|
|

Mục Lục
Trang
Bìa
Ban
Biên Tập
Lá
Thư
Xuân
Ban
Biên Tập
Thư
Đầu
Năm
Lương
Lệ Huyền Chiêu
Sớ
Táo
Quân
Ban
Biên Tập
Khai
Bút Đầu Xuân
Du
Sơn Lãng
Tử
Hình
Ảnh
Xuân
- Xứ
Ninh
Sử
Xương Hải
-
Lê
Thị
Lộc
Đọc
Truyện
Ngâm
Thơ
Đọc
Lá Thư Đầu
Năm
Võ
Thị Nguyên
Đọc
Truyện/Thơ
Thu
Phương
Ngâm
Thơ
Thi
Thi
Ca
Hát
Tiếng
Hát:
Huyền Chiêu
- Thu
Thủy
Thu
Phương
- Minh
Nguyệt
Văn
Hóa
Ẩm
Thực
Nghe
Những
Tàn
Phai
-
Bánh
Tro
Đặng
Trùng
Dương
Bánh
Bông
Lan
Mặn
Hải
Lộc
Thịt
Đầu
Heo
Ngâm
Dấm
Đường
Hải
Lộc
Bò
Kho
Cà
Rốt
Châu
Thị
Thanh
Mận
Năm Đinh Hợi
Kể Chuyện Heo
Chú
Heo
Con
Đầu
Lòng
Phùng
Thị
Phượng
Tôi
Làm
Mụ
NhàQuê
Tản
Mạn
Về Năm Đinh
Hợi
Nguyễn
Văn
Thành
Dù
Nắng
Có
Mong
Manh
Nguyễn Thị Thu
Nhớ
Nhà Một
Chiều
Cuối Năm
Nguyễn Thục
Tết
Đinh
Hợi
- 2007
Linh Vũ
Kinh
Nghiệm
Sống
Bên
Bờ
Tuyệt Vọng
Tâm
Đoan
Du
Lịch
Việt
Nam
Sau
30
Năm
Lìa Xa
Phan Thanh
Tâm
Tranh
Hình
Ảnh
Hình
Chụp
Nghệ
Thuật
Mục
Đồng
Tranh
Nghệ
Thuật
Hoàng
Tiên
Hình
Chụp
Nghệ
Thuật
Hoàng
Tiên
Hình
Ảnh
Ninh
Hòa
Sử
Xương
Hải
Ảnh
Đời
Sống Loài
Heo
Hải
Lộc
Chuyện Đó
Đây
Tết
Với
Tiết
! Đối
Với
Điếc
!
Lê
Anh
Dũng
Bệnh
Thất
Tình
Nguyễn
Phan
Lê
Sớ
Táo
Quân
Trần
Thị
Nghệ
Huyền
Trân
Công
Chúa-5
Trương
Thanh
Sơn
Cây
Ở
Quê
Tôi
Trương
Tiếp
Trương
Kịch
Cô
Gái
Lười
Biếng
Lương
Lệ
Huyền
Chiêu
Vui
Cười
Thiên
Bồng
Nguyên
Soái
Nguyễn
Phan Lê
Say
(2)
Lê
Lai
Say
Lê
Quốc
Vài Câu
Chuyện
Vui
Nguyễn
Văn Xê
Sưu
Tầm
10
Bức
Thư
Pháp
Của
Tàn Mộng Tử
Mục
Đồng
Nghệ
Thuật
Trà
Đạo
Qua
Tranh
Mục
Đồng
Ăn
Uống
Vì
Sức
Khỏe
Việt
Hải
Tử
Vi
Lý
Số Đông
Phương
Việt
Hải
Sống
Lâu
Trăm
Tuổi
Vinh
Hồ
Lời Hay
Ý
Đẹp
Nguyễn
Phước
Sơn
Aloe
Vera
Thi
Thi
Tập
Thở
Dưỡng
Sinh
Đoàn
Thủy
Tiên
Sức
Khỏe
Viêm
Và
Loét
Dạ
Dày
Do
Vi
Khuẩn
HELICOBACTER
PYLORI
BS Nguyễn
Vĩ
Liệt
Viết
về
ninh-hoa.com
Thư
Đầu
Năm
Lương
Lệ Huyền Chiêu
Ủn
Ơi
Chào Mi
Lê
Anh
Dũng
Chúc
Mừng
Xuân Đinh
Hợi
Hải
Lộc
Vài
Nét
Viết Về
Ninh-Hòa.com
Thi Thi
Mừng
Sinh Nhật
Tròn 4 Tuổi
Hà
Thị
Thu
Thủy
Cảm
Nghĩ
Về
Ninh-Hòa.com
Hoàng Tiên
Vài
Cảm
Nghĩ
Về
WEB
Ninh-Hòa.com
Người
Xứ
Vạn
Biên
Khảo
Kinh
Tế
Tổng
Kết
Kinh
Tế
Việt
Nam
Trong
10
Năm
Qua
Nguyễn
Văn
Thành
Ảnh
Hưởng
của Hội
Nghị
Thượng
Đỉnh
APEC
2006
Vào
Nền
Kinh
Tế
Việt
Nam
Nguyễn
Văn
Thành
Sự
Gia Nhập
Tổ Chức
Thương Mại
WTO của
Việt
Nam
Nguyễn
Văn
Thành
Dow
Jones
Nguyễn
Văn
Thành
Tập
Tục
Việt
Cầm,
Kỳ,
Thi,
Tửu
- Tứ
Thú
Phong
Lưu
Của
Người
Việt
Thu
Phương
Tiếng
Việt
Kỳ
Diệu
Qua
Cái
Nhìn
Của
Nhà
Văn
Võ
Phiến
và GS
Duyên
Hạc
Lê
Thái
Ất
Người Xứ Vạn
Thơ
Vó
Câu
!
