Mục Lục

   Trang B́a
     
 Ban Biên Tập
 
Lá T Xuân
     
 Lê Thị Lộc
  S Táo Quân
     
 Nguyễn Thị Thanh T
  Câu Đối Tết 
     
 Vinh H

 

Xuân
Q
N


 
Phóng S Du Xuân KSửu 
       Quách Tấn Cang
 
Phóng S Du Xuân KSửu
       - Kỳ 2
 
       Quách Tấn Cang
 
 Hương Xưa...    
     
 Lê Thị Đào
 
  Hồi c Tết Q N
      
Lư H
   Những Ngày Xuân Thuở Ấy  
     
 Nguyễn Thị Thục
   TĐầu Năm  
     
 Trương Huyền Trường
   Tết... Học Tṛ  
     
 Nguyễn Văn Xê

 

Xuân
Đ
ất Khách


   Đón Tết Đầu Tiên Trên
     Đ
ất M
 

      
Lê Tâm Anh
 
 Ninh Ḥa Và Tôi    
     
 Trần Thiên Bảo
 
 Không Đề    
     
 P Đức Lâm
  Tuổi Con TRÂU 
     
 Phùng Thị Phượng
   Hai Cái Tết Đầu Tiên Nơi
     
 Đất Khách
 

     
 P Vĩnh Sơn
 


H́nh nh


 
Hoa Xuân 
       SXương Hải
 
Trâu Ḅ Tại Ninh Ḥa 
       SXương Hải - Lê Thị Lộc
 
H́nh nh Đón Xuân Tại Cali
       Lê Lai

 

Hội Quán
Quảng Đông


 
Chúc Tết
      Quách Tấn Cang
 
Tết Đi LChùa
      Quách Tấn Cang


 


Ca Hát/Nhạc

     Tiếng Hát:

 
  Trần Thị Minh Nguyệt
 
   Hà Thị Thu Thủy

     Slide Shows:

   Lê Lai


    Trích Đoạn VTuồng Cải
 
Lương: "Tiếng Trồng Mê L
inh"

   N Trưởng Tiến


 

Tiếng Đàn

      Tiếng Đàn PIANO:
 
  Trần Lộc 


 

Kịch Vui
 

  Niềm Vui Nhân Đôi
     
 Lương L Huyền Chiêu

 

Chuyện Vui
 

  Chuyện Vui Cười
     
 Nguyễn Văn Xê



 

TVi


 
 TVi Năm KSửu - 2009 
      
ABC Sưu Tầm (NXV)
   Người Tuổi Sửu - TRÂU
      
ABC Sưu Tầm (NXV)

 

Năm KSửu Nói Chuyện V Trâu Ḅ


 
  Bạn Trâu ! 
        
Lê Tâm Anh
  Tản Mạn Năm Sửu V
      
Chuyện T
râu
 

       Việt Hải - Los Angeles
   Trâu Ơi Ta Bảo Trâu Này
      
Nguyễn Phan Lê 
 
 Tản Mạn Về Tết KSửu
       2009

      
Nguyễn Văn Thành
   Giữ Trâu 
      
NQuê -  Trần B́nh Trọng
   Cà Kê Dê Ngỗng Chuyện
     
Con Trâu

      
Vinh H
   Năm Sửu Viết VTrâu  
     
 Nguyễn Văn Xê


 

Tranh V
N
ghệ Thuật

   Hoàng Tiên- Phi Ṛm


 

Kinh Nghiệm Sống

  Đạo Và Đời - Tham Sân Si
      Tâm Đoan
  Đi T́m Hạnh Phúc
      Tâm Đoan
  Bụi THIỀN
      Mục Đồng-Trần Thanh Thiên
 

 

Chuyện Phiếm/
Tạp Ghi
 

  Câu Chuyện Văn Nghệ Văn
      
Gừng Cóc Nhái Miệt Dưới

      Người XVạn
 
  Trâu GThích Gặm
      
CN
on
  

     
 Nguyễn Thị Thanh T
  NTối
      Trương Huyền Trường
  Tản Mạn VNgười NQ
      Trần Khổ
  Thương QSông Ơi !
      Trương Huyền Trường

 


Văn Hóa
m Thực


   Bánh Vá G̣ Công
      Bánh Tằm Ngang Dừa

     
 Hoàng Tiểu Ca
 
  Chuyện Dưa Hấu Xưa&Nay
       Hoàng Nam (VHLA)
 
  Bánh Xèo
      Canh Chua Bạc Hà

     
 Hoàng Nam
 
  Mắm, Món Ăn K Quên 
     
 Hoàng Tiểu Ca
 
Bánh Căn Trên Phố
      
Sài G
̣n

     
 Lê Kư Thương
 
Khẩu VNinh Ḥa
     
 Nguyễn Tính



Sức Khỏe

    Bệnh Tiểu Đường Loại 2
    
  BS Nguyễn Vĩ  Liệt

 

Chuyện
Đ
ó Đây
 

   Nhạc Xưa Nhạc Nay 
     
 Nguyễn Phan Lê
 
 Mùa Xuân Nói Chuyện Cùng
      
NVăn ĐHồng Ngọc
 

       Lương LHuyền Chiêu
 
  Tản Mạn VVơ Thuật
       
Và Kienando

     
  Việt Hải - Hoàng Nam

 

TChơi
D
ân Gian NH
 

   TChơi Dích H́nh 
     
 Nguyễn Thục
   TChơi Cối Xay
 
 TChơi ng Thụt
     
 Nguyễn Thục


 

Viết v
Ninh Ḥa
 

    Dấu Chân Trâu Trên X
       
Trầm Hương

     
  Trần Thị Phong Hương
   Có Một Thời Ninh-Ḥa
      Nhạc Trẻ
 

     
 Lương LMinh T 
   Khóc Một Ḍng Sông 
     
 Trương Tiếp Trương

 


Viết v
ninh-hoa.com


   Ăn Tết Với Ninh-Hoa.com 
     
 Phạm Thanh Khâm &
      PLinh Trân
   Tôi Đi Thăm Ninh-Hoa.com 
     
 Lê Lai
 
Viết Tiếp Hành Tŕnh Đến
      
Với Ninh-Hoa.com Của M

     
 Lâm Thanh Nhàn
   Đi Xa Và Trở Về 
     
 Phan Nho
   Trở V 
    
  Phan Kiều Oanh
 
   Một Vài Cảm Nghĩ V
       
Trang Web

     
  Phạm Thanh Phong


 

Biên Khảo
Kinh Tế
 

    Kinh Tế Việt Nam Năm 2008
       Nguyễn Văn Thành
   Q Tŕnh Phát Triển  Kinh
      
Tế Của Nhật Bản TMinh
      
Trị Thiên Hoàng Cho Đến
       
Ngày Nay

     
 Nguyễn Văn Thành
 
  Suy Thoái Và Khủng Hoảng
       
Kinh Tế Tại Hoa K

      
Nguyễn Văn Thành


 

Viết VNhững Ngôi Trường
 

    Những Nốt Nhạc Đầu Tiên
     
  Lương LHuyền Chiêu
 
  Trường Xưa Của Tôi
      
Lư H
 
   Kư c VTrường G̣
       
Muồng, Ninh Ḥa

     
  Phạm Thanh Phong
 
   Kư c VTrường Trung
      
Học Đức Linh

     
  PDu
    Trích Đoạn Hồi Kư Của
       
Đốc Học TRẦN C
ẢNH

    
  Phan Kiều Oanh
 
  Đỉa Ninh Ḥa
     
  Phạm  Văn Thịnh


 

