Trang B́a
     
 Ban Biên Tập
 
 Lá T Xuân
     
 Ban Biên Tập
   Khai Bút Đầu Năm
     
 Du Sơn Lăng T
   Kịch Táo Quân
     
 Lê Anh Dũng
   H́nh nh Xuân
     
 SXương Hải
   Tiếng Hát Ninh Ḥa
       Thu Phương  -  Tuyết Hoa
       Thu Thủy   -   Minh Nguyệt


  Thiệp Chúc Tết
     
 Đồng Hương Ninh Ḥa

       

  Nấu Bánh
     
 Phương L
  Nhớ Tết
     
 Phương L
    Ôn Lại Cho Đ Thèm
     
 Phương L
 
Thịt Ḅ Bóp Thấu
     
 Hải Lộc
 
Thịt Đầu Heo Nhồi Bao T
     
 Hải Lộc
  Cách Làm Dưa Món C Kiệu
     
 Châu Thị Thanh Mận
 
Cách Làm GThủ
     
 Hà Thị Thu Thủy
  Me Ngâm Nước Đường
     
 Hà Thị Thu Thủy


   Rồi Chuyện Ǵ S Xảy Ra
     
 Lương L Huyền Chiêu


  Chinese Philosophy In Music
    
 Nguyễn Thị Kim Loan  
  Thơ: Vinh H
    
 Nguyễn Thị Kim Loan  
 

  Vịnh Con C
      
Vinh H
  Vài Câu Chuyện Vui
     
 Nguyên Phương
  Mừng C Lên Ngôi
     
Tú Trinh
  N Cười Thuốc Thánh
     
Thuốc T
iên

     
 Tú Trinh
  NCười - Chuyện Phiếm
      
Đầu Năm Con C

     
Trần Thế  Vinh
  Chuyện T́nh Thời NET...
     
Nguyễn Văn  Xê
 

  Chuyện Văn Chương
     
 Dương Tấn Long
 
 Danh Ngôn-Ngạn Ngữ...
     
 Hà Thị Thu Thủy
 
T́m Hiểu Giấc Mơ
     
 Đoàn Thủy Tiên
 
Năm Tuất Lượm Lặt V C
     
 Nguyễn Văn Xê
 

   Cúm Người Và Cúm
     
Gia C
ầm

     
BS Nguyễn Vĩ  Liệt


  Bóng R Ninh Ḥa
     
 Huỳnh Minh Tâm


  Mộc Tồn Niên K
     
 Hoàng Tiểu Ca
  Sơ Lược Báo C Tiền Phong
     
Tại Việt Nam

     
 Việt Hải
  Thăng Long Đất Đại Can
      
Long Đại Long Mạch

     
 Vinh H
   Khánh Ḥa Có Một Năm
     
Tuất V V
ang

     
 Quách Tùng  Phong
 
Nha Trang Một Thuở 
      
Mai Vàng

      
Quách Tùng  Phong
  Năm Tuất Nói Chuyện C
     
 Nguyễn VănThành
  Tổng Kết Nền Kinh Tế
      
Việt  Nam Trong 30 Năm
      
Qua T Năm 1975 - 2005

     
 Nguyễn VănThành
  Năm Tuất Nói VC
     
 Nguyễn Thục
  Tết Nguyên Đán - 2006
     
 Linh Vũ
 


  Một Ṿng Ninh Ḥa OnLine
     
 Việt Hải
  Ninh-ḤaDOTcom - Món N
     
T́nh Q Hương

     
 Lê Lai
  Tản Mạn Đầu Năm
     
 Phạm Tín An Ninh
   Ninh-ḤaDOTcom Và Tôi
    
 Thu Phương
  Webmaster Ninh-HoaDOTcom
       Phan Thanh Tâm
    Vài Nhận Xét V
     
 Ninh-ḤaDOTcom

     
 Phạm Thám
  V Q Ăn Tết
       Nguyễn Thanh Ty


  Xuân
    
 Phương Linh  
  Đón Xuân
    
 Trần Thùy Trang
 
  Ngày Xuân - Xuân V
     
 Phương Bội Uyên



  Xuân Muộn
     
 Nguyễn Thị Thanh B́nh
 
  Trời Ra Giêng
     
 Điềm Ca
 
  Xuân Bính Tuất
     
 Trần Ngọc Chánh
 
  Xuân Bên M
     
 Nguyên Chất
 
  Em Đi
     
 HCông
 
  Biển L
     
 Hữu Công
 
  Chào Xuân 1995
     
 Phạm Vi Dân
 
  Bốn Mùa Yêu Anh
     
 Đặng Trùng Dương
 
  Chiều Tháng Chạp Cuối Năm
     
 Quan Dương
 
  Hương Sắc Hoa Xuân
     
 Nam Kha
 
  T́nh Xuân
     
 Hoàng Bích Hà
 
  Mùa Xuân Bên M
     
 Tường Hi
 
  Đêm T́nh Mông Muội
     
 Trần Phượng Hoàng
 
  Cánh Đồng Mùa Xuân
     
 Vinh H
 
  Dạo Phố Mùa Xuân
     
 Vinh H
 
  Một Thoáng Bâng Khuâng
     
 Đức Huệ
 
  Con Mái N
     
 Vơ Hương
 
  Hương Sắc Hoa Xuân
     
 Nam Kha
 
  Nhớ Ninh Ḥa
     
 PNghi Khánh
 
  Tuyết Và Mai
     
 Nguyễn Đăng Khoa
 
  Đời
     
 Chi Lai
 
  Đoản Khúc Xuân
     
 Lê Lai
 
  Mùa Xuân Chờ Em
     
 Nguyễn Phan Lê
 
  Duyên N
     
 Dương Tấn Long
 
  Nắng Xuân
     
 Phan Long
 
  Ngày Xuân...Nỗi Nhớ
     
 Hải Lộc
 
  Biển Tím
     
 Hải Ly
 
  Lời Chúc Đầu Năm
     
 Ngọc Mai
 
  Tuổi Ngọc
     
 Diệp Thế M
 
  Xuân Mơ
     
 Trần Thị Nết
 
  Thêm Một Tuổi
     
 Phạm  Tín An Ninh
 
  Xuân X Người
     
 Đặng  Thị Ngọc N
 
  Mùa Xuân Nhớ Em
     
Thu  Phương
 
  Em Chợt Gọi Mùa Xuân
     
 Tôn Thất PSĩ
 
  Mưa
     
 Trương Thanh Sơn
 
  V Q
     
 Nguyên Tảng
 
  Xuận Này
     
 Nhật Thanh
 
  Xuân Gợi Nhớ
     
 Thu Thảo
 
  Cây Mai Gầy
     
 Thiên Thi
 
  Xuân Nhớ
     
 Hoài Thu
 
  Mưa Xuân
     
 Phan Đông Thức
 
  Mùa Xuân N Cũng
     
 Đoàn Thủy Tiên
 
  Xuân Buồn Tủi
     
 Nguyễn Thị Tri
 
  Mênh Mông Nghĩa T́nh
     
 Phạm Trị
 
  Giêng !
     