Lê Tâm
Anh
Nhớ
Mai
Ngày
Xuân
Huy
Bạch
Xuân
" Bát
Giới
"
Huy
Bạch
Xuân
Đợi
Nguyễn ThịThanh
Bình
Lợn
Nhà
Thanh
Bình
Xuân
Về
Trần
Ngọc
Chánh
Bài
Thơ
Cáo
Tật
Thị
Chúng
Mục
Đồng
Chờ...
Trần
Minh
Hiền
Như
Gió
Mưa
Rơi
Bên
Thềm
Ký
Ức
Trần
Minh
Hiền
Hương
Yêu
Mỹ
Hiệp
Mai
Tường
Hoài
Năm
Hợi
Chúc
Tết
Quý
Ông
Quý
Bà
Vinh
Hồ
Hiu
Hắt
Tàn
Đông
Nam
Kha
Tình
Xuân
Nguyễn
Đăng
Khoa
Đoản
Khúc Xuân
-2
Lê
Lai
Lòng
Xuân
Phan
Long
Một
Xuân
Buồn
Trần
Thị
Nết
Lá
Hát
Với
Hồ
Fallen
Leaf
Trần
Thị
Minh
Nguyệt
Say
Thu
Phương
Tình
Thơ
Tháng
Giêng
Bích
Phượng
Chào
Tái
Ngộ Khánh
Hòa
NhàQuê
Cuộc Hẹn
Mười
Năm
Giờ
Giao
Thừa
NhàQuê
Tìm
Về
Giêng
Hai
Đỗ
Công
Quý
Mùa
Xuân
Về
Tôn
Thất Phú
Sĩ
Tình
Ấm
Mùa
Đông
Dương
Anh
Sơn
Sen
Nở
Mùa
Xuân
Dương
Anh
Sơn
Ả
Lợn Mừng
Xuân
Du
Sơn - Lãng
Tử
Chúc
Mừng
Xuân
Du
Sơn - Lãng
Tử
Hội
Xuân
Du
Sơn - Lãng
Tử
Xuân
Đất
Khách
Nhớ Xuân
Quê
Hương
Nguyễn
Văn
Thành
Mùa
Xuân
Trong
Ký
Ức
Thu
Thảo
Xuân
Tha
Hương
Thi
Thi
Bài
Thơ
Cho
Anh
Phan
Thị
Hương
Thu
Nhớ Xuân
Xưa
Đoàn
Thủy Tiên
Ngày Xuân Mới
Hoàng
Tiên
Xuân
Viễn
Xứ
Ngô
Trưởng
Tiến
Tết
Xứ
Người
Nguyễn
Tính
Ngậm
Ngùi
Nguyễn
Thị
Tri
Anh
Có
Về
Ăn
Tết
???