Du Lịch
 

    Đường VMiền Tây
       
Nam  B

     
  Lương LBích San
 
  Góc Việt Ở Fitur Madrid 2009
     
  Lâm Thanh Nhàn

 

Đặc San NH
Kỷ Niệm 5 Năm

 

    Tản Mạn ĐẶC SAN 5 Năm
     
  Nguyễn Văn Sanh- NXV

 

Văn Học
N
ghệ Thuật

 

    Cảm Nhận TNam Kha
     
  Lê  Anh Dũng
   T́nh Yêu Đôi Lứa Trong Ca
      
Dao Tục Ngữ Nói VTrâu

    
  Vinh Hồ 
 
   Tiếng Đàn TBà Và
      V
ũ Điệu Bharatanatyam
       
Của  Kim Loan

     
  Lê Văn N
 
   Sân Khấu Phía Sau
     
 Dương Công Thi - Anh Thy
 


Thơ Vui
 

   Đời Trâu
       Tú Trinh
   Mừng Sửu Lên Ngôi
       Tú Trinh
 




T
 

   Một Thời
       Lê Tâm Anh
  Chút Sương

      
 Nguyễn Thị Bảy-Hương Đài
  Xuân K Sửu
      
 Nguyễn Thị Bảy
 
  Thân Trâu...    
      
 Huy Bạch
  Xuân Xa Xứ...
      
 Huy Bạch
   Nồng Nàn Hương Xuân
       Nguyễn Thị Thanh B́nh
  T XUÂN Phỏng Dịch      
       Nguyên Bông
 
   Chẳng Dấu Gí Anh
     
  P Du-Phạm Thanh Phong
 
  TDạo y
      
Nhạn Đà
   Nuối Tiếc
       Hương Đài
 
  Mừng Xuân
      
Lê Thị Đào
  Làm Bài T Thật Là Nhanh
      Trần Minh Hiền
  Nha Trang Nắng Lụa Mây
      
Đào

      Tường Hoài
 
  Xuân Tha Hương    
      
Đinh Bá H
 
Dạo Phố Mùa Xuân    
      
Vinh H
   C̣n Đó Mùa Xuân
       Nam Kha
   Giao Thoa Ánh Sáng
       Nam Kha
  Nhớ Xuân Đoản Khúc 4 
       Lê Lai
  
Hẹn Với Mùa Xuân
      
Nguyễn Phan Lê 
   Nỗi Ḷng
       Phương L
 
Xuân Ḷng C̣n Măi Đâu Đây         Hải Lộc
 
  Xuân HLạc    
      
Thanh Mai
 
  Xuân Khai    
      
Thanh Mai
 
Xuân Xưa    
      
Thanh Mai
 
  Chiều Q    
      
Diệp Thế M
 
  Cô Tiên Trong Ḷng Anh
      
Thụy Nguyên
  C Là T́nh Nhân Mới
      Trần Thị Minh Nguyệt
  Hương Biển Mặn Mà Xuân
      Quách Giao
 
  Biển Trầm Luân
      
Lê Văn Quốc
 
  Chúc Xuân
      
Phi Ṛm
 
   Gởi Cánh Chim Xa
     
 Dương Anh Sơn
 
  Vui Xuân XLạnh    
      
Mai Thái Vân Thanh
   Đá Vàng
       Kim Thành
   Trở Trời - Slide Show
       Kim Thành
 
  Tháng Giêng Khúc
      
Nguyễn Văn Thành
   Đón Xuân XNgười
       Thi Thi
  t Cay
      
Thi Thi
 
  Xuân Viễn X
      
Thi Thi
 
  Xuân Tái Ngộ
      
Trần Đ́nh Thọ
 
  Xuân Chiều    
      
Nguyễn Thị Thu -Hoài Thu
   Tuổi Con Trâu
       Anh Thy (Dương Công Thi)
 
Sắc Xuân
     
 Nguyễn Tính
 
  Mừng Đáo Tuế
      
Nguyễn Thị Thanh T
  Dáng Xuân
      
 Nguyễn Thanh Trúc
 
  Xuân T́nh Tháng Giêng    
      
Tiểu Vũ Vi
 
  Đêm Xuân    
      
Tiểu Vũ Vi
 
TXuân    
      
Anh Vũ - Thiện Tín
 
  Ca Khúc Mùa Xuân   
      
Lê Trung - Lê Duy Vũ
 
  Vịnh Con Trâu    
      
Nguyễn Văn Xanh
 


Văn

 

  V Q Xưa
       Lê Ánh
  Những Lần Đầu Tiên
      Trần Thiên Bảo
  Trâu Trắng Trâu Đen
       Nguyên Bông
  Ánh Xuân Hồng      
       Nguyên Bông
  Giấc Mơ Ḥn Hèo  

       Lương LHuyền Chiêu
  Những Cái Tết Tuổi T 
       LThanh Cư
 
  Bạn Cũ   
       
Phan Phụng Dung
  Đón Xuân Này... Nhớ Xuân
       
Xưa

      
 Lê Thị Đào
  
Ve Chai
       Mỹ Hiệp
 
   Cành Mai NSớm
     
 Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa
 
  Cánh Vạc Phương Trời   
      
Nguyễn Tường Hoài
  Con Trâu CCủa Cha Tôi 
       Vinh H
  Tết Trong Dĩ Văng
       Vơ Thị N Hường
  Một Đời Người Một SPhận
      
 Trần Khổ
  Mừng Sinh Nhật
       Diệp Thế M
 
  Hải Ngoại Xuân Và Tôi...   
      
Trần Thị Nết
   Yard Sale
       Đng Thị Ngọc N
 
   Mùa Xuân Của Mẹ   
      
Thu Phương
 
   Thành Phố Nha Trang Và
     
 Đêm Noel

     
  Lương LBích San
 
   Dấu Chân Thời Gian
     
 Dương Anh Sơn
  Người Việt Ở Melbourne
      Úc Châu Ăn Tết
     
 PVĩnh Sơn
  Hai Ba Ông Táo V Trời  
      
Nguyễn Hữu Tài
  Thang Thuốc Nam
       Nguyễn Văn Thành
 
  Dấu Chân Xưa    
      
Nguyễn Thị Thu (Cầu Gỗ)
 
   Xuân Nay Vắng M
     
  Hà Thị Thu Thủy
  Tết Mậu Thân 1968 
       Lê PThọ
   Thằng Cựng Chăn Trâu
       Phan Đông Thức
   Tâm T́nh Ngày Cuối  Năm
       Hng Tiên - Phi Ṛm
   Chờ Mùa Xuân Tới 
     
 Tiểu Thu
  Tháng Giêng L
     
 Nguyễn Đôn Huế Trang
  Chiếc Áo Màu Rêu Xanh
     
 Phan Thái Yên


 

 

 

 

 

 

Thư từ, bài vở, h́nh ảnh hoặc
ư kiến xây dựng, xin liên lạc:

 diem27thuy@yahoo.com

 

 

 

 

Người ViếtPhạm Văn Thịnh là tên thật của tôi. Những nhân vật mà tôi đề cập đến, trong bài viết dưới đây, đều là tên thật. Nếu có mạo phạm đến quí tôn danh nào, xin chân thành tạ lỗi. Ngoài ra, nếu quí vị nào là cựu học sinh Phạm Ngũ Lăo có nhận ra tôi, và nếu muốn, xin liên lac : pttrong@yahoo.com

