|
|
|

Mục Lục
Trang
Bìa
Ban
Biên Tập
Lá
Thư
Xuân
Ban
Biên Tập
Thư
Đầu
Năm
Lương
Lệ Huyền Chiêu
Sớ
Táo
Quân
Ban
Biên Tập
Khai
Bút Đầu Xuân
Du
Sơn Lãng
Tử
Hình
Ảnh
Xuân
- Xứ
Ninh
Sử
Xương Hải
-
Lê
Thị
Lộc
Đọc
Truyện
Ngâm
Thơ
Đọc
Lá Thư Đầu
Năm
Võ
Thị Nguyên
Đọc
Truyện/Thơ
Thu
Phương
Ngâm
Thơ
Thi
Thi
Ca
Hát
Tiếng
Hát:
Huyền Chiêu
- Thu
Thủy
Thu
Phương
- Minh
Nguyệt
Văn
Hóa
Ẩm
Thực
Nghe
Những
Tàn
Phai
-
Bánh
Tro
Đặng
Trùng
Dương
Bánh
Bông
Lan
Mặn
Hải
Lộc
Thịt
Đầu
Heo
Ngâm
Dấm
Đường
Hải
Lộc
Bò
Kho
Cà
Rốt
Châu
Thị
Thanh
Mận
Năm Đinh Hợi
Kể Chuyện Heo
Chú
Heo
Con
Đầu
Lòng
Phùng
Thị
Phượng
Tôi
Làm
Mụ
NhàQuê
Tản
Mạn
Về Năm Đinh
Hợi
Nguyễn
Văn
Thành
Dù
Nắng
Có
Mong
Manh
Nguyễn Thị Thu
Nhớ
Nhà Một
Chiều
Cuối Năm
Nguyễn Thục
Tết
Đinh
Hợi
- 2007
Linh Vũ
Kinh
Nghiệm
Sống
Bên
Bờ
Tuyệt Vọng
Tâm
Đoan
Du
Lịch
Việt
Nam
Sau
30
Năm
Lìa Xa
Phan Thanh
Tâm
Tranh
Hình
Ảnh
Hình
Chụp
Nghệ
Thuật
Mục
Đồng
Tranh
Nghệ
Thuật
Hoàng
Tiên
Hình
Chụp
Nghệ
Thuật
Hoàng
Tiên
Hình
Ảnh
Ninh
Hòa
Sử
Xương
Hải
Ảnh
Đời
Sống Loài
Heo
Hải
Lộc
Chuyện Đó
Đây
Tết
Với
Tiết
! Đối
Với
Điếc
!
Lê
Anh
Dũng
Bệnh
Thất
Tình
Nguyễn
Phan
Lê
Sớ
Táo
Quân
Trần
Thị
Nghệ
Huyền
Trân
Công
Chúa-5
Trương
Thanh
Sơn
Cây
Ở
Quê
Tôi
Trương
Tiếp
Trương
Kịch
Cô
Gái
Lười
Biếng
Lương
Lệ
Huyền
Chiêu
Vui
Cười
Thiên
Bồng
Nguyên
Soái
Nguyễn
Phan Lê
Say
(2)
Lê
Lai
Say
Lê
Quốc
Vài Câu
Chuyện
Vui
Nguyễn
Văn Xê
Sưu
Tầm
10
Bức
Thư
Pháp
Của
Tàn Mộng Tử
Mục
Đồng
Nghệ
Thuật
Trà
Đạo
Qua
Tranh
Mục
Đồng
Ăn
Uống
Vì
Sức
Khỏe
Việt
Hải
Tử
Vi
Lý
Số Đông
Phương
Việt
Hải
Sống
Lâu
Trăm
Tuổi
Vinh
Hồ
Lời Hay
Ý
Đẹp
Nguyễn
Phước
Sơn
Aloe
Vera
Thi
Thi
Tập
Thở
Dưỡng
Sinh
Đoàn
Thủy
Tiên
Sức
Khỏe
Viêm
Và
Loét
Dạ
Dày
Do
Vi
Khuẩn
HELICOBACTER
PYLORI
BS Nguyễn
Vĩ
Liệt
Viết
về
ninh-hoa.com
Thư
Đầu
Năm
Lương
Lệ Huyền Chiêu
Ủn
Ơi
Chào Mi
Lê
Anh
Dũng
Chúc
Mừng
Xuân Đinh
Hợi
Hải
Lộc
Vài
Nét
Viết Về
Ninh-Hòa.com
Thi Thi
Mừng
Sinh Nhật
Tròn 4 Tuổi
Hà
Thị
Thu
Thủy
Cảm
Nghĩ
Về
Ninh-Hòa.com
Hoàng Tiên
Vài
Cảm
Nghĩ
Về
WEB
Ninh-Hòa.com
Người
Xứ
Vạn
Biên
Khảo
Kinh
Tế
Tổng
Kết
Kinh
Tế
Việt
Nam
Trong
10
Năm
Qua
Nguyễn
Văn
Thành
Ảnh
Hưởng
của Hội
Nghị
Thượng
Đỉnh
APEC
2006
Vào
Nền
Kinh
Tế
Việt
Nam
Nguyễn
Văn
Thành
Sự
Gia Nhập
Tổ Chức
Thương Mại
WTO của
Việt
Nam
Nguyễn
Văn
Thành
Dow
Jones
Nguyễn
Văn
Thành
Tập
Tục
Việt
Cầm,
Kỳ,
Thi,
Tửu
- Tứ
Thú
Phong
Lưu
Của
Người
Việt
Thu
Phương
Tiếng
Việt
Kỳ
Diệu
Qua
Cái
Nhìn
Của
Nhà
Văn
Võ
Phiến
và GS
Duyên
Hạc
Lê
Thái
Ất
Người Xứ Vạn
Thơ
Vó
Câu
!