Nguyễn
Thị
Thanh
Trí
Tết
Nghèo
Nguyễn
Thị
Thanh
Trí
Xuân
Phạm
Trị
Tình
Xưa
Hai
Xóm
Nguyễn
Thanh
Ty
Đón
Xuân
Bên
Em
Tiểu
Vũ
Vi
Xuân
Vẫn
Có
Em
Tiểu
Vũ
Vi
Dốc
Lết
Niềm
Đau
Anh
Vũ
Nếu
Anh
Có
Về
Anh
Vũ
Không
Em
Mất
Cả Mùa
Xuân
Linh
Vũ
Văn
Mùa Yêu
Thương
Lương
Lệ
Huyền
Chiêu
Tết Ở
Ninh
Hòa
Lương
Lệ
Huyền
Chiêu
Thêm
Tuổi
Mới
Mục
Đồng
Bánh
Căn
Ninh
Hòa
Việt
Hải
Xuôi
Sông
Vàm
Cỏ
Việt
Hải
Hương
Mai
Huỳnh
Trịnh Tuyết
Hoa
Nàng
Xuân -
Bạn - Vợ
-
Người
Tình
Đào
Vũ Anh
Hùng
Xuân
Và
Tết
Đào
Vũ Anh
Hùng
Cali... Ngày
Tái Ngộ
Ái
Khanh
Tản Mạn
Ngày Xuân
Ái
Khanh
Món Quà
Magi
Lê
Lai
Cảm
Nghĩ
Về
Đời Người
Và
Niềm Mơ
Ước
Hải
Lộc
Em Gái
Tôi
Nguyễn
Dzuy Nam
Một
Chút Gì Xuân
Trần
Thị Nết
Những
Cánh Hoa
Màu Tím
Nguyễn
Trọng Nhân
Đầu Năm
Đinh Hợi Nhớ
Một
Bài Thơ
Xưa của Lý
Bạch
Phạm
Tín An
Ninh
Mùa
Xuân
Chuyện
Tơ
Hồng
Đặng
Thị Ngọc
Nữ
Tâm Sự
Đầu
Xuân
Với
Đức
Linh
Hoàng
Tiên - Phi
Ròm
Mình
Ơi !
Tiểu
Thu
Một
Mùa
Xuân
Hai
Nỗi
Nhớ
Phan
Đông Thức
Biết Được
Người
Bạn
Qua
Ninh-hoa.com
Nguyễn
Tính
Vui
Xuân
Với
Ninh-hoa.com
Nguyễn
Tính
Má Tôi
Nguyễn
Thị
Thanh
Trí
Viết Về
Những Người Bạn
Nguyễn
Văn
Xê
|
* Người
Xứ
Vạn

" Tôi
yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời...
Mẹ hiền ru những câu xa vời à ơi...".
Tôi xin mở đầu câu chuyện "Tiếng Việt diệu kỳ" bằng những vần thơ mộc mạc
nằm nôi của nhạc sĩ PDuy nay đã trở thành thần thoại vì đã thoắt biến
thành nhạc. Nó biến thể từ hồi nào vậy? Sao thơ lại biến thành nhạc không
để lại dấu vết? Ấy thế mới hay tiếng Việt thật tài tình, diệu kỳ! Cái ngôn
ngữ Mẹ đẻ bao la bỗng chốc trở thành đại dương mênh mông vô tận mà mình là
người thụ hưởng ân sâu không bao giờ hết.
C ó một lần cách
đây hơn mười năm trên đồi "Mao Cú Tha" (Mt Coutha) ở xứ Bà Hoàng vào một
đêm khá lạnh, có mây mù vây quanh đỉnh núi. Tôi cùng Bs. BTCường và phái
đoàn của cô Ỷ Lan từ bên Pháp sang chơi, được mời lên đồi ngắm cảnh. Nhìn
thấy cảûnh trời nước bao la sương khói chập chùng, bất giác cô Ỷ Lan ngâm
hai câu thơ bất hủ của đại thi hào Hàn Mạc Tử nhà ta "Ở
đây sương khói mờ nhân ảnh, Ai biết tình ai có đậm đà...".
Chúng tôi hết sức ngạc nhiên. Dĩ nhiên là cô ngâm thơ bằng tiếng Việt,
nhưng chẳng phải là thứ tiếng Việt suông đuột, nhạt nhẽo. Giọng ngâm của
cô là âm hưởng của vùng sông Hương núi Ngự miền Trung - tức giọng Huế đấy.
Nhất là khi cô thả ở cuối câu giọng trại trại ngã nghiêng "Ai biết tình ai
có đậm đà..." thì dù có cách xa muôn trùng đi nữa, tôi vẫn nhớ về miền
Trung, nhớ nhà đến chết được!
C ô Ỷ Lan là một
người Anh, huyết thống chẳng có giây mơ rễ má gì với người VN mình hết, ấy
vậy mà cô đã học hỏi, xử dụng tiếng Việt đến độ làu thông. Phục! Có lẽ khó
tìm người ngoại quốc nào có thể nói tiếng Việt hay hơn cô nữa. Tôi tò mò
hỏi cô Ỷ Lan nguyên do nào khiến cô đã học tiếng Việt hay vậy? Cô kể rằng
có một hôm đến nhà người bạn VN chơi, thấy mấy ông bạn nói câu gì tràng
giang đại hải hết sức ngộ nghĩnh gồm hầu hết những âm "oa oa" nghe như
tiếng con nít khóc. Rồi bất chợt cả nhà phá lên cười khiến cô không hiểu
mô tê gì cả. Cô tức mình phải tìm hiểu cho được, thì ra đó là câu "Hôm qua
qua nói qua qua mà qua hổng qua, hôm nay qua hổng nói qua qua mà qua lại
qua" với những âm thanh "oa oa" trùng lập tưởng chừng như chẳng có ý nghĩa
gì cả lại là một câu nói tự tình rất xúc tích. Chính điều ngẫu nhiên của
cái ngôn ngữ kỳ diệu này đã khiến cho cô yêu mến tiếng VN mà ra công tu
luyện. Bây giờ thì cô Ỷ Lan đã trở thành người Việt da trắng chính cống
rồi! Ấy! Tiếng Việt kỳ diệu đến mức khiến cho một người ngoại quốc như cô
phải mê mệt. Thế thử hỏi các em mang giòng máu đỏ da vàng, đã từng nghe
tiếng Mẹ ru từ thuở nằm nôi thì làm sao lại không yêu quý tiếng Việt của
mình nhỉ?