 

 

           Không hiểu thời xưa, trẻ con được cho đi học trễ hay v́ hoàn cảnh chiến tranh phải chạy loạn, mà măi cho đến năm 14 tuổi anh tôi mới bắt đầu học lớp Đệ Lục, c̣n tôi 8 tuổi mới đang học lớp Năm, tức là lớp 1 bây giờ. Tôi c̣n nhớ năm ấy là 1954, sau Hiệp Định Genève, gia đ́nh tôi đi  tàu há mồm đến Nha Trang, và chỉ 3 ngày sau đó, bố tôi đă gởi anh tôi học nội trú Trường Kim Yến ở đường Lê Lai. C̣n tôi, th́ theo gia đ́nh đi Ninh Ḥa cách NhaTrang khoảng 30km. Dù ở đó không đầy 6 tháng, tới nay hơn nửa thế kỷ đă qua, trong ḷng vẫn thấy đậm đà với Ninh Ḥa. Có lẽ tại Ninh Ḥa đă cho tôi nhiều cái “biết lần đầu” ở cái tuổi chưa biết mấy, nhưng dấu ấn sâu đậm nhất, Ninh Ḥa đă đặt vào cuộc đời tôi h́nh ảnh cuộc đời của một con người, một con người tầm thường hơn tất cả mọi thứ tầm thường trên đời, nhưng nỗi đau đớn của nó lại văng ra từ sự giẫy dụa triền miên của cả một dân tộc.

 

           Gia đ́nh tôi đến Ninh Ḥa vào một buổi chiều dịu nắng. Xe dừng trước một căn nhà “Tây” ở mặt tiền, trong khuôn viên Bệnh Viện Ninh Ḥa, đằng trước có hàng cây mà sau này mới biết tên gọi là Cây Bông G̣n. Rồi một người đàn bà trẻ đẹp có vẻ mừng rỡ ra chào đón, bố mẹ bảo chị em tôi khoanh tay chào “cô đỡ”, và từ đấy chúng tôi gọi người đàn bà đẹp ấy là Cô Đỡ như một cái tên.

 

           Cô Đỡ là người Hà Nội, tốt nghiêp Trường Hộ Sinh Quốc Gia, được bổ nhiệm về Ninh Ḥa từ mấy năm trước, làm Trưởng Nhà Hộ Sinh trực thuộc bệnh viện quận, có ông Giám Đốc tên là Hà. Hóa ra, bố tôi và Cô đă quen nhau từ đời thuở nào rồi, và trước khi di cư bỏ miền Bắc, bố tôi vẫn liên lạc với Cô, nên mới mau chóng về Ninh Ḥa là như vậy. Cô Đỡ sống độc thân, nhưng có 2 con, đứa trai 4 tuổi tên Cầu và đứa gái 2 tuổi tên Duyên, với một “chị ở” theo Cô từ Hà Nội vào. Cô nhường nửa căn nhà của cô cho gia đ́nh tôi ở tạm, rồi tính sau. Sau khi t́m chỗ học cho tôi và sắp xêp được chỗ ăn ở tạm cho gia đ́nh xong, bố tôi làm một cuộc hành tŕnh hết Trung tới Nam suốt nhiều tháng để t́m đất sống.    

        

           Mới chân ướt chân ráo tới Ninh Ḥa được vài ngày, bố tôi đă nhờ Chị Quỳnh, lôi cổ tôi tới trường Phạm Ngũ Lăo nộp cho Thầy Thưởng (?). Chị Quỳnh chính là “chị ở” nhà Cô Đỡ, chắc khoảng 20 ngoài. Nghe đâu, hồi năm đói Ất Dậu, thấy chị sắp chết đói nằm co quắp gần Sở Cẩm Sơn Tây, bố mẹ Cô Đỡ đem về nuôi, sau này Cô Đỡ đi đâu Chị Quỳnh theo đó để hầu hạ. Thân phận của chị cũng giông giống với anh B́nh tôi. Anh là con nuôi của bố mẹ tôi, nhưng trên khai sinh, tôi với anh cùng cha cùng mẹ. Có một độ, tôi thấy anh lúc nào cũng thở ngắn thở dài, mặt lúc nào cũng thừ ra, có khi thấy anh ngồi một ḿnh, miệng há hốc nước dăi chảy cả ra mép, trông như một con gà rù. Mẹ tôi bảo anh B́nh ốm tương tư chị Quỳnh…Trở lại chuyện đi học, chị Quỳnh dẫn tôi đi khai học trường Phạm Ngũ Lăo  vào một buổi sáng, ngay giờ ra chơi. Sau khi thử sức, Thầy xếp tôi vào học lớp bét, tức là lớp Năm, mà bây giờ gọi là Lớp 1. Có lẽ nhờ được xếp vào lớp bét nên tôi thuộc loại học giỏi trong lớp, chẳng qua là trước đó tôi đă học xong lớp Năm, nhưng bị đứt đoạn mới phải học lại, nên chỉ hơn tháng sau tôi được Thầy cho lên Lớp Tư, chứ chắc không phải tại tôi “thông minh vốn sẵn tính trời”. Được lên lớp, nhưng không phải chuyển pḥng học, mà chỉ phải chuyển bàn, có lẽ pḥng học gồm nhiều học sinh có tŕnh độ khác nhau.

 

           Một chút kỷ niệm về thầy Thưởng. Thầy khoảng 40 tuổi, tôi đoán như vậy. Trông Thầy cao cao, dáng người to khỏe nhưng không mập, khuôn mặt rắn rỏi, và h́nh như nước da hơi ngăm ngăm đen, Thầy có người con trai lúc ấy đă học lớp Đệ Tứ, thỉnh thoảng anh vẫn đứng lớp, mỗi khi Thầy bận công chuyện. Tôi chưa bao giờ thấy Thầy cười với học tṛ trong lớp, kể cả lúc Thầy khen tôi học giỏi mà mặt vẫn nghiêm như một ông quan ṭa. Thỉnh thoảng dẫn học tṛ đi chơi xa, kiểu học tṛ Mỹ đi “field trip”, mới thấy nét mặt Thầy “nhẹ nhơm dễ thương” một chút. Có lần thầy dẫn chúng tôi đi xa lắm, tôi nghĩ cả chục cây số, đi bộ từ sáng đến trưa, ăn uống xong nghỉ ngơi rồi tắm suối, đến tắt nắng cũng chưa về tới nhà. Tuy mệt, nhưng cũng thích thú lắm, khoái nhất là dọc đường vớ được mấy cây sim có trái chín tim tím ngọt ngọt, c̣n kẹt lắm th́ cũng nhai  đỡ mấy trái “sắn thuyền” chát chát chua chua. Lúc ấy, tôi không thấy đồi sim “tím cả chiều hoang biền biệt” như sau này đọc thơ Hữu Loan, v́ chỉ đi qua những vùng sim lác đác, nhưng thấy “môi tím cả chiều hoang” th́ có, v́ ăn sim với sắn thuyền xong môi đứa nào đứa nấy tím ngắt mầu sim. Sau ngày đi chơi, Thầy lại tiếp tục dành cho chúng tôi “con đường gian khổ”, tiếp tục “dữ đ̣n” với kẻ “cần đ̣n”. Học tṛ “dốt” hay làm biếng Thầy trị một kiểu, “ở dơ” trị theo kiểu ơ dơ. Bị quỳ, bị bắt nằm xuống đánh roi, bị ở lại trưa chép phạt, hay bị khẻ tay…tùy theo “tội trạng” mà xử. Đối với tôi, Thứ Sáu nào cũng là Thứ Sáu Đen, tôi như “cá nằm trên thớt”, v́ mỗi Thứ Sáu là khám “vệ sinh thân thể”, tay bị dây mực hay móng tay dính đất là chỉ có nước ăn thước kẻ nát tay, và tôi không lần nào thoát cả, cố giữ thế nào bàn tay vẫn vấy mực, móng tay vẫn dính đất. Mà công nhận thầy đánh đau thật, tôi vừa sợ vừa “ghét” thầy vô cùng, lúc ấy tôi cứ ngỡ thầy không ưa “Bắc Kỳ Di Cư” nên đánh tôi đau hơn. Cho tới khi có chuyện lớn xẩy ra, tôi mới vỡ lẽ, ḿnh bị khẻ tay không phải tại thầy ghét Bắc Kỳ. Chuyện từ vụ một tṛ khác không phải là Bắc Kỳ bị ăn đ̣n đau, và cũng nhờ chuyện lớn này mà Thầy đă phá lệ cho tôi một “tí cười”, chỉ một tí thôi, nhưng cũng đủ làm thằng bé tôi lúc đó cảm động đến tê người.