 NQuang Trung
 
  Xuân Nhớ Q N
     
 Du Sơn Lăng T
 
  Cuối Năm Nhớ Bạn
     
 Nguyễn Thanh Ty
 
  Tết Bolsa
     
 Anh Vũ
 
  Lời Đêm Ba Mươi
     
 Nguyễn Văn Xanh


   Hoa Đào Trong Những Áng
     
T
hi Ca

     
 Lê Kim Anh
   Lời Của Lá
     
 Lương L Huyền Chiêu
   Tiếng Ai Gọi Đ̣
     
 Lương L Huyền Chiêu
 
  Nhân Ngày Xuân, Đ Hồn
     
Trôi Theo V Những N
ăm
     
Tháng Cũ

     
 Phạm Vi Dân
  
T Do
     
 Lê Anh Dũng
  
Làm Sao K Một Chuyện
     T́nh Chân T
hật

     
 Lê Thế Đăng
   Mùa Xuân Nh́n VDiễn
      
Tŕnh Vơ Học Đă Q
ua

     
 Việt Hải
   Đại Dịch
     
 Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa
   Mùa Xuân.....Tưởng Nhớ
      
Trần Việt H
oài

     
 Đào Vũ Anh Hùng
   Xuân Trong Nỗi Nhớ
     
 Đào Vũ Anh Hùng
   Xuân Trong Mắt Nàng
     
 Phạm Hoài Hương
  
Mùa Xuân Trong
      T
âm
Tưởng

     
 Ái Khanh
   Ngày Xuân Trở Lại
     
 Nguyễn Đăng Khoa
   Bâng QTháng Chạp
     
 Dương Tấn Long
  
Tâm Trạng Ngày Xuân
     
 Hải Lộc - Lê Thị Lộc
 
  Hoa Mai Ngày Tết
     
 Phạm Ngọc Mai
 
  Tuổi Măng Non
     
 Diệp Thế M
 
  Tết QN!
     
 Trần Thị Nghệ
   Mùa Xuân Gợi Nhớ
     
 Hồng Vũ Lan Nhi
   Mấy Đ̣n Bánh Tét
     
 Phùng Thị Phượng
  Hoa Đào  Nhật Tân
     
 T Xuân Thạc
 
  Dĩ Văng Trong Tôi
     
 Trần M Thanh
  Hoa Xuân
     
 Hoài Thu
  Hẹn Một Mùa Xuân
     
 Nguyễn Thị Thu
  Xuân Muộn
     
 Phan Đông Thức
 
Viên Sỏi
     
 NQuê - Trần B́nh Trọng
 
Ḥn Đá San Hô
     
 Nguyễn Thanh Ty
  Tết Xưa Và Hoa Vạn Thọ
     
 Nguyễn Thanh Ty

 


   Bên Này Biển Muộn
      V
inh H
  Dư Âm Ngày Cũ
     
Nguyễn Thanh Ty

 

 


 


 

CÚM Ở NGƯỜI VÀ CÚM GIA CẦM
(human flu and AVIAN FLU)
________******_______
Viết bởi Bác Sĩ Nguyễn-Vĩ-Liệt: Kiến thức để pḥng chống bệnh.

  


  
Bác Sĩ NGUYỄN VĨ LIỆT

Sinh quán: Ninh Ḥa
Cựu học sinh các trường:
Tiểu học Ninh Ḥa
TH Đệ nhất cấp: Bán Công và Đức Linh, Ninh Ḥa
TH Đệ nhị cấp: Sài G̣n
Tốt nghiệp trường: Y Khoa Sài G̣n
Hiện là Bác Sĩ hành nghề tại Canada
 

Năm Ất Dậu c̣n gọi là năm con gà đă gây cho mọi người trên thế giới nói riêng và người Việt nói chung nhiều nỗi lo âu. Đó là bệnh CÚM GÀ. Năm Ất Dậu là năm tuổi của các con gà nên gà bị người ta giết hàng loạt, cả trăm triệu con không phải để làm thực phẩm mà để đem chôn hay đốt trong một thời gian ngắn. Gà chết nói theo tiếng lóng của người Việt Nam là hèn nhát, không đứng đắn. Kể từ năm 2003, nghe đến gà chết, người Việt giật ḿnh, hồi hộp và lo sợ. Khi người Việt bất cứ nơi nào trên thế giới nói đến gà chết, mọi người đều lắng nghe đă cho thấy tầm quan trọng của nó. Hy vọng năm con gà qua đi, th́ vấn đề gà chết cũng được yên đi.

Tôi đă tham dự 2 ngày hội thảo về "Cập Nhật Hóa Các Vấn Đề Nhiễm Trùng" (Update Infectious Diseases of Canada 2005) tại thành phố Victoria, British Columbia, Canada vào ngày 4 & 5 tháng 11, 2005. Người ta dùng một thành phố rất đẹp, thủ phủ của tỉnh bang British Columbia nằm trên Vancouver Island (không phải thành phố Vancouver). Người ta dùng một nơi đẹp như thiên đàng để bàn về vấn đề của địa ngục. Đề tài chính của hội thảo là cúm gia cầm hay c̣n gọi là cúm gà (avian flu). Người diễn giả chính (keynote speaker) của hội thảo là bác sĩ Danuta Skowronski, giáo sư của đại học British Columbia (Clinical Associate Professor of UBC) và là chuyên gia của Trung Tâm Kiểm Dịch và Bệnh của tỉnh B.C. (Centre of Diseases Control and Prevention) tọa lạc tại thành phố Vancouver.

Giáo sư Skowronski mở đầu với phần đặc tính của siêu vi cúm bằng câu nói: Flu viruses are sloppy, capricious, and promiscuous (Đặc tính của siêu vi cúm là lôi thôi, gàn dở thay đổi tâm tính bất thường,và lang chạ). Và bà ta tiếp: We are ready for the pandemic of avian flu H5N1. We sucessfully mocked up the manufaction this avian flu vaccine in Vancouver (Chúng tôi tại Vancouver đă sẵn sàng đương đầu với đại dịch của cúm gia cầm H5N1. Chúng tôi đă thành công trong việc chế biến thử thuốc chủng ngừa bệnh này). Tưởng cũng nên nhắc lại là Vancouver, B.C., Canada là nơi đă chận đứng được bệnh SARS (Severe Acute Respiratory Syndrome) không để bất cứ người nào chết v́ bệnh này năm 2003. Đây cũng là nơi chế tạo thuốc chủng ngừa SARS đầu tiên trên thế giới và chính phủ Mỹ đă đặt mua thuốc chủng này. Vào năm 2004, họ đă chế tạo được thuốc chủng ngừa cúm gia cầm H5N1 đang hoành hành tại Việt Nam thời bấy giờ. Nếu đại dịch của cúm gia cầm H5N1 xảy ra, ngựi ta sẽ chế biến thuốc chủng ngừa trong ṿng 6 tháng. Có người sẽ hỏi tại sao họ không bào chế liền thuốc chủng ngừa ngay bây giờ? Xin trả lời là siêu vi cúm thay h́nh đổi dạng rất nhanh chóng. Chúng ta sẽ hiểu tại sao khi tôi tŕnh bày sau:

Cho đến nay (10/01/2006) đă có 147 người trên thế giới bị mắc bệnh cúm gia cầm H5N1 và có 78 người chết v́ nó. Riêng ở Việt Nam, có 93 người mắc bệnh này và 42 người chết. Nếu mọi người trên thế giới lơ là về bệnh này, số người mắc bệnh và chết sẽ rất cao. Đối diện với hiểm họa cúm gia cầm H5N1, kiến thức giúp chúng ta chống và ngừa hữu hiệu hơn. Đây là trọng tâm của bài này.

Tôi cũng cám ơn vợ con của tôi đă cho tôi những giờ phút rỗi rảnh quí giá và cổ vơ tôi.

Cúm (Human Flu) là ǵ và cúm gia cầm (Avian Flu) là cái ǵ?

Cúm của người gây bởi những siêu vi khuẩn cúm (Influenza viruses) thuộc nhóm siêu vi khuẩn Orthomyxoviridae. Chúng gây ra 3 triệu chứng chính là sốt (fever), đau nhức bắp thịt (myalgia), và ho khan (dry cough). Ngoài ra chúng c̣n gây ra những triệu chứng khác do gây bệnh ở những cơ quan khác của cơ thể của gia cầm và loài người. Siêu vi Influenza có 3 loại khác biệt (3 distinct types):

  • Siêu vi Influenza A thường sống trong các loài vật, gia cầm như các loại heo, ngựa, gà, vịt, ngỗng, ngan (gooses) và các loài cầm điểu trong thiên nhiên (wild birds) và nhất là những loài chim thiên di và bơi lội dưới nước (waterfowls). V́ chúng ở trong các loài gia cầm và chim thiên di cho nên chúng trở nên loại siêu vi nguy hiểm hiện nay v́ chúng có khả năng gây ra đại dịch toàn cầu. Chúng cũng là nhóm siêu vi cúm chính gây bệnh ở người (human flu) và đại dịch trên thế giới (pandemic). Cúm gia cầm gây bệnh bởi những siêu vi cúm thuộc nhóm siêu vi cúm A. Khởi đầu siêu vi cúm A chỉ ở trong cơ thể của cầm điểu và loài vật có vú (primary hosts). Sau đó chúng tiếp xúc với loài người và gây bệnh ở loài người (secondary host)
  • Siêu vi Influenza B thường sống trong loài người và có khả năng gây ra những trận dịch nhỏ (epidemic) tại một vài thành phố hay quốc gia
  • Siêu vi influenza C cũng thường sống trong loài người và heo không có khả năng gây ra những trận dịch hay đại dịch toàn cầu.

Lịch sử của cúm (History of Flu):

Nếu nói đến đại dịch cúm (pandemic flu) mà không nói đến lịch sử của cúm th́ chúng ta không hiểu tại sao cả thế giới lại lo sợ như vậy. Tôi đọc qua nhiều tài liệu nhưng tôi chỉ ghi nhận được thế giới bắt đầu ghi nhận những trận dịch cúm từ năm 1173. Theo Hirsch ghi nhận có 299 trận dịch trên thế giới từ năm 1173 cho đến năm 1875, cứ 2,4 năm có một trận dịch (epidemic). Có lẽ đă có những trận đại dịch toàn cầu từ lâu lắm rồi nhưng trận đại dịch toàn cầu đầu tiên được ghi nhận vào năm 1590. Sau đó đă có 31 trận đại dịch toàn cầu (Pandemic). Theo sự t́m hiểu của tôi về đặc tính của dịch cúm có lẽ xảy ra từ khi loài người bắt đầu thành lập những cộng đồng đầu tiên tại Trung Đông (Middle East) và tại Trung Hoa (China) và bắt đầu biết nuôi súc vật làm gia cầm (domesticating animal). Có nghĩa là đă xảy ra hơn 3.000 năm rồi nhưng loài người lúc ấy chưa có cách ghi lại những sự kiện lịch sử này.

Trong ṿng 400 năm nay, cứ mỗi 1-3 năm, chúng ta đă có một trận dịch về căm cúm (Flu epidemic). Nhưng măi đến năm 1933 Dr. Smith là người đầu tiên cô lập được siêu vi Influenza A. Sau đó, Dr. Francis t́m ra siêu vi Influenza B và Dr. Taylor t́m ra siêu vi Influenza C vào năm 1950. Năm 1936, Dr. Burnet ghi nhận rằng siêu vi cúm có thể cấy lên trứng gà đă được thụ tinh và nó đă giúp loài người làm ra thuốc ngừa cúm (inactivated vaccines). Năm 1941, bác sĩ Hirst phát hiện hiện tượng kết tụ máu của siêu vi cúm (hemagglutination) giúp cho việc đo lường và t́m kháng thể của siêu vi cúm dễ dàng hơn. Năm 1950, người ta đă t́m được cách cấy siêu vi cúm lên trên những tế bào động vật giúp việc nghiên cứu về siêu vi này dễ dàng hơn.

Năm 1918, cúm Tây Ban Nha (Spanish Flu) khởi đầu ở Mỹ nhưng khi chính phủ Tây Ban Nha chính thức tuyên bố trên thế giới nên người ta đặt tên là cúm Tây Ban Nha. Câu chuyện khởi đầu là cúm Tây Ban Nha (A/H1N1) xuất hiện lẻ tẻ tại Mỹ vào mùa Xuân năm 1918, số người mắc bệnh tăng lên vào tháng 8 năm 1918, đợt thứ 3 xảy ra vào mùa đông năm 1919. Riêng ở Mỹ có hơn 549.000 người mắc bệnh cúm và chết được kiểm chứng, người ta cho rằng số tử vong ở Mỹ vào 1918-1919 có thể lên đến 2 triệu người nhưng không được kiểm chứng. Cả thế giới, số người chết lên đến 21 triệu người. Người ta rút kinh nghiệm sau đây:

  • V́ chiến tranh thế giới lần thứ nhất (World War I) và số người bệnh và chết đa số c̣n trẻ và ở trong quân đội Mỹ thời đó. Chính phủ Mỹ thời đệ nhất thế chiến dấu diếm v́ sợ đối phương (Đức và Áo) biết được nên sự lan truyền nhanh chóng qua Âu Châu làm chết nhiều người. Nước Tây Ban Nha là một quốc gia không tham gia thế chiến thứ I nên đă công khai tuyên bố.
  • Cũng v́ chiến tranh nên số người tuổi trẻ tập trung đông đảo trong các trại lính thường đi về thăm gia đ́nh nên cơ hội cho cúm lan truyền nhanh chóng.
  • Cúm A/H1N1 rất dữ và lan thẳng vào trong phổi nên nhiều người bị viêm phổi do siêu vi (primary influenzal pneumonia). Do đó số người bị chết nhiều.