Lê Tâm
Anh
Nhớ
Mai
Ngày
Xuân
Huy
Bạch
Xuân
" Bát
Giới
"
Huy
Bạch
Xuân
Đợi
Nguyễn ThịThanh
Bình
Lợn
Nhà
Thanh
Bình
Xuân
Về
Trần
Ngọc
Chánh
Bài
Thơ
Cáo
Tật
Thị
Chúng
Mục
Đồng
Chờ...
Trần
Minh
Hiền
Như
Gió
Mưa
Rơi
Bên
Thềm
Ký
Ức
Trần
Minh
Hiền
Hương
Yêu
Mỹ
Hiệp
Mai
Tường
Hoài
Năm
Hợi
Chúc
Tết
Quý
Ông
Quý
Bà
Vinh
Hồ
Hiu
Hắt
Tàn
Đông
Nam
Kha
Tình
Xuân
Nguyễn
Đăng
Khoa
Đoản
Khúc Xuân
-2
Lê
Lai
Lòng
Xuân
Phan
Long
Một
Xuân
Buồn
Trần
Thị
Nết
Lá
Hát
Với
Hồ
Fallen
Leaf
Trần
Thị
Minh
Nguyệt
Say
Thu
Phương
Tình
Thơ
Tháng
Giêng
Bích
Phượng
Chào
Tái
Ngộ Khánh
Hòa
NhàQuê
Cuộc Hẹn
Mười
Năm
Giờ
Giao
Thừa
NhàQuê
Tìm
Về
Giêng
Hai
Đỗ
Công
Quý
Mùa
Xuân
Về
Tôn
Thất Phú
Sĩ
Tình
Ấm
Mùa
Đông
Dương
Anh
Sơn
Sen
Nở
Mùa
Xuân
Dương
Anh
Sơn
Ả
Lợn Mừng
Xuân
Du
Sơn - Lãng
Tử
Chúc
Mừng
Xuân
Du
Sơn - Lãng
Tử
Hội
Xuân
Du
Sơn - Lãng
Tử
Xuân
Đất
Khách
Nhớ Xuân
Quê
Hương
Nguyễn
Văn
Thành
Mùa
Xuân
Trong
Ký
Ức
Thu
Thảo
Xuân
Tha
Hương
Thi
Thi
Bài
Thơ
Cho
Anh
Phan
Thị
Hương
Thu
Nhớ Xuân
Xưa
Đoàn
Thủy Tiên
Ngày Xuân Mới
Hoàng
Tiên
Xuân
Viễn
Xứ
Ngô
Trưởng
Tiến
Tết
Xứ
Người
Nguyễn
Tính
Ngậm
Ngùi
Nguyễn
Thị
Tri
Anh
Có
Về
Ăn
Tết
???
Nguyễn
Thị
Thanh
Trí
Tết
Nghèo
Nguyễn
Thị
Thanh
Trí
Xuân
Phạm
Trị
Tình
Xưa
Hai
Xóm
Nguyễn
Thanh
Ty
Đón
Xuân
Bên
Em
Tiểu
Vũ
Vi
Xuân
Vẫn
Có
Em
Tiểu
Vũ
Vi
Dốc
Lết
Niềm
Đau
Anh
Vũ
Nếu
Anh
Có
Về
Anh
Vũ
Không
Em
Mất
Cả Mùa
Xuân
Linh
Vũ
Văn
Mùa Yêu
Thương
Lương
Lệ
Huyền
Chiêu
Tết Ở
Ninh
Hòa
Lương
Lệ
Huyền
Chiêu
Thêm
Tuổi
Mới
Mục
Đồng
Bánh
Căn
Ninh
Hòa
Việt
Hải
Xuôi
Sông
Vàm
Cỏ
Việt
Hải
Hương
Mai
Huỳnh
Trịnh Tuyết
Hoa
Nàng
Xuân -
Bạn - Vợ
-
Người
Tình
Đào
Vũ Anh
Hùng
Xuân
Và
Tết
Đào
Vũ Anh
Hùng
Cali... Ngày
Tái Ngộ
Ái
Khanh
Tản Mạn
Ngày Xuân
Ái
Khanh
Món Quà
Magi
Lê
Lai
Cảm
Nghĩ
Về
Đời Người
Và
Niềm Mơ
Ước
Hải
Lộc
Em Gái
Tôi
Nguyễn
Dzuy Nam
Một
Chút Gì Xuân
Trần
Thị Nết
Những
Cánh Hoa
Màu Tím
Nguyễn
Trọng Nhân
Đầu Năm
Đinh Hợi Nhớ
Một
Bài Thơ
Xưa của Lý
Bạch
Phạm
Tín An
Ninh
Mùa
Xuân
Chuyện
Tơ
Hồng
Đặng
Thị Ngọc
Nữ
Tâm Sự
Đầu
Xuân
Với
Đức
Linh
Hoàng
Tiên - Phi
Ròm
Mình
Ơi !