 

      Giờ tan học buổi chiều hôm ấy, khi đă ra tới gần giữa sân mà tay tôi vẫn từ sau bám vai người trước, miệng nghêu ngao hát nhái giọng Ninh Ḥa, chọc ghẹo anh bạn có khuôn mặt đầy loang ben, “Tang” học rồi là “tang” học rồi… Cũng nói thêm ở đây, thời đó học tṛ phải đi học ngày 2 buổi, mỗi ngày chúng tôi phải hát mấy bài hát khác nhau, tùy theo sáng trưa chiều, giờ tan học th́ hát “Tan học rồi là tan học rồi, giơ tay đứng lên chia tay ra về. Đi đi đi  trên đường ta đi ta hát…Đẹp thay thời ấu thơ…”. Trước khi ra về, mọi học sinh phải ngồi ngay ngắn, thầy cất tiếng hát, tṛ hát theo, khi nào thầy gơ một cái th́ bàn thứ nhất giơ tay đứng lên, người sau vịn vai người trước, vừa đi vừa hát “tan học rồi…” cho tới khi ra khỏi lớp, một tiếng gơ tiếp theo th́ bàn kế tiếp mới đứng lên, cứ vậy cho tới bàn cuối cùng. Lúc ấy đă ra tới gần giữa sân, tôi vẫn c̣n bám vai chọc ghẹo anh bạn loang ben với chữ “Tan” nhái giọng hát thành “Tang”. Bất chợt chúng tôi thấy có một ông Hiến Binh đội két đỏ săm săm đi tới. Anh bạn ṭ ṃ đi theo người HB, c̣n tôi chạy vụt ra cổng, v́ mùi chuối chiên từ phía đó bốc lên thơm lừng, vừa chạy tôi vừa lằn túi xem có c̣n đồng bạc chị Quỳnh cho hồi trưa. Tôi biết và khoái món chuối chiên cũng tại chị Ḥa “thảo ăn”, học cùng lớp. Người Bắc gọi người “thảo ăn” có nghĩa là người thường cho hoặc mời người khác chia phần đồ ăn của ḿnh, chị Ḥa cho ăn thử một đôi lần, tôi “bắt nghiền’ luôn. Miếng chuôi chiên vừa nóng vừa to, tôi đứng tại chỗ chén chưa hết phân nửa, th́ nghe có tiếng ồn ào phía sân trường : một đám đông học tṛ đang đứng trước cửa lớp nh́n vào.

 

      Tay xách cặp, tay cầm miếng chuối chiên cuộn vội trong tờ lá chuối heo héo, tôi chạy về phía cửa lớp. Chuyện ǵ vậy? Thầy bị oắn một cái. Ai oắn ? Ông Hiến Binh ba tṛ…Sao oắn ? Ai biết. Tôi hỏi lung tung, cuối cùng cũng biết người HB, có đứa con trai bị đánh đ̣n bữa trước, nên mới tới gây gỗ và hành hung thầy tôi. Khi nghe thầy bị đánh, tự nhiên tôi cảm thấy mặt nóng bừng bừng, và cảm thấy cần phải làm một cái ǵ để bênh vực thầy, nhưng tôi chỉ là thằng bé con, biết làm ǵ bấy giờ. Sau khi người HB hầm hầm bỏ đi, thầy tập trung chúng tôi tại sân rồi dặn, “Về nói với ba má, sớm mai các tṛ đi biều t́nh, tṛ nào ba má không cho đi th́ ở nhà, khỏi đi học. Bây giờ các tṛ về đi.”…Lần đầu tiên nghe chữ “biểu t́nh”, tôi chẳng hiểu ǵ cả, nhưng cũng đoán là làm cái ǵ đó chống lại ông Hiến Binh.

 

      Đă ra khỏi cổng trường, nghĩ sao tôi quay trở lại, thầy vẫn ngồi tư lự trên bàn của thầy trong lớp học. Tôi ngập ngừng trước cửa, tính quay ra. Bất chợt, thầy nói vọng ra, “sao chưa về”. Có lẽ thấy tôi ấp a ấp úng, thầy đứng lên tiến về phía tôi, “có chuyện ǵ không ?”, một lúc tôi mới lắp bắp lí nhí trong cổ, “Thầy..có đau không?”. Tôi thấy Thầy khẽ nhếch mép cười, không thành tiếng, tay đặt nhẹ lên đầu tôi. Từ bàn tay Thầy, tôi cảm thấy như có một luồng điện đang truyền vào mặt tôi, điện qua gáy lan xuống sống lưng, cả người tôi cứ tê tê lên v́ cảm động. Có bao giờ tôi được Thầy gần gũi thân thiện như vậy đâu. Tôi nói, “ngày mai con biểu t́nh”, dù chưa biết biểu t́nh là làm ǵ.Thầy bảo, “Ừ, về đi.”. Sau tiếng “dạ”, tôi quay người chạy, vấp phải cái ǵ đó chút síu th́ té, miếng chuối chiên trơn trợt tuột khỏi tờ lá chuối văng xuống đất. Sau lưng có tiếng Thầy gọi với theo, “dơ rồi, bỏ đi, coi chừng té.”.

 

      Từ đấy, tôi cảm thấy tự tin hơn khi đứng trước mặt thầy, và cũng không c̣n thấy “ghét” thầy nữa, dù bàn tay tôi vẫn “tan nát” vào mỗi ngày Thứ Sáu, cây thước kẻ của thầy vẫn nặng kí chắc nịch như hồi nào. C̣n Ông Hiến Binh, không biết có bị bắt tội ǵ không, nhưng tôi có thấy đến trường gặp thầy mấy lần, trông ỉu x́u. Lần đến sau cùng, ông HB đi cùng với một người nữa, đứng trước lớp học, phải xin lỗi thầy, và xin lỗi cả đám học tṛ oắt con là chúng tôi nữa. Sau đó, lớp học vắng bớt một người, hay là gia đ́nh người HB đă di chuyển khỏi Ninh Ḥa ?