Chúng ta cũng nhớ lại dịch SARS (gây bởi Corona virus chứ không phải siêu vi cúm) năm 2003 cũng lan tràn thế giới v́ chính quyền Trung Quốc đă dấu diếm khi dịch vừa xảy ra. Ngoài ra, chính quyền Trung Quốc bắt nhốt những người sống gần hay tiếp xúc với bệnh nhân vào những bệnh viện chữa bệnh SARS. Cho nên những người đáng lẽ không bị bệnh cũng đă bệnh và chết. Người Hoa đă bỏ trốn làm vấn đề kiểm dịch càng khó khăn. Trận đại dịch năm 1918-1919 và 2003 (SARS) cho thấy rằng vấn đề y tế không nên dấu diếm v́ bất cứ một lư do nào. Cúm gia cầm (cúm gà) ở Việt Nam được khống chế tốt đẹp nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ Việt Nam, Thái Lan, Nam Dương, và Thổ Nhỉ Kỳ với mọi nước trên thế giới. Chính phủ Trung Quốc lần này hợp tác với Liên Hiệp Quốc (United Nations) tương đối khá hơn năm 2003. Chính v́ thế nếu bất cứ ai bị bệnh nhất là nóng sốt cao, đau nhức cơ thể và ho khan nên đi đến bệnh viện điạ phương để được chẩn đoán và điều trị cấp thời và càng không nên dấu diếm.

H́nh Dạng Của Siêu Vi Cúm Như Thế Nào?

Siêu vi cúm có h́nh khối tṛn (spherical) hay h́nh khối que (elongated). Kích thước của chúng vào khoảng 80- 120 nm (nano milimeter: một phần ngàn của một li).

Siêu vi cúm gia cầm/avian influenza A H5N1 (màu vàng)

 

H̀NH ẢNH CỦA SIÊU VI CÚM DƯỚI KÍNH HIỂN VI ĐIỆN TỬ

Đây là h́nh ảnh của siêu vi Influenza A USSR/77, H1N1 dưới kính hiển vi điện tử phóng đại 189.000 lần. Siêu vi này là anh em của cúm gia cầm H5N1.

 

Chúng được bao bọc trong một bao (envelop) và trên bề mặt của chúng có những gai (spikes) như h́nh vẽ dưới đây. Những gai này rất quan trọng trong việc lây truyền bệnh. Nó cấu tạo bởi glycoprotein và chia làm 2 loại:

  • Gai H (hemagglutinin spikes): siêu vi cúm dùng gai này để bám vào sialic acid trên bề mặt của tế bào người và loài vật (animals). Có 15 loại gai H, H1….H15 ở siêu vi cúm A
  • Gai N (neuranimidase spikes): có chứa phân hóa tố (enzyme) làm tan sialic acids (N-acetylneuraminic acid) có trong lớp glycoprotein của màng tế bào động vật. Siêu vi dùng gai này để tạo một lỗ hỏng trên bề mặt tế bào và từ đó siêu vi cúm đưa RNA của chúng vào tế bào. RNA này sẽ điều khiển tế bào động vật làm ra nhiều siêu vi cúm khác và tế bào động vật chết đi. Có 9 loại gai N: N1….N9 ở siêu vi cúm A
  • Vỏ bao bọc của siêu vi có lớp đạm M2 bên ngoài và lớp đạm M1 bên trong tạo thành một lớp vỏ siêu vi với chất đạm M. Lớp đạm M1 giúp cho siêu vi được ổn định (stabilized).
  • Bên trong vỏ siêu vi có 8 RNA ở siêu vi cúm A và B, mang tính di truyền của nó. Riêng siêu vi cúm C chỉ có 7 nhân di truyền (RNA). Các RNA này được gọi là nucleocapsid segments. Mỗi nucleocapsid có một RNA mang tính di truyền dính vào nucleoprotein (NP) của siêu vi và 3 polymerase proteins (PB1, PB2, và PA). Những chất đạm (RNA) bên trong của siêu vi rất quan trọng trong việc thay đổi h́nh dạng (antigenic shift and drift) của chúng và tạo ra độc tố cho những bạch cầu đơn nhân (specific cytotoxic T lymphocytes). Ngoài ra c̣n có 2 chất đạm khác (non-structural protein) gọi là NS1 và NS2.


Kiến Trúc Của Siêu Vi Cúm Được Đơn giản Hóa Theo H́nh Vẽ

Sau đây là những đặc tính của các siêu vi cúm (phần đọc thêm) :

Proteins of Influenza A Viruses

Protein

Function

Hemagglutinin (H or HA) Dùng bám vào bề mặt tế bào, tạo điều kiện cho siêu vi xâm nhập vào tế bào
Neuraminidase (N or NA) Dùng để cắt sialic acid trên bề mặt tế bào và siêu vi cúm, mở cửa cho siêu vi cúm xâm nhập vào tế bào.
PB1, PB2, PA Hoạt động của RNA polymerase; những đột biến để thích hợp với những thuốc chủng ngừa của các siêu vi cúm
Nucleoprotein (NP) Bao RNA của siêu vi cúm ; là địa điểm cho kháng thể
Matrix protein M1 Loại chất đạm thường thấy ở các siêu vi cúm; nó tạo thành lớp vỏ trong của siêu vi cúm
Matrix protein M2 Hoạt động đường hầm ion (ion channel activity) giúp siêu vi cởi bỏ lớp bao (uncoating); sự đột biến giúp đề kháng amantadine, rimantadine
Nonstructural protein NS1 Post-transcriptional regulator; inhibition of interferon-mediated antiviral responses; protein kinase, RNA activated, activity
NS2/nuclear export protein (NEP) Nuclear export factor

Sự Khác biệt giữa 3 siêu vi cúm như thế nào?

3 Siêu cúm có những đặc tính cơ bản giống nhau như cấu trúc và cách truyền bệnh: tất cả siêu vi cúm đều tấn công các tế bào chủ với một túi tṛn bao bọc bởi lớp glycoproteins với những gai H và N dùng làm nơi đưa một mảnh RNA (single-stranded RNA/opposite of mRNA).

Một RNA (nhân di truyền) cấu tạo bởi 2 mảnh RNA kết hợp với nhau như 2 con rắn quấn lấy nhau: 1 mảnh gọi là messenger RNA (người đưa tin) và 1 mảnh là đối nghịch messenger RNA (negative-stranded RNA).