Tiểu
Thu
Một
Mùa
Xuân
Hai
Nỗi
Nhớ
Phan
Đông Thức
Biết Được
Người
Bạn
Qua
Ninh-hoa.com
Nguyễn
Tính
Vui
Xuân
Với
Ninh-hoa.com
Nguyễn
Tính
Má Tôi
Nguyễn
Thị
Thanh
Trí
Viết Về
Những Người Bạn
Nguyễn
Văn
Xê
|
T rong xã hội ta,
với quan niệm thật khắc khe về phái nữ thì dường như làm lụng là phần của
đàn bà, còn ăn chơi là chuyện của đàn ông. Nói vậy kể cũng hơi ngoa, nhưng
sự thật đàn ông có nhiều thú tiêu khiển hơn đàn bà, và những thú tiêu
khiển của đàn ông, đàn bà thường ít khi được tham dự.
G ọi là những trò tiêu khiển không phải là những thú
chơi dân giả của cả mọi giới, mà đây chỉ là những thú phong lưu của những
người khá giả, nhất là của đàn ông. Về các thú tiêu khiển có thể kể là:
Cầm, Kỳ, Thi, Tửu là bốn thứ chính. Hiểu được thú tao nhã này, Nguyễn công
Trứ chúng ta chẳng viết:
Cầm, Kỳ, Thi, Tửu
Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay
Đàn năm cung réo rắt tính tình đây
Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó
Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ
Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà
C ầm:
C ầm chính là tên của một cây đàn, cây đàn này ngày xưa
có năm dây và từ từ cung bậc thay đổi nên ngày nay có bảy dây. Ta dùng
danh từ Cầm để
chỉ thú tiêu khiển chơi đàn. Và gẩy đàn là một lối chơi thanh nhã mà chúng
ta có thể chơi một mình hoặc hợp tấu với bạn bè. Đàn có nhiều thứ, những
thứ ta thường thấy là đàn tranh, đàn nguyệt, đàn bầu, đàn tam, đàn tỳ bà
hoặc đàn dương cầm...
Gọi là chơi đàn, nhưng phải nói là gồm những nhạc khí
khác có thể phát ra âm thanh êm ái hòa hợp được với nhau để có thể diễn tả
được tình cảm vui, buồn. Muốn điều hòa âm thanh lẽ tất nhiên chúng ta phải
dùng nhạc khí, một hoặc nhiều thứ để phát ra những tiếng êm ái thỏa mãn
thính giác của mọi người, người nghe cũng như người diễn tả.
Trong những lúc thư nhàn, những đêm khuya thanh vắng,
trước cảnh yên lặng mùi hương đêm ngào ngạt, cảm hứng sinh tình, một khúc
đàn gẩy lên để hòa hợp tâm tư với hoàn cảnh, tưởng không còn thú vị nào
hơn. Hay những lúc buồn bã một mình, tiếng đàn thánh thót giải muộn, tiêu
cơn sầu, đem lại cho con ngưòi niềm hứng khởi và cảm thấy yêu đời hơn.
Hoặc để cho nỗi buồn thả theo đường tơ, tiếng đàn sẽ làm cho tâm hồn lắng
dịu. Những âm thanh trầm bổng sẽ đưa hồn người trong phút chốc về một bến
mơ nào đó...
Cũng như bất cứ dân tộc nào, người Việt Nam chúng ta có
âm nhạc riêng, tuy có mượn nhiều nhạc khí của người Trung Hoa nhưng chúng
ta đã Việt Nam hóa những nhạc khí này cũng như thú chơi âm nhạc.