M ột trong những
nhà văn tôi mê nhất phải kể là nhà văn Võ Phiến, tác giả của mấy quyển Tùy
Bút. Chẳng phải là vì ông cùng quê hay họ hàng gì với tôi ở cái xứ Bình
Định (xứ bánh tráng dừa và mì của vua Quang Trung), nhưng phải nói giọng
văn ông thật độc đáo, kể chuyện như đùa nhưng ý tưởng thâm sâu. Ông hay đi
từ cái nhỏ nhất đến cái bao quát, từ cái cốt lõi đến cái bao la, từ ruột
ra vỏ... Trong bài tham luận đã lâu của ông viết về "Tiếng Việt và Người
Việt ở hải ngoại" xuất bản năm 1988, ông đã phân tích hết sức tinh vi cái
hay, cái đẹp của tiếng Việt mà chúng tôi xin phép nhà văn VP gợi lại đây
như một sử liệu để hầu chuyện cùng các em.
Theo nhà văn VP, trong khi Tây phương có khuynh hướng
thiên về ý niệm triết lý trừu tượng thì thiên năng của Việt ngữ hướng về
những gì cụ thể. Nói thế không phải là tiếng Việt không có những tiếng chỉ
ý niệm trừu tượng nhưng những từ này thường vay mượn từ tiếng Trung Hoa để
diễn tả các tư tưởng triết học, tôn giáo, nghệ thuật, chính trị, kinh tế
như các tiếng "lễ nghi, nhân nghĩa, đạo đức, âm dương, liêm sỉ, thiện ác,
tạng phủ, hư thực, hiến pháp v.v...". Còn những tiếng thuần tiếng Việt chỉ
những vật cụ thể như "tay, chân, cá, lá cây...".
T iếng Việt của
chúng ta thật đa dạng. Có khi tiếng Anh, tiếng Úc, tiếng Pháp chỉ có một
chữ thì tiếng Việt lại có nhiều từ tương đương để diễn tả. Ví dụ như khi
tiếng Úc nói "carry", tiếng Pháp là "porter" thì VN ta có nhiều tiếng
tương đương như "ẵm, bồng, đội, đeo, mang, xách, ôm, xốc, vác, gánh, bưng,
bê, khuân, chở, nách, cõng, vực, dìu, dắt, quảy, khiêng v.v...". Còn khi
diễn tả sự chết thì có những từ "chết, mất, trăm tuổi, qua đời, từ trần,
tạ thế, tắt nghỉ, thở hơi cuối cùng, về dưới suối vàng, về với tiên tổ, về
với Trời Phật, về với Chúa, quy tiên, trút linh hồn, an giấc ngàn thu,
nhắm mắt, vĩnh biệt trần gian, ăn xôi, toi, ngỏm, ngủ với giun, mặc áo sáu
tấm, mặc áo sơ mi gỗ v.v...".
Mặc dù tiếng Việt chúng ta cũng đã có dư các tiếng trừu
tượng để dùng nhưng xoay đi xoay lại vẫn khoái xài các tiếng cụ thể. Tỉ dụ
như "tiếng yêu hay thương". Chuyện yêu đương thì trời đất đâu có chừa dân
tộc nào nếu không muốn nói tiền nhân chúng ta cũng đã biết yêu từ thời
khai thiên lập địa. Ấy vậy mà khi nhắc tới "tiếng yêu" - tức cái tình cảm
cực kỳ quan trọng ấy trong đời sống con người thì tiếng Việt chúng ta xử
dụng màu mè hơn nhiều - nào "trai gái, chim chuột, giăng dện, gió trăng,
mèo mỡ, ong bướm, trăng hoa v.v...". Có khi lại thêm thắt "tò tí, tằng tịu,
ong với bướm, chim với chuột". Như đi thi mà thành công thì gọi là "thi
đậu, dính, hay đỗ mà thất bại thì gọi là thi trượt, rớt, hỏng..." Nói về
hương vị cuộc đời thì dùng các từ "chua chát, đắng cay, ngọt bùi, mặn mà..."
hay khi nói về tình yêu thì có "lời ong bướm, lời đường mật, nghĩa đá vàng...".