 

      Trong số những bạn học Phạm Ngũ Lăo, bây giờ tôi chỉ c̣n nhớ tên được 3 người. Chị Ḥa “thảo ăn”, người cho tôi lần đầu biết món chuối chiên. Người thứ hai là anh Đắc to bục bịch, giọng e é như con gái, mà mấy đứa thuộc loại “thứ 3 học tṛ” thường chọc ghẹo “ghép đôi” anh với chị Ḥa. Anh Đắc cũng gốc Bắc Kỳ, nhưng là gịng dơi “ Bắc Kỳ Cựu”. Người Bắc 54 gọi những người Bắc vô Nam trước, theo những đợt tuyển phu cạo mụ cho Tây đồn điền cao-xu từ Thập Niên 30,40 là Bắc Kỳ “Kịu”. Miền Trung không có đồn điền cao xu, nhưng có lẽ theo ḍng đời, gia đ́nh Đắc đă trôi dạt đến Ninh Ḥa? Sau này, thời c̣n đi học ở Sài G̣n, trong một lần làm “cái đuôi” lén lút “theo em đi lễ đầu năm”, tôi vô t́nh gặp anh Đắc là thầy tu trong một ngôi chùa áo Nâu ở ngoại ô Sài G̣n. Tại đây, tôi biết anh bị “gay”, v́ anh có vẻ muốn “tán tỉnh” tôi. Nhưng không hiểu sao đến đầu thang 5/1975, vô t́nh thấy anh tại khu Ngă Tư Bảy Hiền gần Phi Trường Tân Sơn Nhất, tôi lại thấy anh mặc áo Vàng. Nh́n anh từ “Nâu” đổi sang “Vàng”, tự nhiên tôi thấy người gai gai, ngại ngần không dám đến  bắt tay, v́ dầu sao lúc ấy tôi là kẻ đang trên đường đến trường Nguyễn Thượng Hiền gần đó, để tŕnh diện lần đầu, theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản Sài G̣n. Vả lại, trong đời, tôi sợ nhất là con rắn, nhưng gớm ghét nhất là con tắc kè.

 

        Cho tới bây giờ, đă giữa Thu tuổi đời, có ai nhắc tới Ninh Ḥa, là tôi nghĩ ngay tới Khánh và chị Quỳnh; hay ngược lại, gặp ai có tên Quỳnh hay Khánh, tôi lại nhớ tới Ninh Ḥa, cũng như khi nh́n thấy miếng chuối chiên lại nhớ chị Ḥa. Khánh là người Hoa, cũng trạc tuổi tôi, con nhà giầu nhưng tánh t́nh rất b́nh dị, dễ ḥa đồng, nhà ngay mặt tiền khu phố chợ Ninh Ḥa. Tôi hay trêu gọi anh là “ Khánh C̣m” hoặc “Khánh khè”, v́ anh trông thật gầy g̣, và đôi khi hơi thở của anh nghe như có tiếng kḥ khè từ trong cổ. Ngày nào Khánh cũng chờ tôi ghé qua nhà gọi đi học, mà lần nào khi ra khỏi nhà, anh chàng cũng mang theo một món đồ ăn, lúc th́ gói chà là, khi cái bánh tráng nướng, hay mấy cục ô mai cam thảo, và dĩ nhiên, lần nào tôi cũng được chia phần, có lần Khánh chia cho tôi nửa con khô mực nướng, to kềnh như cái quạt mà trong đời tôi mới thấy lần đầu. Và cứ vậy, ngày 2 buổi, gần như ngày đi học nào cũng 4 lần đi về chung với Khánh. Tôi thích chơi với Khánh, không biết tại Khánh dễ thương hiền lành giống…tôi, hay v́ Khánh hay cho tôi đồ ăn, có lẽ tại cả hai. Nếu gia đ́nh tôi vẫn ở lại Ninh Ḥa tới khi tôi khôn lớn, có lẽ chúng tôi đă trở thành bạn rất thân. Không hiểu Dương Công Khánh, tức nhà văn Nam Kha bây giờ, có phải là thằng “Khánh Khè” của tôi ngày xưa không ? Tại trường, tôi chỉ chơi với Khánh, c̣n ở nhà, tôi chơi với chị Quỳnh. Gia đ́nh tôi không có một liên hệ ǵ với chị Quỳnh, chỉ ở chung nhà, nhưng sao chị thương và chiều chuộng tôi c̣n hơn là chị ruột. Với Khánh, tôi c̣n được chung lớp chung trường 5, 6 tháng; với chị Quỳnh, tôi chỉ có không đầy 3 tháng chung nhà, nhưng mấy tháng ngắn ngủi này đă theo tuổi lớn dần của tôi, càng ngày càng hằn sâu trong ky ức từ cái tuổi thơ xa xưa ấy, để rồi tôi nghiệm ra rằng, cuộc đời đầy bi thương của chị Quỳnh là sự ngắt véo từ cái bi thương trăm năm lịch sử đất nước.

 

       Mang thân phận tôi đ̣i, nhưng chị Quỳnh có dáng dấp của một cô gái con nhà giầu. Mẹ tôi thường khen chị da trắng như bông bưởi, thắt đáy lưng ong, tướng mắn con chiều chồng. Tôi th́ chỉ khoái nh́n đôi mắt to đen lay láy của chị, nhất là cái tṛng trắng xanh lơ lơ. Có lần tôi bảo có mây bay trong mắt chị, chị nạt tôi “thằng nhăi con có im đi không”, chắc chị sợ người khác nghe chứ lúc ấy tôi 8 tuổi, đă biết ǵ đâu, chỉ thấy sao nói vậy. Dáng chị cao cao, trông khỏe mạnh, đi chung với chị ngoài đường, tôi thấy nhiều anh nh́n chị muốn văng cả tṛng ra ngoài. Chị thương và chiều chuộng tôi vô cùng. Buổi trưa, đi học về trễ, tôi thường ăn cơm một ḿnh. Chị vẫn lấy đồ ăn bên Cô Đỡ bỏ vô chén tôi, lúc miếng thịt, khi khúc cá nạc, thỉnh thoảng chị cho tôi nguyên cả một trái táo Tây. Cái bánh sèo đầu đời của tôi là ở Ninh Ḥa, chị  Quỳnh mua cho. Một bữa, chị hỏi tôi có ăn bánh sèo không, nói tới “ăn” là tôi “có” liền, nhưng cũng hỏi lại bánh sèo là ǵ, chị bảo cũng như món bánh khoái của người Bắc, mà ngon hơn nhiều, rồi chị cầm dĩa đi mua về chứ không dắt tôi đi ăn tại chỗ, chị bảo con trai không được ngồi ăn ngoài đường, chả là chỗ bán bánh sèo nằm ngay lề đường phía bên kia nhà. Chiếc bánh sèo trắng trợt, bên trong chỉ có vài cọng giá, nhưng là chiếc bánh ngon nhất đời, nhất là lần đầu được ăn nước mắm pha chua chua ngọt ngọt, tôi húp sạch không c̣n một giọt, ăn xong miệng c̣n chép chép thèm thèm. Lần duy nhất trong đời tôi đi coi hát bội, cũng là chị Quỳnh cho. Từ nhà, chị dẫn tôi đi bộ qua cầu, tới ngă ba sát Chợ Ninh Ḥa quẹo phải, đi riết một hồi lâu, h́nh như phải quẹo vào một con đường đất nữa, đi thêm một đoạn mới tới ngôi đ́nh có đêm hát bội. Tôi coi chả hiểu ǵ, chỉ thấy đào kép rên ư ử, chủ yếu là ngồi nhấm nháp mấy món đồ ăn chị Quỳnh mua đem theo. Mẹ tôi “phát lương” cho tôi 1 đồng vào buổi sáng, c̣n chị Quỳnh thường cho tôi 1 đồng trước khi đi học buổi trưa.