T rong các nhạc khí ta thường dùng có cây độc huyền cầm
tức là đàn bầu, là cây đàn độc đáo của Việt Nam so với bất cứ một quốc gia
nào. Cây đàn này được chế hóa một cách hết sức giản dị. Đàn chỉ có một dây,
do đó mà người ta gọi là độc huyền cầm. Căng thẳng trên trống đàn, một đầu
dây buộc chặt vào trống đàn, còn một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây
trụ này dùng để nhấn âm thanh mỗi khi gảy. Đàn không ngựa, không phím và
trên mặt trống đàn chỉ có ba vạch trắng chia đàn làm bốn cung thay vì năm
cung như các đàn khác. Đối với những nhạc sĩ thành thạo thì họ không cần
những vạch trắng kia. Trống đàn làm bằng một khúc gỗ đục rỗng thường cỡ
1m20 x 0,12 x 0,16. Tuy đàn chỉ có bốn cung nhưng mỗi cung có thể tạo ra
rất nhiều âm thanh và tiếng đàn nghe rất thiết tha, buồn buồn, một thứ
buồn êm ái quyến rũ, đôi khi đến não nùng dễ thấm lặng vào tâm hồn con
người.
Người xưa cho những bản nhạc của đàn bầu là tục nhạc,
là dâm thanh vì tiếng nhạc dễ gợi u hoài và tạo niềm sầu cảm cho nên ca
dao ta có câu:
Làm thân con gái chớ nghe
đàn bầu.
Đàn bà con gái bị cấm nghe đàn bầu chính vì sức quyến
rũ của những bản đàn gẩy nên. Đàn bầu khó hòa âm với đàn khác, thường chỉ
độc tấu, và chính vì độc tấu nên tiếng đàn như rền rỉ, than van nên sức
quyến rũ càng mạnh vì nỗi buồn thường dễ thấm lòng người.
Ta cũng ưa chơi hồ cầm còn gọi là đàn cò hay đàn nhị.
N hị cũng là một nhạc khí của Việt Nam, giống như vĩ cầm
của Tây phương, và sự phát thanh của nhị cũng giống như của vĩ cầm, không
phải gẩy vào dây đàn để tạo âm thanh mà dùng mã vĩ cọ sát vào giữa hai dây
nhị. Thùng nhị làm bằng một khối gỗ đục rỗng, mặt bịt bằng da trăn. Trên
trống thùng có gắn một phím gỗ. Cần nhị dài chừng nửa thước cắm chặt vào
thùng. Hai dây nhị buộc từ đầu cần tới phím nhị. Mã vĩ để kéo nhị bằng tóc
hay lông đuôi ngựa buộc vào một khung tre giống như chiếc cung. Dây mã vĩ
để giữa hai dây nhị và lúc chơi nhị ta gọi là kéo nhị. Âm thanh nhị được
rung mạnh trên phím.
M ột loại đàn nữa
cũng thường được xử dụng là đàn thập lục huyển, còn gọi là đàn tranh.
Đàn tranh làm bằng gỗ, đục rỗng lòng máng có 16 dây dài
ngắn và căng chùng theo nhu cầu của âm thanh. Những dây này được mắc ngang
trên những phím đàn. Lúc chơi đàn, dùng những móng sắt móc vào đầu ngón
tay, gẩy vào dây đàn. Tay trái nhấn trên các sợi dây để lấy âm thanh.
Ngoài đàn tranh chúng ta còn có đàn nguyệt.
Đàn nguyệt còn gọi là đàn cầm hoặc đàn kim, có thể so
sánh với đàn mandoline của Tây phương. Thùng đàn nguyệt hình tròn và hoàn
toàn kín, âm thanh điều hòa do thùng đàn. Trong thùng có một miếng kim khí
hình xoắn trôn ốc, chu vi thùng đàn chừng 36 phân. Hai mặt thùng được gắn
liền bởi những miếng sắt độ 4 phân. Cần đàn dài khoảng 65 phân và có 8
phím. Đàn có thể có hai hoặc bốn dây. Người chơi đàn có nghệ thuât cao chỉ
cần hai dây. Mỗi phím có bốn thanh cao, thấp tùy theo tay rung mạnh hay
yếu trên dây. Đàn nguyệt có những biến âm rất êm ái và quyến rũ. Những
nhạc khí này hiện nay vẫn còn được sử dụng trong những buổi hòa nhạc đôi
khi bên cạnh những nhạc khí Tây phương trong những bản cổ kim hòa điệu.
Kỳ:
Kỳ là thú chơi cờ. Cờ là một thú giải trí thanh cao, tao nhã và mỗi ván cờ
là một cuộc đấu trí gay go mà người chơi phải suy nghĩ rất nhiều.
X ưa nay trong các môn cờ bạc, người chơi đều tính đến
chuyện ăn thua. Các con bạc không thể thấy có hứng chí khi đánh bạc không
ăn tiền. Duy chỉ có chơi cờ là các đấu viên không cần đặt tiền cũng ham mê
thích thú. Ở Việt Nam ta có môn cờ tướng được ham chuộng nhất, kẻ sang
người hèn phần nhiều đều biết qua. Giải trí bằng cờ tướng là giải trí một
cách lành mạnh qua một trò chơi thuần túy Á Đông.