 

 

 

 

ĐẶC TÍNH INFLUENZA A INFLUENZA B INFLUENZA C
DI TRUYỀN 8 nhân di truyền 8 nhân di truyền 7 nhân di truyền
CĂU TRÚC 10 loại đạm của siêu vi khác nhau 11 loại đạm của siêu vi khác nhau 9 loại đạm của siêu vi khác nhau
Đặc biệt là đạm M2 Đặc biệt là đạm NB Đặc biệt là đạm HEF
ĐỐI TƯỢNG
(HOST RANGE)
Người, Heo, Ngựa, Cầm điểu, Các loài có vú sống dưới biển (marine mammal) Chỉ có ở người Người và Heo
DỊCH HỌC Thay đổi về di truyền trong cùng một siêu vi (antigenic drift) và trao đổi về di truyền với các siêu vi cúm loại A khác (antigenic shift).

Thay đổi di truyền trong cùng một siêu vi xuất hiện theo thứ tự.

Thay đổi trong cùng một siêu vi cúm (antigenic drift only) có thể có nhiều siêu vi do sự thay đổi này xuất hiện cùng một lúc Thay đổi trong cùng một siêu vi cúm (antigenic drift only) có nhiều siêu vi do sự thay đổi này xuất hiện cùng một lúc
ĐẶC TÍNH
LÂM SÀNG
Có thể gây đại dịch lớn (large pandemic) và gây chết chóc cho nhiều người c̣n trẻ Thường gây bệnh nặng ở những người già yếu và những người có những bệnh măn tính. Chưa gây ra đại dịch trước đây. Gây bệnh nhẹ nhưng xảy ra bất cứ lúc nào trong năm.

Siêu vi cúm gây bệnh như thế nào ?

Người ta làm nhiều cuộc thí nghiệm và nhận thấy rằng những giọt nước nhỏ hơn 10 phần ngàn của 1 li (millimeter) mang siêu vi trùng cúm thường là nguyên nhân gây ra cúm v́ những giọt nước nhỏ như vậy có thể đi xuống tận những cuống phổi nhỏ li ti. Những giọt nước nhỏ này thường là những giọt nước miếng của người bệnh bắn ra khi họ ho, nhảy mũi, cười, nói…. Những giọt nước miếng này có thể tung tóe trong không khí và bay lơ lửng rất lâu trước khi rớt xuống đất. Hơn nữa, siêu vi cúm trong những giọt nước miếng này có thể sống được ở khí hậu thấp và tương đối khô. Đó là lư do tại sao bệnh cúm xảy ra nhiều vào mùa đông.

Nếu trong chỗ đông người, một người bệnh có thể truyền bệnh cho nhiều người cùng một lúc. Vào mùa lạnh, người ta có khuynh hướng tụ tập bên trong những nơi được sưởi ấm như nhà của họ, những nơi giải trí bên trong như xem phim, nơi mua sắm (shopping centers)… và những nơi sưởi ấm có những hệ thống sử dụng lại hơi nóng để giảm sự tiêu dùng năng lượng, những giọt nước miếng này sẽ luân lưu khắp ngôi nhà. Mọi người trong một ngôi nhà đều được thưởng thức những giọt nước miếng này. Hậu quả là sự lan truyền của bệnh cúm xảy ra rất nhanh chóng.

Khi vào trong đường hô hấp của nạn nhân, siêu vi cúm dùng gai H (hemagglutinin) bám vào nhóm sialic acid trên màng tế bào của lớp tế bào bên trên của các cuống phổi lớn và nhỏ (columnar epithelial cells of the respiratory tract). Gai N (neuraminidase) có h́nh cây nấm (mushroom shaped) của siêu vi cắt bỏ những nhóm sialic acids (N-acetyl neuraminic acid) của những glycoproteins trên màng tế bào và tạo ra những lỗ hỏng trên màng tế bào. Đạm NP (nucleoprotein) của siêu vi cúm đưa những hạt mầm (nucleocapsids) vào trong tế bào chủ. Hạt mầm siêu vi này cấu tạo bởi một mảnh nhân di truyền RNA có liên hệ mật thiết với đạm NP. Ở một đầu của nó có gắn với 3 đạm polymerase PB1, PB2, và PA. Những hạt mầm siêu vi này điều khiển nhân tế bào chủ đưa ra mRNA gắn đối nghịch với hạt mầm này và phát triển thành những siêu vi cúm mới. Siêu vi cúm đi ra khỏi tế bào chủ vài giờ trước khi các tế bào chủ kiệt quệ mà chết. Các siêu vi cúm mới bám vào các tế bào chủ khác. Chu kỳ này lại tái diễn và lan từ tế bào này qua tế bào khác rất nhanh chóng. Thời gian ủ bệnh (từ lúc ta hít siêu vi vào đường hô hấp đến khi triệu chứng bệnh phát ra) vào khoảng 18 giờ cho đến 72 giờ tùy thuộc vào số lượng siêu vi mà ta đă hít vào. Có nghỉa là ta hít siêu vi vào càng nhiều, bệnh cúm càng phát ra nhanh.

Cơ thể phản ứng với sự tấn công của siêu vi như thế nào?

Khi siêu vi cúm tấn công các tế bào của đường hô hấp (Ciliated columnar epithelium) và làm tan ră các tế bào này khi số siêu vi cúm mới được các tế bào chủ tạo ra. Đồng thời các tế bào này và cơ thể cũng gia tăng những hóa chất như interferon-α và interleukin-6. Interferon-α ngăn chận sự sinh sản của siêu vi cúm và gây ra triệu chứng nóng sốt. Interleukin-6 lôi kéo các bạch cầu (white blood cells) gây ra phản ứng viêm sưng tại chỗ để tiêu diệt siêu vi cúm. 2 hóa chất này có nồng độ cao nhất sau khi bệnh nhân nhiễm siêu vi cúm ở ngày thứ 2.

Khi siêu vi cúm nhiễm vào những tế bào máu ngoại biên như bạch cầu đa nhân (polymorphonuclear leukocytes), bạch cầu đơn nhân nhỏ (lymphocytes), và bạch cầu đa nhân lớn (monocytes) không gây ra triệu chứng bệnh nhưng nó gây ra những thiếu xót chức năng của những tế bào này đưa đến biến chứng của bệnh cúm. Những chức năng của những tế bào này bao gồm:

  • Chemotaxis: bài tiết ra những chất lôi kéo những tế bào chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn và siêu vi khuẩn do bạch cầu đa nhân (PMN)
  • Phagocytosis: bạch cầu đa nhân nuốt những siêu vi, vi khuẩn và những chất dơ bẩn. Chức năng này dùng để dọn dẹp sạch sẽ những sang thương và nhiễm trùng.
  • Proliferation: sự tập trung hay sinh sản do bạch cầu đơn nhân lớn (Monocytes) tại nơi nhiễm trùng bị giảm đi khi bị siêu vi cúm xâm nhập.
  • Costimulation: bạch cầu đơn nhân lớn cùng kích thích sự tập trung của các loại tế bào khác. Chức năng này bị mất khi tế bào này bị siêu si xâm nhập.