 

         Thường là chiều nào cũng vậy, nấu nướng xong, chị dọn cơm sẵn cho Cô Đỡ, nghề của cô giờ giấc bất thường, về lúc nào ăn lúc đó, và sau khi cho 2 đứa bé ăn, chị thường gởi mẹ tôi trông chừng, rồi mang đồ dẫn tôi ra sông tắm giặt, chị xách một túi lớn đựng đồ dơ, c̣n tôi mang túi đồ sạch, khi về tôi phụ chị xách một túi nhỏ, c̣n chị th́ 2 tay 2 giỏ nặng trĩu đồ ướt. Mỗi lần đi tắm, chị đều không quên mang theo một ít vôi. Chị thường dẫn tôi đến một khúc sông vắng, có băi cát thoai thoải thật sạch, nước trong veo, không đục ngầu và bùn lầy như bờ sông ngoài Bắc quê tôi. Ở đó, hai chị em tắm giặt và đùa giỡn với nhau.  Có lần tôi bị 2 con đỉa bám ngay bắp vế, chị lấy vôi bôi vào, một lúc sau th́ đỉa rơi xuống. Th́ ra, chị mang vôi theo để trị đỉa, người ta bảo “giẫy đành đạch như đỉa phải vôi” là như vậy. Giặt giũ xong chị mới tắm, khi tắm chị để cả quần áo, chị ḱ cọ cho tôi thật kỹ, tôi sợ nhất lúc chị thoa xà bông cho tôi, cục xà bông đá như chiếc xe chồm lên chồm xuống trên con đường đầy ổ gà,  là cái thân thể gầy g̣ lấp ló những cọng sườn non yếu của tôi. Tắm xong, chị thay đồ trong một tấm áo mưa bằng nhựa có cái lỗ ở giữa để ló đầu ra ngoài, tuy vậy, chị vẫn cấm tôi không được nh́n chị, và phải quay ra ngoài trông chừng người ta nữa, cho chị thay đồ. Có lần hai chị em đang tắm, th́ một đám 5,6 người vác máy ảnh đi tới, trong đó có cả mấy cô mặc đồ tắm vai choàng khăn. Họ yêu cầu chị bước lên băi để chụp h́nh chị đang mặc đồ ướt, chị chối đay đảy và vội d́m người xuống nước. Chị không đẹp, sức mấy người ta đ̣i chụp h́nh.   

        Một hôm, nhà nhận được điện tín của bố tôi từ Sài G̣n. Vài ngày sau, mẹ đi gặp bố, có cả chị tôi đi theo để phụ bế em, tôi ở nhà một ḿnh, và dĩ nhiên, tôi đă được gởi gắm cho Cô Đỡ. Bữa cơm chiều, hôm trước ngày mẹ tôi đi Sài G̣n, cả nhà Cô Đỡ và nhà tôi ăn cơm chung. Tối hôm đó, ở sân chợ Ninh Ḥa lại có chớp bóng chiếu phim Tarzan, tôi đ̣i ăn trước, rồi vội vàng tếch đi coi phim. Khi trở về, tôi thấy 3 người đàn bà đang chuyện tṛ rù ŕ, chị Quỳnh mắt đỏ hoe, mẹ tôi và Cô Đỡ cũng sụt sùi. Tôi chả biết chuyện ǵ, chỉ nghe loáng thoáng tiếng Cô Đỡ  “Quỳnh ở lại đi, chúng nó nhớ chị lắm.”, mẹ tôi th́ nói, “sao chị dại vậy”. Lúc ấy, tôi đâu biết được, bữa cơm hồi chiều là mẹ tôi đăi, để tiễn chị Quỳnh đi tập kết về Bắc. Sáng hôm sau, chị Quỳnh đi Nha Trang cùng với mẹ tôi, chị xách theo một cái va-li to tướng. Buổi chiều đi học về, tôi lại thấy chị ỏ nhà.

 

         Hôm sau, chị cho tôi đi chơi Nha Trang. Trên đường ra ga xe lửa, chị dẫn tôi ghé trường xin phép nghỉ học 1 ngày. Chị đưa tôi đến trường Kim Yến gặp anh tôi. Chị dẫn anh em tôi đi chơi cả ngày, ăn uống, xi-nê, đi cả Sở Cá nữa. Ngồi ở quán nước, chị khóc sướt mướt, chị bảo anh tôi, “ Mai chị về Bắc, cậu ra bến tàu tiễn chị nhá.”, anh tôi hỏi sao chị không ở lại, chị nói chị phải về để “t́m anh ấy”, chị c̣n hẹn “2 năm nữa sẽ quay lại, chị em lại gặp nhau”, chị bảo chị mồ côi, chỉ có anh em tôi “là em trai” yêu quí nhất của chị. “T́m anh ấy”, “anh ấy” là người yêu của chị. Sau này, nghe anh tôi kể lại, anh ấy là một phu kéo xe ở Hà Nội. Những trưa hè vắng khách, anh thường leo lên xe tựa càng bên gốc cây hoa phượng trước nhà ông bà chủ của chị, nằm lim dim chờ khách, chị đi ra đi vô, hai người quen nhau, yêu nhau, rồi ước hẹn chuyện vợ chồng. Bỗng một hôm, tự nhiên anh đi đâu biệt vô âm tín, chị chỉ biết thở ngắn thở dài. Măi sau mới có tin nhắn, anh bỏ chị chạy lấy người, v́ hoạt động bí mật bị lộ, được điều đi chiến khu. Th́ ra thế, chị đă bắt anh B́nh tôi làm con gà rù, để trở lại chốn xưa, đi t́m người về từ chiến khu. Nếu cuộc chiến có hậu,  mối t́nh của chị và “anh ấy” đẹp biết bao !   

 

          Trả anh tôi lại trường, chị Quỳnh dẫn tôi về lại Ninh Ḥa. Buổi tối, Cô Đỡ bận việc trong nhà Bảo Sanh, trong nhà đă có người giúp việc mới, chị vẫn quấn quít với 2 đứa trẻ cho tới khi chúng ngủ say. Tới khuya chị bảo tôi đi ngủ, lần đầu tiên chị ngủ cùng giường với tôi, chị rấm rức khóc, chị lấy tay tôi quyệt nước mắt chị. Tôi thương chị vô cùng, nhưng tệ thật, sao tôi không khóc với chị, không những thế, tiếng khóc rấm rức của chị như lời ru đưa tôi thiếp vào giấc ngủ. Sáng thức dậy, chị Quỳnh của tôi đă đi rồi….Tôi không khóc được với chị đêm chia tay, chị đi rồi tôi mới thấy hụt hững. Những ngày nối tiếp thật buồn tẻ. Cả tháng, tôi không thiết ǵ ăn uống. Buồn nhất là mỗi sáng thức dậy, h́nh ảnh chị ̣a đến đầu tiên, chị Quỳnh không c̣n bên tôi nữa. Buổi chiều càng buồn da diết, không có chị Quỳnh đưa đi tắm. Đi học, qua cầu, 4 lần nh́n nước sông Dinh, bóng dáng chị lại chập chờn. Mấy tháng qua đi, mẹ tôi dọn nhà vô Sài G̣n, sau khi gởi tôi vào trường Kim Yến với anh tôi, tới hết niên học. Tôi chia tay Ninh Ḥa từ dạo ấy…

