có một vùng lịch sử: đó là Đồng Châu. Nguyên khu vực này là
cánh đồng hoang vu thuộc huyện Hoa Châu trước kia và sau được nhập vào
huyện Phước Điền. Thời Tự Đức (1847-1883), khi Gia Định mất, rồi 6 tỉnh
miền Nam mất theo thì một số sĩ phu không đội trời chung với giặc bèn bỏ
ra Khánh Hòa khai hoang lập ấp được gọi là phong trào Tỵ Địa và được người
địa phương tôn xưng là “Nam Trung Nghĩa sỹ” Cầm đầu nhóm người này là ông
Nguyễn Bá Trinh.
Còn về dưới biển... thì có Vũng Trâu Nằm.
Vũng
Trâu Nằm ở phía đông bắc Khánh Hòa, nằm trong vịnh Vân Phong. Đây là một
vịnh rộng lớn, phía bắc có bán đảo Bàn Sơn dài gần 30 cây số làm cánh cửa
che gió bấc và bán đảo Phước Hà dài trên 20 cây số làm cánh chắn gió Nam.
Vinh Vân phong là một vịnh chẳng những có giá trị về địa lý, kinh tế mà
còn có nhiều thắng cảnh đẹp. Vũng Trâu nắm là một, Taị đây có một cồn đá
nằm dăng ra bốn phía ở dưới mặt nước; khi thuỷ triều xuống thì lưng đá nhô
lên xa trông như một đàn trâu nằm tắm, sóng gợn chung quanh. Đại Nam Nhất
Thống Chí gọi là cồn đá Ngoạ Ngưu (Trâu Nằm).
Như
vậy Xứ Trầm Hương phía bắc có Vũng Trâu nằm giỡn nước, trong vịnh Vân
Phong, phương nam có núi Hoàng Ngưu và cánh Đồng Bò Còn truyền tích trong
dân gian về trâu thì có gì?
Trước
tiên là câu chuyện Bà Xã Mập ở làng Phụng Cang xã Ninh Quang huyện Ninh
Hòa. Bà Xã Mập một hôm ra thăm đồng trông thấy một con trâu cò (trâu có
lông màu trắng) đang râm vào ruộng phá lúa. Bà nổi giận chạy đến nắm lấy
đuôi trâu mà đánh. Trâu liền kéo bà nhảy xuống con suối Bàu Sấu bên cạnh
là một con suối vừa sâu vừa rộng có tiếng là nhiều cá sấu vốn được coi là
một nơi chốn linh thiêng.Thấy bà không về, người nhà thuê người lặng tìm
song không dấu vết. Tưởng là chết rồi cả nhà lo để tang. Không ngờ bốn hôm
sau bà trở về. Hỏi thăm duyên cớ. Bà chỉ đáp rằng câu chuyện không được
nói ra, nếu còn muốn sống. Làng xóm và gia đình năn nỉ mấy bà cũng không
hé răng.
Một
hôm vì cầm lòng không được nên bà cho mời bà con làng xóm đến dự một tiệc
tiễn đưa bà về bên kia thế giới sau khi nghe câu chuyện do bà kể:
Khi trâu cò bỏ chạy thì
tôi định thả đuôi ra song tay lại bị dính chặc. Trâu nhảy xuống nước, tôi
đành nhắm mắt chờ chết. Hai bên tai nghe vù vù gió thổi. Một lát sau mở
mắt ra thì thấy mình đang đứng trước một dinh thự nguy nga và được hai
người lính dẫn vào một sân vườn rộng mát trồng đầy hoa thơm cỏ lạ. Một ông
quan uy nghi lẫm liệt truyền lệnh cho tôi vào....
Vừa kể đến đó thì bà Xã Mập lăn ra tắt thở...
Tiếp
theo là câu chuyện đàn trâu của nhà sư chùa Vạn Thiện.
Chùa
ở thôn An Ninh, xã Diên An, huyện Diên Khánh.
Trụ trì là sư Thiệt Vinh. Ngài có người đệ tử tên Keo hiệu Thiện Khoáng
quê Bình Định vào chùa xin ở chăn trâu. Chùa nuôi đến hàng trăm con trâu
mà chỉ mổi một mình thầy Keo chăn giữ. Sáng sớm lùa trâu vào ăn trong núi,
chiều đến lùa trâu về mà trên lưng mỗi con trâu đều có một bó củi. Một hôm
ngài Thiện Khoáng cho trâu về sớm và vào bếp xem một bà lão nấu dầu chay
bằng hột dầu tía.. Vì kiêng cử người lạ, nên thầy bị phạt phải đứng khuấy
dầu. Không dùng cây để khuấy mà thầy Keo lại dùng đôi tay trần để khuấy
dầu sôi.Việc lạ này được trình lên sư trụ trì. Từ đó thầy Keo không còn đi
chăn trâu nữa mà chỉ lo học tập kệ kinh.
Trâu
không người chăn, nhưng sáng nào cũng vẫn kéo nhau vào núi và chiều về vẫn
chở củi trên lưng. Mọi người đều tin là ngái Keo có tài điều khiển trâu
bằng tâm ý ở xa. Mấy tháng sau thì ngài nhịn ăn và xin sư phụ được hoá
thân. Ngoài số củi do trâu mang về ngài Kheo xin người trong thôn mỗi
người một bó củi. Trong số người cho có một số không vui lòng. Trước khi
lên giàn hoả, ngài nguyện sẽ để lại một vật mọn tặng dân làng. Khi hoả
táng xong, người trong chùa đến nhặt xá lợi thì chỉ nhận được một chén
chung cổ trong đựng một móng tay còn tươi không một chút tro bụi. Đó là kỷ
vật biếu cho dân làng. Ngoài ra, còn một vài bó củi lửa không hề bén đến.
Ai nấy đều biết rằng đó là củi của những người không thành tâm cúng dường.
Hòa thượng bổn sư phong cho ngài danh tự là Linh Phù.
Bầy
trâu, sau khi ngài viên tịch không còn ai trông nom, cho nên lần lượt kéo
nhau vào núi và không trở về chùa nữa.
Trong
câu chuyện có con trâu trắng và con trâu đen. Trâu trắng chỉ trâu thần.
Còn trâu đen chỉ sinh vật được nuôi dưỡng. Điều này khiến liên tưởng đến
chuyện 10 bức tranh chăn trâu của phái Đại Thừa và phái Thiền Tông.
Tranh
Đại Thừa vẽ con trâu đen, nhờ phép tu “Tiệm” mà tiến từng nấc một lên đến
giác ngộ cũng như con trâu đen nhờ dìu dắt mà trỡ nên thuần thục và lớp da
trắng lần. Còn bức tranh Thiền Tông thì có khi vẽ trâu đen có khi vẽ trâu
trắng.Trâu trắng là để chỉ “bạch ngưu xa” là Phật thừa, chính là cái tâm
đại giác viên mãn của Phật. Con trâu của Thiền không thay đổi màu lông. Đó
là phép tu “Đốn”, phép này dạy rằng người ta thành Phật là thành ở nội tâm,
“hoát nhiên” mà thành, không phải lần hồi theo cấp bậc.
Câu
chuyện trâu đen, trâu trắng nơi Xứ Trầm Hương cũng mang đầy ý vị của Phật
gia.

Trần
Thị
Phong
Hương
Địa chỉ liên hệ
Quách
Giao

Trang XUÂN 2009- Văn Học Nghệ Thuật
Và Quê Hương