Dưới kinh hiển vi điện tử (Electron Microscope):

H́nh Bạch Cầu Đa Nhân Trung Tính (Neutrophil) với những chân giả (pseudopods) để bắt Vi Nấm Candida albicans



N
hững chức năng của các bạch cầu bị mất đi v́ sự sinh sản của siêu vi cúm (replication) và những độc tố của các chất đạm của siêu vi cúm như hemagglutinin, neuranimidase, và nucleoprotein. Người ta t́m thấy có một đoạn ngắn của nucleoprotein ngăn cản sự bài tiết chất lôi kéo các tế bào viêm sưng (chemotaxis) và chất oxít hóa được tạo ra (oxidative burst).

Dưới kinh hiển vi điện tử (Electron Microscope):

Bạch cầu đa nhân trung tính (Neutrophil) đang bắt vi khuẩn Staphylococcusaureus (S) vào túi tiêu hóa (Phagocytic vacuoles) theo mũi tên.


Người ta làm thí nghiệm ở những người khỏe mạnh khi nhiễm siêu vi cúm. Người ta nhận thấy rằng số lượng của interleukin-6 và interferon-α gia tăng lên trong nước mũi (nasal secretion) cao nhất vào ngày thứ 2. Những sự kiện này xảy ra cùng lúc với sự gia tăng số lượng của siêu vi cúm và sốt (fever). Chất TNF-α (Tumor Necrosis Factor-α) tăng lên khi siêu vi cúm bắt đầu bị thải ra (viral shedding) và triệu chứng của bệnh giảm đi. Chất interleukin-8 gia tăng lên cao một thời gian sau chất TNF-α lên cao (4-6 ngày), thường đi đôi với sự nhiễm siêu vi ở trong phổi (lower respiratory symptoms).

Trong lúc nhiễm siêu vi cúm, các tế bào bị nhiễm siêu vi chết đi (apoptosis) bởi tác dụng của kháng thể kháng tế bào (antibody-dependent cellular cytotoxicity), hỗn hợp kháng thể và complement, tế bào bạch cầu nhân nhỏ chống tế bào (cytotoxic T lymphocytes). Sự phát triển của tế bào bạch cầu nhân nhỏ chống tế bào đặc biệt cho siêu vi cúm giúp bệnh nhân phục hồi nhanh chóng. Ở những người với hệ thống miễn nhiễm yếu kém, những bạch cầu đơn nhân nhỏ như CD4 lymphocytes và CD8 lymphocytes bị giảm đi nên không tiết ra nhiều kháng thể để chống lại siêu vi nên bệnh nhân dễ bị bệnh nặng và có thể mất mạng. Những kháng thể này tấn công vào những gai H và N của siêu vi.

Những phản ứng của cơ thể (systemic antibody responses) sau khi cơ thể bị nhiễm siêu vi cúm, kháng thể chống lại siêu vi gia tăng lên sau 2 tuần:

  • Kháng thể chống gai H (antihemagglutinin antibody) chỉ ngăn ngừa được loại siêu vi cúm mà chúng ta đă nhiễm phải. Nếu siêu vi cúm thay đổi loại đạm H này (glycoprotein H) th́ cơ thể của chúng ta không ngăn được bệnh cúm trở lại. Loại kháng thể này bao gồm IgM, IgA, và IgG ngừa được bệnh cúm và sự nhiễm trùng của loại siêu vi này thôi.
  • Kháng thể chống gai N (antineuranimidase antibody) không ngừa được sự nhiễm siêu vi vào cơ thể (virus infectivity) nhưng nó chống lại sự xuất hiện của những siêu vi cúm tạo ra bởi những tế bào bị bệnh. Cho nên, sự thải siêu vi từ người bệnh (viral shedding) giảm đi. Đó là những quan sát trong pḥng thí nghiệm. Nhưng người ta quan sát trong trận dịch ở Hồng-Kông năm 1968 (A/Hong-Kong/68/H3N2 pandemic) và những thí nghiệm trên loài vật cho thấy kháng thể này có thể chống lại sự nhiễm siêu vi và bệnh, và giảm độ năng nhẹ của bệnh.
  • Kháng thể chống lại chất đạm M2 của siêu vi cúm cũng có tác dụng tưong tự với kháng thể chống gai N.

Ngoài ra, những kháng thể của đạm M và NP của siêu vi không có tác dụng trong việc pḥng ngừa và biến mất trong cơ thể từ vài tuần lễ đến vài tháng. Hai kháng thể H và N gồm những IgM trong máu. C̣n những kháng thể IgA và IgG được t́m thấy trong nước mũi (nasal secretion). Nhưng IgA có lẽ được tiết ra bởi những mô bạch huyết (lymphoid tissues) và đi vào nước mũi. Những thử nghiệm trên con người cho thấy rằng IgA ngừa sự tái nhiễm cùng một loại siêu vi cúm. IgG tạo ra bởi thuốc chủng ngừa (parenteral immunization) với siêu vi đă được làm bất động (inactivated virus) cũng có chức năng tương tự với IgA.

V́ sao chúng ta lại sợ bệnh cúm?

Cúm C không bao giờ gây ra những trận dịch, chỉ xảy ra lẻ tẻ (sporadic). Cúm B gây ra những trận dịch nhỏ có tính cách địa phương hay trong một quốc gia thôi (epidemic). Trái lại, cúm A có thể xảy ra thành những trận dịch (epidemics: xảy ra trong một địa phương, thành phố hay một quốc gia) và những trận đại dịch (pandemics: xảy ra ở 2 hay nhiều quốc gia trên thế giới và chết chóc cho nhiều triệu người trên thế giới). Đó là lư do tại sao cúm gia cầm (cúm gà) xảy ra ở Việt Nam nhưng cả thế giới lại lo sợ.