Có thể nói rằng chơi cờ tướng là điều khiển một trận
chiến tranh giả cuộc giữa hai quốc gia, tượng trưng có tướng, sĩ, tượng,
xe, pháo, mã và tốt. Người đánh cờ là vị Tổng Tham Mưu chỉ huy ba quân,
dàn mặt trận, công thủ tiến thoái tùy theo cơ mưu của mình, dùng trăm
phương nghìn kế để tạo nên những thế cờ hiểm hóc khiến cho đối phương đi
vào nước bí không phản công được, không giải cứu được. Phục kích có, truy
kích có, cản địch có. Hai bên chơi cờ phải sáng suốt tính trước từ nhiều
nước. Bên nào kém sẽ lâm vào thế bị động, cờ đi nước một, luôn luôn bị tấn
công và luôn luôn phải phòng giữ, không còn lúc rảnh rỗi để công hãm địch
quân.
M ột nước chiếu tướng như một trận đánh thành. Gỡ một
nước cờ bí, chuyển thắng thành bại như một cuộc phản công có cơ mưu. Ta
thường nói:
Bị phải nước mưa ướt sũng, nặng trình trịch
thì cờ phải nước bí, người chơi cờ cũng cảm thấy nặng nề như vậy.
M ột bộ cờ tướng
chỉ có 32 quân, mỗi bên 16 quân gồm một tướng, hai sĩ, hai tượng, hai xe,
hai pháo, hai mã và năm tốt. Vậy mà cuộc đấu trí tạo nên hàng vạn, hàng
triệu thế cờ khác nhau. Có bàn cờ, có quân cờ, hai tay danh kỳ hoặc một
đôi bạn hữu ưa cờ gặp nhau là có thể có một cuộc xuất trận đấu trí. Lúc có
cuộc giao đấu các quân cờ di chuyển theo lệnh của người chơi cờ. Cờ tướng
tuy chỉ là một môn tiêu khiển nhưng chính ra là cả một nghệ thuật. Chơi cờ
có luật lệ về các lối đi của các quân cờ như mã nhật, tượng điền, xe liền,
pháo cách, tướng không xuất khỏi cung, sĩ đi chéo, tốt qua sông tiến không
lùi và ở đất mình không được đi ngang. Thường khi hai đấu thủ đối cuộc
những nưóc cờ của họ chơi có thể ghi chép lại trọn nguyên bàn. Trong làng
cờ Việt Nam từ xưa tới nay thường đã có những danh thủ cờ tướng dày công
nghiên cứu học thuật tượng kỳ với những thế hiểm hóc khiến những hảo kỳ
thủ ngọai quốc cũng phải ngợi khen.
N gày xưa, dưới đời vua Trần Dụ Tôn (1311-1369) nước ta
đang ở trong thời kỳ bị nước Tàu dòm ngó muốn xâm lăng. Vua Tàu sai sứ giả
sang nước ta để thách đố đánh cờ với vua Dụ Tôn. Vua Dụ Tôn không dám từ
chối nhưng thật tình rất lo ngại. Nhà vua sai đi tìm người tài giỏi để đấu
cờ với sứ Tàu. Khi ấy ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An có ông Vũ Huyền là
một hảo thủ tượng kỳ. Ông Vũ Huyền vào yết kiến vua, cam đoan giúp nhà vua
thắng sứ Tàu, nhưng cuộc cờ phải bắt đầu vào đúng ngọ và xin nhà vua cho
Vũ Huyền được dự hầu cận trong lúc đánh cờ.
Cờ chơi ở ngoài trời, kẻ hầu cận phải che lọng cho vua
và sứ giả Trung Hoa. Lọng Vũ Huyền che cho nhà Vua đã dùi thủng một lổ để
ánh sáng mặt trời lọt qua Vua cứ theo tia nắng ở lọng chiếu xuống mà đi cờ
nên đã thắng sứ giả Trung Hoa. Nhờ sự thắng cờ này, Trung Hoa cho nhà vua
là người tài giỏi và không dám gây cuộc binh đao với nước ta nữa.
Nói về cờ thì chúng ta có rất nhiều loại cờ khác nhau
nhưng môn cờ mà nhiều ngưòi thích chơi nhất vẫn là cờ tướng.
Thi:
M ột mình buồn bã
trông thấy cảnh tượng gì cũng xúc động, tình tứ, hoặc đi đến nơi đâu có
thắng cảnh hữu tình thì hạ bút làm thơ. Có khi trong một buổi họp mặt một
vài người bạn cùng xướng họa hay liên ngâm với nhau cũng là một cuộc vui
rất thanh nhã. Ngâm thơ và làm thơ là cái thú của người văn nhã.
Trước cảnh đẹp, lòng người thông cảm với thiên nhiên.
Trước một bầu trời buồn bã hợp với nỗi buồn riêng của mình. Một vài vần
thơ ngâm lên hợp người hợp cảnh nếu không làm cho nỗi buồn tiêu tan thì
cũng khiến cho người buồn
cảm thấy tâm tư lắng dịu và con người qua vần thơ như muốn cùng
thiên nhiên hòa điệu.