 

       Trong nỗi nhớ Ninh Ḥa, có cả con đỉa bị chị Quỳnh bôi vôi, chỉ có vôi mới đuổi được đỉa. Tôi gọi những kỷ niệm Ninh Ḥa của tôi cũng là một lũ đỉa, loại đỉa không hút máu mà chỉ bám chặt lấy tôi măi măi, không cách chi gỡ được. Tôi không thích là vôi, bạc bẽo lắm. Không phải là vôi, không bạc như vôi, làm sao tôi giết được cái lũ đỉa kia, lũ đỉa tôi gọi Đỉa Ninh Ḥa. Nói như thế, đủ biết tôi đă sâu đậm với Ninh Ḥa như thế nào. Thế mà mới đây có dịp về Việt Nam, tôi đă không thể nhín được dù chỉ 1 ngày cho Ninh Ḥa, cứ tiếc măi. Nhưng bù lại, tôi đă về thăm quê tôi tận miền Bắc.

 

      Thế này, hồi tháng 11-2008, tôi có chút việc cần về Việt Nam, 12 ngày. Tôi dự trù dành 4 ngày ra Bắc thăm quê cũ, và 2 ngày đi Ninh Ḥa, nhưng v́ tiêu xài không chừng mực nên hết tiền đi Ninh Ḥa, đành hẹn Ninh Ḥa lần khác, không biết đến bao giờ.

 

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có sông sâu lơ lững vườn quanh, êm suôi về Nam. Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau, bóng tre ru êm mấy hàng cau, đồng quê mơ màng. Nhưng than ôi…”. (Chung Quân)

 

       Làng xưa của tôi y chang như như vậy đó, cũng cây đa cao ngất, cũng ḍng sông lượn lờ quanh những đồng lúa vườn dâu, những mái tranh nghèo, hàng cau, lũy tre xanh ... Bên đây sông, ngày 4 lần nhà thờ “kính coong” đổ hồi, réo gọi đàn chiên. Chiều tới, thật xa từ bên kia, tiếng chuông chùa ngân nga vang vọng lúc đàn trâu mệt mỏi về chuồng, buồn buồn, mà êm êm.

 

      Ai được trở lại thăm vùng đất xưa mà ḷng không xúc động bùi ngùi, nhất là đối với tôi, ngày xa quê khi răng cái mọc cái chưa, nay trở lại th́ răng c̣n răng mất. Vâng, xúc động lắm. Không thể tả được, chỉ biết nói thế. Khi xe chờ phà qua con sông Đáy trên đất Nam Định, bờ bên kia là đất Ninh B́nh có quê tôi, tôi mường tượng đủ điều. Qua phà vài cây số, có con sông đào đang chờ, dẫn tôi về làng. Và đúng thế, con sông vẫn kiên nhẫn chờ tôi hơn nửa thế kỷ. Đường về quê vẫn như hồi nào trong trí tưởng. Từ trên xe, nh́n những cánh đồng 2 bên bờ sông nhỏ,  dân quê tôi vẫn sống kiếp mặt cắm đất mông chổng trời, vẫn cái cầy có con trâu đi trước. Tôi hít thở thật mạnh hơi hướng quê xưa. Qua cánh đồng trống, làng tôi mờ mờ phía trước như thuở nào, trông im ĺm hiu quạnh. Câu thơ Tiền Chiến của ai đó lướt qua :

 

Làng tôi đấy hon tiêu điều quạnh quẽ

Trông im ĺm như một nấm mồ ma

 

        Về tới làng, loay hoay một hồi, tôi cũng hỏi thăm gặp được một người đàn bà tên Lài, có họ xa và ít hơn tôi vài tuổi, một người khác là một ông cụ tên Phiết, đă 84 tuổi nhưng c̣n nhanh nhẹn. Ông Phiết biết hết mọi người họ hàng nhà tôi. Hai người này đă hướng dẫn tôi đến những nơi tôi muốn tới. Trong làng, cảnh vật trái ngược hẳn với tưởng tượng, những cái mà tôi nghĩ vẫn c̣n th́ không c̣n nữa, trong khi những ǵ lẽ ra phải biến mất th́ lại c̣n nguyên si.

 

       Cây đa trăm năm bến cũ đă đi đâu mất rồi, hỏi ra, nó bị chặt hết chân tay, bị banh da xẻ thịt. Chết. Theo lời kể, qua nhiều mùa Đông giá lạnh, rễ bị chặt, vỏ bị lột dần để làm củi và sưởi ấm, cuối cùng th́ người ta đă hạ xuống xẻ gỗ. C̣n cái đ́nh làng, có từ thời cụ Nguyễn Công Trứ làm Dinh Điền Sứ, những tưởng ngàn năm sau vẫn được giữ ǵn, cũng đă bị phá ra lấy gạch và gỗ quí dùng cho việc công ích ! Trong khi đó, dấu vết chiếc cầu Đá, bị du kích giật sập từ thời Tây, vẫn bừa bộn nguyên vẹn. Tôi c̣n nhớ, khi bỏ làng ra đi, một chiếc cầu ván thay thế cầu đá, cây cột cầu bằng đá được kéo lên bờ, bây giờ vẫn ở vị trí đó, những mảng vụn vỡ ra từ cầu vẫn nằm chỗ cũ. Đi sâu vào trong, khỏi bờ sông khoảng vài trăm mét, là ngôi nhà thờ nhỏ trúng đạn Tây, đă được dỡ bỏ hồi nảo hồi nao, nhưng vẫn để lại cái nền ngổn ngang gạch vữa. Tôi c̣n đang ngẩn ngơ với những h́nh ảnh cũ mới, chợt có tiếng cụ Phiết, “Gạch vụn có ǵ mà xem, c̣n đi chỗ khác nữa, tối đến nơi rồi.”.

 

       Ra khỏi nền gạch vụn chưa bao xa, thấy một “cái miếu”, tôi hỏi miếu thờ ai mà lớn thế, cụ Phiết bảo, “miếu đâu mà miếu, nhà bà Hải đấy.”. Nhà ǵ mà kỳ cục vậy, tôi đứng thẳng, mái nhà chỉ ngang cằm, cúi hẳn người xuống mới ló được cái đầu nh́n vào trong “nhà”. Bên trong, rộng mỗi bề khoảng 2m, đủ kê một chiếc chơng tre làm giường, c̣n trống một khoảng là nơi chứa đựng gia tài của chủ nhà, gồm vài cái nồi niêu bên góc trái cửa ra vào, bên phải là chiếc kệ nhỏ để mấy cái chai lọ, dưới gầm chơng có một cái rương nhỏ bằng tôn sơn đỏ và mấy cái bị cói. Bên ngoài, sát cạnh cửa, là cái lu sành đựng nước. Sát hông trái “căn nhà”, một mái hiên lợp rạ kéo từ trên chếch sát xuống đất, làm nơi nấu nướng, khi bếp có lửa, một cơn gió có thể thiêu rụi căn nhà.