Ước tính số người chết v́ viêm phổi và những nguyên do khác liên quan với cúm và tổng số người chết v́ các lư do khác trong lúc có dịch cúm

Năm

Tỉ lệ các loại cúm t́m thấy trong lúc dịch xảy ra

Ước tính số người chết v́ viêm phổi và các nguyên do liên quan đến cúm

Ước tính số người chết v́ những nguyên do khác trong lúc dịch cúm xảy ra

H3N2

H1N1

B

1972/73

90

0

10

7.900 (5.500–10.300)

18.300 (1.200–35.000)

1973/74

20

0

80

0 0

0 0

1974/75

100

0

0

6.500 (4.100–8.900)

15.100 (0–32.100)

1975/76

70

0

30

11.800 (9.200–14.400)

24.600 (3.400–45.900)

1976/77

5

0

95

0 0

0 0

1977/78

60

26

14

8.300 (6.000–10.500)

46.200 (19.800–72.700)

1978/79

0

98

2

0 0

0 0

1979/80

2

1

97

5.100 (3.500–6.700)

17.300 (600–34.100)

1980/81

77

23

0

11.700 (9.100–14.200)

47.200 (27.800–66.600)

1981/82

1

24

75

2.100 (600–3.700)

0 0

1982/83

79

10

11

4.700 (2.800–6.700)

9.600 (0–19.200)

1983/84

5

50

45

3.500 (1.600–5.400)

8.200 (0–17.600)

1984/85

97

0

3

8.100 (6.600–9.600)

36.200 (17.700–54.700)

1985/86

24

0

76

6.700 (4.900–8.500)

34.000 (6.800–61.200)

1986/87

1.800 (1.100–2.500)

16.800 (1.900–31.700)

1987/88

0

80

20

7.400 (5.600–9.100)

33.400 (12.900–53.800)

1988/89

45

45

10

5.100 (3.600–6.600)

10.500 (800–20.200)

1989/90

90

1

9

10.100 (8.500–11.700)

43.600 (27.600–59.600)

1990/91

4

3

93

4.200 (2.400–6.100)

23.000 (0–46.000)

1991/92

19

81

0

6.600 (5.600–7.700)

41.700 (19.600–63.700)

Data from Table 153–3 in Treaner JL. Influenza virus. In: Mandell GL, Bennett JE, Dolin R, eds. Mandell, Douglas, and Bennett’s Principles and Practice of Infectious Diseases, ed. 5. Philadelphia: Saunders; 2000:1826; and Simonsen L, Clarke MJ, Williamson DW, et al. The impact of influenza epidemics on mortality. Introducing a severity index. Am J Public Health. 1947;87:1944–1950.

Trong bảng thống kê trên cho thấy số người chết v́ cúm A, H3N2 là nhiều nhất nhưng số người chết v́ cúm A, H1N1 và cúm B cũng không phải là ít. Không phải những trường hợp chết v́ cúm đều do viêm phổi, có những nguyên do chết khác liên quan đến cúm. Theo bảng thống kê trên đây vẫn chưa phản ảnh trung thực số người thật sự chết v́ cúm. Người ta ước chừng 51.000 người chết v́ cúm mỗi năm ở Mỹ! Theo Tecumseh Community Health Study ở Mỹ có từ 13,8 cho đến 18 triệu người dưới 20 tuổi ở Mỹ có bệnh về đường hô hấp mỗi năm do cúm. Và có 4,1 cho đến 4,5 triệu người lớn hơn 20 tuổi bị bệnh này ở Mỹ mỗi năm. Như vậy cúm tấn công người trẻ nhiều hơn người lớn tuổi có lẽ liên quan đến sự gia tăng đề kháng của người lớn tuổi đă trải qua những năm tháng bị bệnh trước đó. Ngược lại, số người chết v́ cúm nhiều hơn ở người lớn tuổi. Dĩ nhiên, những người bị những bệnh tim mạch, bệnh về hô hấp, những bệnh măn tính như bệnh tiểu đường, và những bệnh suy yếu về sự đề kháng của cơ thể (như bệnh AIDS/SIDA) dễ bị chết hơn những người khỏe mạnh. Cúm không những gây đau khổ cho người bệnh, nó c̣n ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của quốc gia. Nó có thể làm giảm nền kinh tế của một quốc gia đến 30-50 % sức sản xuất trong lúc dịch cúm xảy ra! Ở Winnipeg, Canada, tôi đă thấy nhiều xí nghiệp phải đóng cửa khi dịch cúm xảy ra v́ không có ai có thể làm việc được trong thập niên 1990. Cho nên, các xí nghiệp, bệnh viện, cơ sở thương mại… ở Canada buộc người công nhân phải chích thuốc ngừa và dĩ nhiên là miển phí. CDC (cơ quan kiễm dịch và pḥng bệnh) của tỉnh British Columbia đề nghị chính phủ tỉnh bang nên chích ngừa cúm cho tất cả mọi người dân miễn phí và chính phủ đang cố gắng đạt đến đề nghị này.

Thế nào gọi là dịch cúm (Epidemic Influenza)?:

Nhiều trường hợp bệnh cúm xảy ra trong một điạ phương, thành phố, quốc gia. Thường chỉ có một loại cúm xảy ra nhưng cũng có nhiều loại xảy ra cùng một lúc. Thường dịch cúm xảy ra vào tháng 1 đến tháng 3 mỗi năm ở Canada và Mỹ. Những thành phố lạnh như Winnipeg, Canada cúm có thể xảy ra sớm hơn. Trước năm 2000, tôi đă báo trường hợp cúm đầu tiên của mùa dịch cúm cho cơ quan nghiên cứu dịch tại Winnipeg vào tháng 11 trong 2 năm liền và đă được kiểm chứng. Cho nên, lúc c̣n làm việc tại nơi này tôi là một trong những tai mắt chính của cơ quan nghiên cứu về dịch cúm.

Thế nào gọi là đại dịch cúm (Pandemic Influenza)?:

Trái lại với dịch cúm thường thấy, đại dịch cúm xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới khi có một loại cúm mới xuất hiện có khả năng lây bệnh rất nhanh chóng v́ mọi người chưa có sự miễn nhiễm với loại cúm mới này. Cúm gia cầm H5N1 là một loại cúm mới xuất hiện chưa có nhiều người có khả năng miễn nhiễm với nó nhưng nó chưa có khả năng lây lan từ người sang người. Cúm H5N1 đă có khả năng lây từ các loại gia cầm và các loài cầm thú khác trong thiên nhiên qua người. Đây là bước đầu tiên để chúng đạt đến khả năng lây từ người sang người. Đây là lư do tại sao mọi người trên thế giới sợ cúm H5N1 này. Tại sao cúm A có thể gây ra đại dịch? Đây là những yếu tố căn bản của đại dịch:

  • Các loài chim thiên di, chúng di chuyển theo thời tiết và vùng có nhiều thực phẩm. Chúng là nơi siêu vi cúm ăn nhờ ở đậu chính (primary hosts). Chúng mang siêu vi từ vùng này sang vùng khác và truyền bệnh cho gia cầm trước rồi đến người
  • Sự di chuyển của con người từ vùng này sang vùng khác nhanh chóng bằng máy bay
  • Yếu tố thích ứng ở người nhanh chóng bằng cách mượn những di truyền của các siêu vi cúm ở người và những độc tính (virulence)

Thế nào gọi là dịch cúm quanh năm (Endemic Influenza)?:

Ở những vùng nhiệt đới (tropic) như Việt Nam, Trung Quốc, và các nước Đông Nam Á căn bản là những nước nặng về nông nghiệp (agriculture). Người dân nuôi gà, vịt, và heo ngay trong sân nhà. Sự tiếp xúc giữa người và gia cầm thường xuyên. Những cầm điểu sống trong nước (aquatic birds) là nơi mang siêu vi cúm A thường xuyên (influenza A carrier) tiếp xúc với gia cầm và truyền bệnh. Khi siêu vi cúm A thay đổi đặc tính để thích nghi trong cơ thể người, bệnh lại xảy ra ở người. Do đó, tại những quốc gia tôi vừa đề cập trên có những trường hợp cúm xảy ra quanh năm. Những chuyên gia về dịch cúm cho rằng các quốc gia này hiện nay và trong tương lai sẽ là cái nôi cho sự biến hóa và gây đại dịch của siêu vi cúm.