T hi là một môn tiêu khiển rất thanh tao, chỉ những
người có hồn thơ mới biết thưởng thức. Khi ngâm, lúc vịnh, gửi nỗi lòng
trong những vần thơ, hoặc mượn thơ người khác ngâm lên để tiêu giải nỗi u
hoài riêng của mình. Con ngưòi thơ đã tự tạo cho mình biết bao nhiêu thú
vị, biết bao hứng khởi, và với vần thơ nỗi sầu riêng càng man mác thì con
người sầu lại cảm thấy nỗi sầu như thiêng liêng quý báu.
Làm thơ gửi người tình, làm thơ ca ngợi cái đẹp của
thiên nhiên, làm thơ nói lên tâm tư hay nỗi lòng sầu úa của mình để vơi đi
thì đó cũng là một điều đáng quí, một thú tiêu khiển. Trong những lúc trà
dư tửu hậu, vui cùng anh em chén tạc chén thù, thơ có kẻ xướng người họa,
lại có lúc một đề thơ mỗi người làm vài câu để chung lại thành một bài thơ,
thú chơi thơ nhẹ nhàng và tao nhã biết bao!
Chơi thơ có nhiều lối và mỗi lối có một cái thú đặc
biệt riêng.
Họa thơ:
Một người làm một bài thơ tùy theo thể
loại như thất ngôn bát cú hay tứ tuyệt, hoặc có khi là một bài thơ lục bát
về một đề tài gì đó. Những người khác cũng theo đề tài họa nguyên văn bài
thơ, nghĩa là làm một bài thơ cùng với những vần người đầu tiên đã làm.
Người họa thơ có thể đồng ý hoặc phản ý người xướng thơ như bài thơ họa
dưới đây:
MỜI BẠN
Đưa đến thi gia mảnh giấy phong
Giấy còn trắng xóa tỏa màu trong
Cảnh bày tứ mỹ thơ vui tả
Chén đợi cao nhân rượu nhắp chung
Phép lạ Trường Phòng mong rút đất
Con thuyền Từ Chỉ cắm bên sông
Tử du hà tất xin đừng nhớ
Mong đến cùng nhau tả chữ đồng
T rúc Phong
BÀI HỌA
Cửa ngoài tiếp được bức thư phong
Vừa mở xem qua biết ý trong
Chén rượu đương chờ hâm đã nóng
Câu văn hãy đợi vịnh cùng chung
Cánh tiên ước được mà bay gió
Đường bộ mau hơn khỏi vượt sông
Đã nghĩa giao du đâu dám chối
Gửi lời về trước chú gia đồng
C hiêu Dương
L iên ngâm cũng là
một lối chơi thơ thú vị. Với một đầu đề, ba bốn người bạn thơ cùng nhau
ngâm vịnh mỗi người một câu cho thành bài thơ, câu nọ tiếp ý câu kia, toàn
bài không có sự mâu thuẫn và phải lột hết ý nghĩa của đề thơ. Nói đến chơi
thơ, chơi chữ chúng ta phải nói đến chơi câu đối.
C âu
đối:
Thường có hai vế đối nhau, mỗi bên cùng một số chữ. Những người hay chữ
thường hay dùng những câu đối để chúc mừng nhau, để viếng và đôi khi cũng
để mỉa mai nhau. Nhà nhà ngày Tết đến thường có dán câu đối đỏ ở hai bên
bàn thờ, ở nơi tiếp khách, ở các nơi thờ tự và ở cả ngoài cổng ngõ. Những
người chơi câu đối thường nhờ những người văn hay chữ tốt viết cho. Các
bậc đại khoa, các cụ đồ ngày xưa được nhiều người ưa chuộng nét chữ,
thường cầu cạnh xin cho bằng được đôi câu đối để về treo trong nhà, và cho
là một vinh dự. Mỗi khi tết đến, ta vẫn thấy các ông đồ mang giấy đỏ mực
tàu đến các góc phố viết các câu đối xuân để bán cho thiên hạ.
Khai bút đầu năm.
L ối chơi thi văn còn có thú khác như khai bút đầu năm.
Xuân mới đến, pháo nổ ran, trên bàn thờ khói hương nghi ngút, trong thư
phòng hoa nở mừng xuân. Nhà thơ kén giờ tốt, lấy bút mực viết bài thơ khai
bút trong đó gói ghém tâm niệm của mình hoặc tả tình tả cảnh. Lời thơ hay,
ý thơ đẹp, mảnh giấy trắng, mùi mực thơm hòa hợp với hoàn cảnh của Xuân,
của Tết. Nhà văn, nhà thơ ít ai bỏ được lệ khai bút. Làm bài thơ rồi ngâm
nga, rồi gửi bạn bè thật cũng là một điều hứng chí.