Có khi khen cô gái đẹp lại bảo cô ấy "thơm". Có công ăn việc làm tốt thì
bảo là có "job thơm"... Tóm lại dùng một tiếng cụ thể để diễn tả một ý
niệm trừu tượng là ngón sở trường của người VN mình!
B ây giờ ta bàn
sang một khía cạnh khác là cách phát âm. Âm phát ra thế nào thì diện mạo y
như thế đó. Tỉ dụ như khi một nhiếp ảnh gia ngoại quốc chụp hình thì bảo
là "cheeze" để khách hàng cười cho tươi thì tiếng Việt chúng ta chỉ cần mở
miệng nói tiếng "cười" tức khắc có nụ cười trên môi liền. Bảo "ngậm" thì
không thể nào miệng mở, bảo "há" thì không thể nào ngậm miệng được", nói "nhăn
răng" thì không thể nào miệng ngậm, nói "khạc" thì người Việt khạc, nói "nhổ"
thì chu miệng y như nhổ, nói "hút" thì họ hút vào, nói "phun" thì họ phun
ra, nói "nhai" nói "nuốt", nói "ọe" nói "ọc" đều như thế cả. Nói "cười ha
hả" thì miệng họ mở toang mà nói cười "mỉm" hay cười "mím chi" thì mồm họ
ngậm hàm tiếu. Ngay như trong thơ văn của cụ Nguyễn Du tiên sinh trong
truyện Kiều khi nói "Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh" là chúng ta
liên tưởng ngay tới con đường khá quanh co, khúc khuỷu!
Đ âu chỉ có nhà thơ
mới dùng được những từ gợi hình, gợi ảnh, những người dân lao động bình
thường cũng có thể dùng những từ mô tả rất gợi hình. Tỉ dụ như "Thằng nhỏ
trông lí la lí lắc - Cô ấy đi sao mà ưỡn à uỡn ẹo - Hoặc bà ấy khỏe mà
sinh ra mấy đứa con sao loắt choắt v.v..". Cứ nghe như thế là ta có thể
hình dung người ấy như thế nào rồi. Biểu thị âm thanh tỉ như mỗi khi có
giọt mưa rỏ xuống đâu đó thì ta nghe các âm "tí tách", gió thổi "phần phật",
đồng hồ kêu "tích tắc", tiếng chuông kêu "leng keng" hay "kính coong", gió
thổi "vi vu", nước chảy "róc rách" v.v... Còn táùc dụng của các dấu sắc,
huyền, hỏi, ngã, nặng v.v... đều có khả năng biểu thị tính chất riêng của
nó. Tức nghe tiếng thì phát ra ngay tiếng Việt.
Nhiều học giả cho rằng phần lớn các âm tiếng Việt cũng
có khả năng biểu thị hình dạng. Tỉ như khi đọc âm "ong" thì y như là có
cái gì tròn tròn - như "quả bóng, cong vòng, cái lọng, cái nong, chạy lòng
vòng v.v..". Khi đọc âm "oi" thì phải hắt hơi ra nên có vẻ như phải có cái
gì dài ra thêm chút nữa, tỉ như "cái còi, cái ngòi, thòi ra, lòi ra, nhoi
lên v.v...". Âm "ắt" phát ra nghe rất gắt thích hợp cho những động tác "cắt,
chặt, ngắt, xắt, gắt, thắt, vặt v.v...". Phụ âm q thích hợp cho các tiếng
hàm ý cứng cỏi như "quát, quạt, quật, quất, quăng, quẳng v.v...". Phụ âm m
cho ta cảm giác êm dịu thoải mái như "mịn màng, mềm mại, mượt mà, mơn mởn
v.v...".
C hưa hết, tiếng
Việt có khả năng về điệp ngữ vô cùng phong phú mà các tiếng khác không dễ
gì có. Có lần học giả Granet nhặt từ tiếng Trung hoa được 3 trang điệp ngữ
như "quan quan, yêu yêu, hoàng hoàng, âm âm v.v..." ông đã cho là hay lắm.
Tuy nhiên khi ông khám phá ra là tiếng Việt có cả kho tàng điệp ngữ, ví dụ
như ", xanh xanh, chầm chậm, nhạt nhạt v.v..." thì ông hết sức ngạc nhiên
về sự phong phú của tiếng Việt vì hầu như chữ nào cũng có khả năng biến
thành điệp ngữ. Ta thử nghe vài câu thơ phổ thông trong Truyện Kiều của cụ
Nguyễn Du mà hầu như ai cũng biết: "Thoắt trông nhờn nhợt màu da, Ăn gì to
lớn đẩy đà làm sao!" Chưa hết, cùng diễn tả nét đậm lợt của màu sắc thì có
"xanh lơ, xanh biếc, xanh um, xanh lè, xanh rờn, xanh non, xanh ngắt... Đỏ
thì có đỏ hồng, đỏ chói, đỏ chót, đỏ rực, đỏ lòe, đỏ lòm... Đen thì có đen
thui, đen xì, đen kịt, đen ngòm, đen mù mịt... Trắng thì có trắng xóa,
trắng toát, trắng tinh, trắng bóc v.v...".