 

       Bà Lài chỉ cho tôi thấy bà cụ Hải, đang lê một sô nước nhỏ từ giếng, cách khoảng mươi mét, để đổ vào cái lu sành trước cửa. Cái sô nhỏ bằng nhựa, cỡ vài lít, không biết bao lâu nước mới đầy lu, v́ nước trong sô cứ vơi dần theo từng bước lê của cụ. Thấy tội nghiệp, tôi giúp cụ múc đổ đầy lu nước. Tay chân bà Hải run lẩy bẩy, mặt mũi nhăn nhúm, lưng c̣ng gần song song mặt đất, lúc đầu tôi đoán khoảng 90, sau mới biết chỉ có 75 tuổi. Bà sống cu ky một ḿnh, không con không cháu, mỗi gia đ́nh trong thôn cho bà mỗi tháng 1 lon gạo, cũng đủ cơm ăn; làng xă cũng quan tâm cho cụ tiền già 60 ngàn một tháng, xây cho căn nhà tuy bé như cái miếu, nhưng cũng đủ ở. Tôi ṃ túi lấy ra 2 tờ 50 ngàn biếu, bà cụ run rẩy chắp 2 tay vái lia lịa, tôi vội vàng vái lại rồi rảo bước đi khỏi. Cảm thấy bà Lài là người thật thà tốt bụng, tôi đưa cho bà Lài 100 đô nhờ hôm sau mua mùng mền áo ấm cho bà cụ Hải, số tiền c̣n lại th́ mướn người làm cho cụ một cái bếp bằng gạch để tránh hỏa hoạn. Ngoài ra, tôi đưa thêm 200 đô và nhờ bà Lài nuôi cơm cụ Hải 1 năm, bà cụ ăn không bao nhiêu, mỗi bữa nhín cho bà một chút, tôi hứa năm sau nếu có tiền tôi sẽ gởi nữa. Buổi tối cụ Phiết mời ăn cơm, măi quá nửa đêm mới về tới khách sạn Thúy Anh ở thị trấn Ninh B́nh, anh tài xế vẫn vui vẻ, không cằn nhằn một tiếng.

 

       Theo cụ Phiết, bà Hải người ở “măi đẩu măi đâu”, thời Mỹ đánh bom bà sơ tán về làng này, gặp anh Hải thương binh một chân mắt chột, 2 người lấy nhau, bà Hải ở lại quê chồng luôn. Khi chưa có vợ, ông Hải ở với bà mẹ, nhà chỉ có 2 mẹ con. Lấy vợ rồi, mẹ con ông Hải tươi tỉnh hẳn lên, bà Hải đảm đang quán xuyến mọi việc trong nhà. Ở với nhau được mấy năm, một sớm thức dậy, bà Hải ra ao lấy nước xóc gạo rửa rau, thấy chồng thắt cổ chết lủng lẳng trên cành Gáo sát bờ ao. Chồng chết, bà Hải vẫn lo cho mẹ chồng thêm cả chục năm, tới khi bà mẹ chồng chết. Mười mấy năm trước, bà Hải bị ốm thập tử nhất sinh, phải cầm cố căn nhà mẹ chồng để lại, lấy tiền đi chữa bệnh trên thành phố. Sau cùng, bà phải bán nhà lấy tiền trả nợ. Tiền bán nhà được 8 chỉ vàng, trả nợ 2 chỉ, c̣n 6 chỉ gởi người cho bà ở nhờ, được hơn năm, người cho ở nhờ bán nhà đi Nam, quịt luôn 6 chỉ của bà. Thế là bà mất trắng, bà phải ở nhờ nay nhà này mai nha khác, măi mấy năm sau mới được làng xă xây cho căn nhà t́nh nghĩa, rồi sau đó nhiều năm mới được 60 ngàn tiền già neo đơn. Biết được chuyện đời bà Hải, tôi thấy trong ḷng thật nhẹ nhàng, thật hạnh phúc, khi phải bấm bụng hy sinh mấy trăm đô-la lo cho bà, v́ tôi cũng đâu có dư tiền lắm của ǵ cho cam. Chỉ có điều đáng tiếc cho bà,  ông Hải chết đi chẳng để lại cho bà lấy một mụn con mà nương tựa tuổi già.

 

      Tôi về lại Mỹ dịp Lễ Tạ Ơn, 2008. Măi tới chiều ngày cuối cùng của tháng 12, anh tôi mới tới thăm, để nghe kể kỹ về chuyến thăm làng xưa. Hai anh em vừa lai rai ly rượu đỏ, vừa nhớ lại thơ ấu. Tôi nhắc lại chuyện giúp bà Hải. Anh tôi vẫn bảo, túi tôi lúc nào cũng rỗng v́ tánh “thương người bốc đồng”, có khi anh bảo tôi tánh hay tin người dễ bị lừa, nhưng lần này lại nói, “Chuyện bà Hải, lần tới chú để tôi.”. Tôi cũng kể với anh, ngoài bà Hải, tôi cũng gặp mấy trường hợp khác, nên không c̣n tiền để đi Ninh Ḥa, anh nói Ninh Ḥa có ǵ mà đi. Anh tôi học ở Nha Trang, chỉ ở Ninh Ḥa ngày cuối tuần, không có ǵ với NH là đúng rồi, c̣n tôi th́ khác chứ. Nhắc tới Ninh Ḥa, chúng tôi lại nhắc đến chị Quỳnh. Anh tôi kể những kỷ niêm của anh với chị Quỳnh. Chúng tôi đều thương chị. Giá mà lúc ây, chị chịu lấy anh B́nh, th́ bây giờ hạnh phúc quá; mất chị, tôi mất luôn cả anh B́nh, v́ sau đó vài năm anh B́nh đ̣i lấy một cô gái giang hồ làm vợ, bố mẹ tôi quyết liệt phản đối, anh B́nh trốn khỏi nhà, đi biệt tăm với người đó từ dạo ấy.

      Hai anh em nói hoài về chị Quỳnh mà không chán. Cũng như những lần trước, mỗi khi nói về chị Quỳnh, anh tỏ ra rất ân hận, là đă không có mặt kịp để tiễn chị Quỳnh tại bến tàu hôm ấy, v́ khi anh tôi tới nơi th́ đă trễ, xuống tàu rồi.Tôi hỏi, anh có bao giờ nghe chị Quỳnh kể về “anh ấy” không, anh hỏi anh ấy là ai, tôi bảo là người yêu của Quỳnh, người mà chị đă về lại Bắc để đi t́m chứ c̣n ai nữa. Anh tôi À một cái, kể sơ sơ. Anh kể lại chút đỉnh, vô t́nh anh nói tên “người ấy” của chị Quỳnh là Hải, tôi bỗng liên tưởng đến bà Hải già neo đơn, lại chợt nhớ ông Phiết có nói, ông Hải trước khi đi kháng chiến làm nghề kéo xe ở Hà Nội. Chả lẽ “người ấy” là “ ông thương binh chân cụt một mắt”. Chả lẽ chị Quỳnh “đẹp như con gái nhà giầu” của tôi, lại là bà già neo đơn, lưng c̣ng, mặt nhăn nhúm như người 90, đó sao ? Người tôi lặng đi, nét mặt tôi chắc thay đổi nhiều, anh tôi hoảng hốt, “Chú sao vậy, có sao không.”…

 

 

Phạm Văn Thịnh
(Chandler, AZ, tuần đầu năm 2009).
 

 

       

 

 

 

 

 

 

Trang XUÂN 2009- Văn Học Nghệ Thuật Và Quê Hương