Dưới đây là một bài thơ khai bút của thi sĩ Đông Hồ gửi
cho Toan Ánh:
Xuân một lần thêm một đá vàng
Tuổi Xuân đầy đặn nguyệt tròn gương
Tơ giăng chỉ buộc bao khăng khít
Mực đậm son tươi mấy tỏ tường
Mây khói qua rồi, tan biến loạn
Cỏ hoa còn đó ngát văn chương
Bài thơ khai bút vần trinh trắng
Cánh thiếp đầu năm hẹn trễ tràng
Xuân tín lần lừa ngàn diệp thúy
Mai hoa e ấp nụ chân phương
Một cành xuân gửi nghìn trân trọng
Sứ dịch trao tay khéo mở đường
Đông Hồ
N goài các lối chơi
thơ văn kể trên, để tiêu khiển với thơ, với phú còn rất nhiều lối khác.
Nào thơ đố, thơ châm biếm lại còn lối đánh chữ thả thơ của các nhà nho xưa
cũng đầy thanh cao tao nhã. Một cụ chọn một bài cổ thi, thường là thơ tứ
tuyệt viết ra cả bài thơ rồi bỏ trống một chữ và cụ đưa ra ba bốn chữ có
thể điền vào chỗ trống đó. Người dự cuộc chọn lựa một chữ cho đúng với
nguyên văn. Lối đánh chữ thả thơ này chứng tỏ sự thâm bác sâu rộng, thông
cổ quán kim của những người dự cuộc. Chỉ rất tiếc phải dùng những bài thơ
Hán tự trong lối chơi này.
Các thi nhân xưa và nay lại còn thú làm thơ cho ca nhi
ngâm. Ca nhi ngâm, các cụ rung đùi nghe, nhấm nháp chén rượu thật là tuyệt.
Các cụ xưa còn làm sẵn những bài hát miễn phí, hát nói đến xóm cô đầu, bắt
cô đầu ca, các cụ đánh trống. Thật là phong lưu chí thú vậy.
N hiều thi nhân
chơi thơ cầu kỳ làm những bài thơ đọc xuôi cũng được, đọc ngược cũng xong.
Có những bài thơ khi đọc xuôi là chữ Hán, khi đọc ngược là chữ Nôm mới
thật tài tình. Dưới đây là một bài thơ của ông Vũ Duy Thanh đọc xuôi là
thơ chữ Hán, đọc ngược là thơ chữ Nôm, do Lãng Nhân sưu tầm trong Giai
Thoại Làng Nho.
Phong Hoa Tuyết Nguyệt
Thi đàn tế liễu lộng hoa hài
Khách bộ tùy sương ấn bích đài
Kỳ cục đả phong thanh áp trận
Tửu biều nghinh tuyết bạch hòa bôi
Sơ liêm thấu nguyệt hương ly cúc
Yến tịch lăng hoa vị át mai
Phi phất lĩnh đầu chiêm tĩnh điếm
Thi đàn tế liễu lộng hoa hài
T rên là đọc xuôi,
đọc theo Hán tự. Còn dưới đây là đọc ngược, đọc theo lối chữ Nôm:
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ
Điếm tạnh, xen đầu núi phất phơ
Mai át mùi hoa lừng tiệc yến
Cúc lìa hương nguyệt thấu rèm thưa
Chén hòa bạch tuyết nghiêng bầu rượu
Trận áp thanh phong đánh cuộc cờ
Rêu bước in sương theo bước khách
Giày hoa lỏng lẻo tới đàn thơ
N ghề chơi thật lắm
công phu ! Chơi thơ văn, chơi chữ càng nhiều công phu hơn nữa. Nhưng đó là
thú vui tao nhã của những người yêu thơ.
Tửu:
Thú tiêu khiển đứng sau thi là tửu, tửu là rượu. Thơ
thường đi với rượu. Và đã là thi sĩ ắt phải là tửu đồ.
Trăm năm thơ túi rượu hồ
Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai?
Tản Đà
N hững người buồn
bực vì cảnh nhà, bất đắc chí vì công danh thường lấy rượu để giải khuây;
các cụ già tuổi cao để qua ngày tháng cũng lấy chén rượu làm vui. Nếu có
người ngâm thơ rồi uống rượu, cũng lại có người:
Khi chén rượu, khi cuộc cờ,
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên !
Nguyễn Du
T heo phong tục người Trung Hoa hay người Việt Nam chúng
ta, muốn có một buổi trà ngon thì phải có ba người; và phải có bốn người
mới nên tiệc rượu. Bởi thế cho nên có câu: trà tam, rượu tứ. Cũng trong ý
nghĩa này, Nguyễn Khuyến chúng ta đã từng viết:
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Nguyễn Khuyến
N gười phong lưu
phải biết uống rượu, và con người lịch sự thì phải tửu tam bôi, nghĩa là
rượu ba chén.
B ạn bè gặp nhau, mượn chén rượu để trợ hứng, cùng nhau
bàn luận văn chương, ngâm thơ đọc phú. Và cũng trong cuộc rượu bạn bè
thường cùng nhau giải bày tâm sự hoặc cùng nhau bàn luận chuyện đời:
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp
Chén quỳnh tương ôm ấp bầu xuân !