B ây giờ ta sang
vấn đề mạo tự. Trong tiếng Anh, ta thấy có chữ "the" đứng trước một danh
từ. Tiếng Pháp thì có "le", "la" chỉ giống đực, giống cái. Còn tiếng Việt
của ta thì có rất nhiều tiếng mạo tự, có khi cũng chỉ giống đực giống cái
nhưng thường khi còn đi xa hơn thế nữa, nó gợi tả biết bao nhiêu tâm sự,
hình ảnh. Trước hết ta hãy quan sát về hai mạo tự "cái" và "con".
Nhiều học giả nghiên cứu cho hay hễ cái gì có khả năng
động đậy, linh động được thì thường có chữ con đứng trước. Ví dụ như "con
thuyền, con trâu, con sông, con cá, con mắt v.v..." còn cái gì yên tĩnh,
không động đậy được thì có chữ cái đứng trước, tỉ như "cái bàn, cái nón,
cái nia, cái muổng v.v...". Tuy nhiên có khi cũng có sự phá lệ nhờ biết
nhân cách hóa tỉ như câu ca dao "cái cò, cái vạc, cái nông - Sao mày dậm
lúa nhà ông hỡi cò" hoặc chữ "cái" cũng biểu thị giống cái như câu "con
dại, cái mang v.v...". Tiếng Việt không dừng lại ở đó, như trên đã nói có
rất nhiều mạo tự. Tỉ như "con suối, cây gậy, cái cày, ngọn núi, tầng mây,
mặt trăng, cơn ghen, trận mưa, giòng suối, mảnh tình, khối tình, nỗi khổ,
niềm đau, cơn giận v.v..." mà ngay cả việc diễn tả một chữ "đá" không thôi
cũng đã thấy biết bao nhiêu mạo từ đứng trước tùy trường hợp thích nghi mà
dùng tỉ như "cục đá, viên đá, tảng đá, khối đá, hòn đá v.v...".
S ự kỳ diệu của
tiếng Việt còn được một người thầy cũ của chúng tôi phân tích thâm sâu. Đó
là Gs Duyên Hạc Lê Thái Ất. Người viết cũng xin phép Giáo sư ghi lại đây
như một sử liệu để các em trẻ có dịp đọc cuốn sách này. Trong quyển "Ngôn
ngữ VN" phát hành tại Hoa kỳ năm 1996 có phân tích sự giàu có, phong phú
của tiếng Việt. Theo Giáo sư, tiếng Việt có âm đơn và âm ghép. Âm đơn mỗi
khi đọc lên chỉ độc có một âm, ví dụ như "Anh Ba đi về nhà" có 5 âm riêng
biệt. Trái với âm đơn là đa âm hay âm ghép, tỉ như cái nhà, con trâu, mặt
trời, sông núi v.v... Và tiếng Việt còn có khả năng Việt hóa các từ ngoại
quốc thành đa âm như cà-phê, va-li, tắc-xi, ra-dô, xà-bông v.v...
T iếng Việt mang
đầy nhạc tính hay còn gọi là nhạc ngữ (tức khi nói lên đã có sẵn nhạc ở
trong câu). Chính nhờ thế mà thơ văn của ta bỗng nhiên nhờ nhạc sĩ chuyển
hóa, biến thể thành nhạc hồi nào không hay. Tỉ dụ như các bài thơ tình
ngày xưa đã trở thành những tình ca bất hủ như "Mộng Dưới Hoa, Nắng Chiều,
Con thuyền không bến, Áo lụa Hà Đông v.v..." hoặc các bài thơ mới ở hải
ngoại đã phổ thành nhạc nổi tiếng.
N hạc tính trong
tiếng Việt có thể biến đổi khôn lường qua giọng nói, giọng hát giọng hò,
điệu nhạc dân gian của ba miền đất nước. Chỉ cần hai câu thơ lục bát của
Truyện Kiều là ta có thể ngâm lên, hát lên, hò lên, lảy lên đủ mọi thể
điệu từ cách ngâm thơ giọng Bắc, đến ngâm giọng Huế, đến ru bài chòi miền
Trung, rồi hò miền Nam hoặc có thể biến thành câu vọng cổ nữa. Tỉ như hai
câu thơ tả nét đẹp của Thúy Vân và Thúy Kiều "Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang...".
C ái hay khác nữa
của tiếng Việt là sự hoán đảo những tiếng ghép. Có khi sự hoán đảo vẫn giữ
nguyên nghĩa như "tay chân và chân tay, con cháu và cháu con, xa gần và
gần xa, tranh đấu và đấu tranh v.v...". Có khi sự hoán đảo làm đổi nghĩa
của từ ghép đó, ví dụ "công chúa và chúa công, tử đệ và đệ tử, con sông và
sông con". Có khi sự hoán đảo làm tăng nghĩa của từ chính, tỉ dụ như "đẹp
quá và quá đẹp, hay quá và quá hay v.v...". Nhưng lắm khi không thể hoán
đảo được như các chữ "chiến tranh và tranh chiến, tranh dành và dành tranh,
sơn hà và hà sơn v.v...". Đặc biệt tiếng Việt chúng ta có đặc tính linh
động đa dạng. Chỉ nêu vài nét tượng trưng. Tỉ như câu có 3 chữ đã có nhiều
chuyện phải nói rồi: "Anh nói không" có thể đảo qua đảo lại đủ kiểu như
“Anh không nói", "Nói không anh?", Không! Anh nói"... Câu có 4 chữ "Tôi
không nói anh" càng đảo ngữ nhiều hơn và khi gặp câu 5 chữ như "Tôi bảo
anh về nhà nó" thì phải đọc ngược đọc xuôi không biết bao giờ mới hết ý!
T rường hợp kỳ diệu
hơn cả là sự linh động trong thể thơ thuận nghịch độc, nội dung toàn bài
không thay đổi khi đọc xuôi cũng như khi đọc ngược. Tỉ dụ như bài thơ tả
Đền Ngọc Sơn chẳng hạn: "Linh uy tiếng nổi thật là đây, Nước chắn hoa rào
một khóa mây, Xanh biếc nước soi hồ lộn bóng, Tím bầm rêu mọc đá tròn xoay,
Canh tàn lúc đánh chuông ầm tiếng, Khách vắng khi đưa xạ ngát bay, Thành
thị tiếng vang đồn cảnh thắng, Rành rành nọ bút với nghiên này" (Thơ Vô
Danh). Bạn có thể đọc ngược lại bài thơ này từ chữ cuối của câu trở lên
đầu bài vẫn ra đúng ý "Này nghiên với bút nọ rành rành, Thắng cảnh đồn
vang tiếng thị thành, Bay ngát xạ đưa khi vắng khách, Tiếng ầm chuông đánh
lúc tàn canh, Xoay tròn đá mọc rêu bầm tím, Bóng lộn hồ soi nước biếc xanh,
Mây khóa một rào hoa chắn nước, Đây là thật nổi tiếng uy linh". Nếu không
kỳ diệu thì còn là gì nữa!? Hoặc bài thơ theo thể liên hoàn kín như bài
Thơ vịnh "Bóng trăng trong" chỉ có 13 chữ dùng mỹ từ pháp điệp ngữ: "Bóng
trăng trong thuở trước soi chung, Thuở trước soi chung một tấm lòng, Chung
một tấm lòng nay vẫn nhớ, Lòng nay vẫn nhớ bóng trăng trong" (Thơ Duyên
Hương).
R ời khỏi thế giới
của hai vị học giả nói trên, một nhà văn một nhà giáo, trong đời sống dân
gian, tiếng Việt của ta có khả năng trào phúng số một thế giới. Khoái nhất
trong tiếng Việt của ta là cách nói lái. Hầu như trong dân gian, người
Việt của ta ai cũng biết nói lái. Chỉ cần một tí óc trào phúng là có tiếng
cười ngay. Lái có lái tục, lái thanh. Lái tục thì nhiều lắm kể không hết,
ở đây chỉ xin nói vài tiếng lái thanh. Tỉ dụ như muốn nói người ham tranh
đấu khi sa cơ không có đường thoát thì bảo là "đấu tranh thì tránh đâu".
Hoặc "đoàn kết" thì "đếch còn". Hoặc nhân buổi bầu cử, một người bạn không
tham dự hỏi hôm nay ai đắc cử, người kia trả lời là ông "Vũ như Cẩn", anh
bạn kia ngớ ra một lát mới hay là "Vẫn như cũ" tức người cũ vẫn đắc cử!
Hoặc tựa bài nhạc thật hay là "Mộng dưới hoa" đã bị lái lại thành "Họa
dưới mông", hoặc "Bây giờ tháng mấy" đảo lại thành "Bây giờ mấy tháng".
Hoặc chơi quần vợt đánh một đường banh thật hay trông thật "đơn giản" như
"đang giỡn"...