Nguyễn Khuyến
và rượu trong tình bạn thâm giao chí cốt dù có uống với
nhau nghìn ly cũng không bao giờ thấy đủ cả:
Tửu phùng tri kỷ thiên bôi
thiểu
T a có câu: "Nam
vô tửu như kỳ vô phong" nghĩa là làm trai không uống rượu cũng như
cờ không gió, vì chén rượu nhiều khi là động lực thúc đẩy con người trong
sự nghiệp. Vả lại: “tửu năng dẫn huyết” nghĩa là rượu làm cho huyết mạch
lưu thông.
N hững người sành rượu khi uống thường kén rượu ngon già
độ, sủi nhiều tăm khi rót ra. Rượu chế bằng gạo, nhưng để thếch khách và
những tay hào hoa thường kén các rượu quí, chế không riêng bằng gạo mà còn
bằng các thứ hoa hoặc trái cây nữa như mai quế lộ, hoàng hoa tửu, bồ đào
mỹ tửu v.v...
N gày xưa, các cô bán rượu thường gánh những gánh đầy
những bong bóng rượu vào các làng bán, và các tay hay rượu thường say rượu
của các cô, có khi say cả nhan sắc của các cô nữa:
Em là con gái đồng trinh,
Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè.
Ông Nghè sai lính ra ve,
Tôi lạy ông Nghè tôi đã có con.
Có con thì mặc có con,
Thắt lưng cho tròn mà lấy chồng quan.
Uống rượu là một cái thú, nhưng uống rượu để giải khuây
tiêu sầu, để trợ hứng, cái thú càng quí. Còn nếu uống rượu đến say sưa nát
rượu quả là một điều không nên. Có người say rượu nhưng say vì trong người
thấy choáng váng lại cảm thấy cái say như dễ chịu, khi tỉnh rượu lại muốn
say:
Còn trời còn nước còn non,
Còn cô bán rượu anh còn say sưa.
S ay rượu không nát,
uống không hại ai, và mỗi ngày vài ba chén để ngâm vịnh thơ phú, để trợ
lực thêm phấn khởi, để quên sầu, rượu vẫn giữ nguyên cái thú của rượu,
nghĩa là rượu còn đứng vào hàng tiêu khiển. Có cũng được, không cũng được,
con người không nghiện ngập. Nếu vì rượu say sưa, ngôn ngữ hồ đồ, hành
động mất lương tri, rượu đã từ địa hạt tiêu khiển bước sang hàng đầu tứ đổ
tường, rượu không còn là một cái thú nữa mà rượu còn là một cái hại nên xa
lánh.
Đời xưa đời nay, bao giờ cũng có người uống rượu và ở
nước nào cũng vậy, rượu vẫn được người ta ưa chuộng. Đàn ông uống rượu đã
đành, đàn bà cũng uống rượu, đó là một điều rất hiếm tại Việt Nam.
T iếp xúc với Tây phương, ngày nay ngoài những thứ rượu
cổ truyền của ta, một số người Việt cũng bắt chước người Tây phương dùng
nhiều rượu nhập cảng để khai vị cũng như uống trong bữa ăn như rượu nho
rất tốt để máu huyết lưu thông và ngăn ngừa bệnh tim mạch. Một số người
thích dùng những loại rượu mạnh như Hennesse, Remy Martel V.S.O.P hay X.O.
và một số phụ nữ cũng đua đòi uống rượu và say sưa không kém gì đàn ông.
Đàn ông uống rượu đến say sưa đã đáng chê rồi, đến đàn bà cũng say sưa thì
thật là quá bậy vậy!
M ột triết lý nhân sinh tốt đẹp trọn vẹn không phải chỉ
có lăn lóc với đời, dốc bầu tâm huyết vì đại nghĩa mà còn phải biết khai
thác và tận hưởng các khoái cảm tinh thần quí giá trong tứ thú nhàn du:
Cầm, Kỳ, Thi, Tửu mà một Nguyễn Công Trứ của chúng ta ngày trước đã từng
quan niệm:
Thơ một túi
gieo vần Đỗ, Lý
Rượu lưng bầu
rót chén Lưu Linh
Đàn Bá Nha gảy
khúc tính tang tình
Cờ Đế Thích đi
về xe pháo mã
Cầm, Kỳ, Thi, Tửu là tứ thú phong lưu của người Việt, có tính cách phóng khoáng nhàn hạ nếu chúng ta biết dùng đúng cách của nó
sẽ đem lại cho chúng ta đời sống nhiều ý nghĩa và thi vị hơn.
X uân đang về với đất trời, với từng con người của chúng
ta thì Cầm, Kỳ, Thi, Tửu mãi mãi là đề tài khai thác không bao giờ cạn vì
đó là cái nợ phong lưu cử lẽo đẽo theo chúng ta suốt cả cuộc đời...


Thu
Phương
01/27/2007
Tài liệu tham khảo:
Phong Tục Việt Nam của Toan Ánh
---š
{ › ---

|
|