Cũng chuyện nói lái, về chuyện gái trai, trong nhiều
buổi tiệc hoặc đám cưới, người ta kháo nhau các câu đố vui như câu đố “Gái
Củ chi, chỉ c..., hỏi củ chi?” chẳng hạn. Tức thì có người đối ngay “Trai
Yên Thế, ê thiến... nằm yên thế" không phải là tuyệt diệu lắm sao? Còn một
câu đối hay khác nữa cũng thuộc loại tiếu lâm gái trai bằng cách nói lái
hai lần nhưng không tiện viết ra nguyên câu nên xin nhờ quý độc giả thêm
mắm thêm muối vào cho rõ nghĩa. Câu đối này liên quan đến cái tên rất đẹp
của người con gái tên gọi Giáng Hương và bên kia là anh Chu Cỏ (xin lỗi
những ai có tên này) nhưng khi nói lái hai lần ngược nhau của hai cái tên
nói trên và thêm một chút mắm muối gừng hành vào, nó sẽ trở thành một câu
đối rất kỳ thú, bất hủ trong chuyện gối chăn, có khả năng làm lứa đôi e
thẹn đến đỏ cả mặt.
C ó khi đảo ngữ gây
ra nghĩa trái ngược, tỉ dụ như ngành hàng không tự nhiên đình công không
chuyên chở hàng hóa được thì người Việt mình phán cho một câu "Hàng không
như rứa hóa không hàng". Trong thơ văn của ta thường có vế xướng và họa
(hay đối) rất phong phú. Như câu xướng "Da trắng vỗ bì bạch" thì có câu
đối lại là "Trời xanh màu thiên thanh". Trong thể thơ Thất ngôn Bát cú
hoặc Đường luật thì các từ, các câu, các vế đối nhau phải thật là chỉnh,
ấy vậy mà luôn luôn có những bài thơ hay.
C ũng kỳ thú không
kém là những bài thơ thanh tục, tục thanh của Bà Hồ Xuân Hương khi vịnh "Cái
quạt" hoặc "Trái mít" chẳng hạn thì ai cũng phải ôm bụng mà cười lăn nhưng
thực ra Bà đã tả chính xác cái sự vật đó. Tưởng thanh mà tục, tưởng tục mà
thanh. Có khi lời nói ra chìu khen ngợi nhưng sự thực lại có ý mắng nhiếc,
nói ngược, tỉ như bảo "Con mẹ ấy đẹp muốn độn thổ" hay khi có ý khen ngợi
một cháu bé ngoan, đẹp thì bảo là "con bé dễ ghét chi lạ". Chưa hết, tiếng
Việt trong nhiều trường hợp có khả năng vận dụng mẫu tự T một cách hết sức
phong phú. Ngày xưa khi còn nhỏ thường nghe thiên hạ trêu vần B "Bà Ba bán
bánh bò bị bò báng bể bụng" đủ thấy hay rồi nhưng lớn lên lại thấy vần T
có khả năng chuyên chở nhiều vấn đề phức tạp. Tỉ dụ như Truyện Tình Trần
Thị Thu Thủy - Trần Thị Thu Thủy tên thật Trần Thị Thỏ, thôn Trảng Tranh
thuộc Tỉnh Thừa Thiên. Thuở thiếu thời, trí tuệ thì thường thôi, tuy thế,
tính Thủy thật thà, thỏn tha thỏn thẻn, trông thật thương! Tới tuổi trăng
tròn, tay tròn trịa, tươi tắn, trắng trẻo, tóc thơm thơm, thật tuyệt! v.v...
N goài ra còn có
một số mẫu tự khác cũng có khả năng sáng tạo tương tự như vần H, vần S
chẳng hạn.
D ù
sao người viết cũng tha thiết mong các em sớm tìm về nguồn cội bằng cách
cố công học tiếng Mẹ đẻ từ khi còn bé. Vì mỗi ngôn ngữ tiêu biểu cho cả
một dân tộc, cho cả một con người, huống hồ chi các em đã là người VN, làm
sao có thể dứt bỏ tiếng Mẹ đẻ đi được. Cuối cùng xin gợi lại lời người xưa
là "Dân ta còn thì
tiếng ta còn. Nơi nào có người Việt thì nơi đó có tiếng Việt, có văn hóa
Việt". Và cũng xin mượn lời của
nhà văn Võ Phiến để kết thúc bài viết này khi ông nhắn nhủ các em trẻ Việt
tại hải ngoại ở khắp bốn phương trời sự lo lắng của ông "Chắc chắn khi các
em từ bốn phương gặp lại nhau, các em không chỉ bỡ ngỡ vì khác tiếng nói,
mà còn bỡ ngỡ hơn trước những xa cách trong tâm hồn". Cái xa cách này mới
thực đáng sợ, mình đâu có mong như vậy phải không quý bạn, phải không các
em?/-
* Người
Xứ
Vạn

---š
{ › ---

|
|