Tại sao các loại cúm, đặc biệt là cúm A lại có khả năng phát triển nhưng khả năng lây lan?

Cúm có một khả năng trao đổi và thay đổi những nhân di truyền (genes) trong cùng một siêu vi hay những siêu vi cúm khác nhau. Siêu vi cúm tấn công các tế bào chủ ở động vật hay con người bằng 2 gai H và N. Hai gai này là 2 glycoprotein nằm ṿng ngoài của siêu vi cúm. V́ thế, cơ thể tạo ra kháng thể chống lại 2 loại gai H và N. Khi siêu vi cúm thay đổi cấu tạo của 2 loại gai này, siêu vi cúm này trở nên xa lạ với cơ thể và nó được coi là một siêu vi cúm mới. Có hai loại thay đổi xảy ra: thay đổi nhỏ (antigenic drift) và thay đổi lớn (antigenic shift).

Thay đổi nhỏ (Antigenic Drift)

Khi có sự thay đổi của phân tử trong 1 hoặc cả 2 gai H và N. Sự kiện này thường xảy ra mỗi năm hay vài năm một lần. Sự thay đổi này xảy ra ở 1 hay nhiều chỗ trong 5 vị trí chính khác nhau trên phân tử của những gai H. Các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều vào gai H v́ gai này phải bám được vào màng tế bào chủ th́ Gai N của siêu vi mới cắt được màng tế bào và siêu vi mới đưa RNA vào trong tế bào chủ. Do đó, khi gai H hấp thu các amino acids vào trong phân tử của đạm H th́ sự thay đổi nhỏ sẽ xảy ra. Có sự trao đổi giữa các chất đạm trong một siêu vi cúm. Khi có sự thay đổi này, các kháng thể trong người không c̣n nhận ra siêu vi cúm mà họ đă mắc phải trước đây. Chúng ta tạm gọi là chúng có một bộ mặt khác cho nên cơ thể ta không nhận ra. Người ta đă làm nhiều cuộc thí nghiệm để chứng minh điều này.

Với sự thay đổi nhỏ này, một con cúm A có nhiều bộ mặt (làm cho cơ thể người ta nghỉ rằng có nhiều con khác nhau) xảy ra cùng một trận dịch. Và người ta nhận thấy rằng chỉ có một con cúm A gây ra một trận dịch thôi. Trái lại cúm C có thể có nhiều con khác nhau cùng gây bệnh trong môt địa điểm trong một thời gian. Cúm B vừa giống cúm A và C. Có nghĩa là có nhiều con cúm B có nhiều bộ mặt khác nhau (những thay đổi nhỏ).

Thay đổi lớn (Antigenic shift)

Như tôi đă tŕnh bày, các siêu vi cúm, đặc biệt là siêu vi cúm A có tên gọi khác nhau tùy thuộc vào kháng nguyên (H and N antigen) ở gai H và gai N. Khi một siêu vi cúm mới xuất hiện như cúm gia cầm H5N1, mọi người trên thế giới chưa có một chút kháng thể nào để chống lại nó. Kết quả là một trận đại dịch sẽ xảy ra. Sau nhiều lần tiếp xúc siêu vi cúm này, mọi người có miễn nhiễm về nó. Như tôi đă bàn trong phần sự thay đổi nhỏ, siêu vi cúm này vẫn gây những trận dịch nhỏ (epidemics) và ít gây chết người hơn. Sau một thời gian dài, một siêu vi cúm mới sẽ xuất hiện và có tính cách chu kỳ. Các nhà nghiên cứu siêu vi khuẩn cho rằng cứ 10-30 năm một siêu vi cúm mới lại xuất hiện. Đây là lúc mà siêu vi cúm mới xuất hiện. Đó là siêu vi cúm A/H5N1. Siêu vi cúm này mới vừa có khả năng lây từ gia cầm và cầm thú qua người thôi. Với một thời gian tiếp xúc với con người, tôi tin rằng cúm A/H5N1 sẽ tiếp thu những nhân di truyền của con người và nó sẽ có khả năng lây lan từ người sang người.

Ôn lại lịch sử của đại dịch cúm, siêu vi cúm A/H2N2 gây ra đại dịch năm 1889 sau đó siêu vi cúm A/H3N8 gây đại dịch năm 1901. Năm 1918, siêu vi cúm Tây Ban Nha (Spanish Flu) là siêu vi cúm A/H1N1 giết chết vài chục triệu người và sau đó cúm A/H2N2 (Asian Flu) lại gây ra đại dịch năm 1957. Năm 1968, đại dịch cúm Hồng Kông (Hong Kong pandemic) gây bởi siêu vi cúm A/H3N2 đă có thay đổi nhỏ (A/H3N2 subtype). Năm 1977, siêu vi cúm A/H1N1 với thay đổi nhỏ (A/H1N1 subtype) lại xuất hiện nhưng người ta không biết tại sao nó lại xuất hiện. Siêu vi này giống y hệt siêu vi cúm A/H1N1 xuất hiện năm 1950. Và cũng năm 1977, có 2 cúm A/H1N1 và A/H3N2 với những thay đổi nhỏ xuất hiện cùng một lúc.

Sự khác biệt về di truyền của các ḍng (subtypes) siêu vi trong nhóm (type) A, B, và C vào khoảng 30% hay nhiều hơn, ngăn ngừa chúng xuất hiện bởi một điểm đột biến đơn giản, và nguồn gốc của ḍng siêu vi gây đại dịch mới được nhiều người để ư đến và nghiên cứu v́ nhiều lư do dễ hiểu. Sự giải thích về nguồn gốc của sự việc này được nhiều sự đồng ư nhất dựa vào 3 nguyên tắc căn bản:

  • Siêu vi cúm phải có những di truyền đặc biệt mới gây ra đại dịch
  • Chỉ siêu vi cúm A mới có những di truyền gây ra đại dịch.
  • Các loài thú vật (animals) mới chứa những di truyền khác nhau (large reservoir of genetic diversity) của cúm A mà thôi. Sự kiện này không xảy ra ở cúm B và C.

Siêu vi cúm A gây bệnh ở nhiều loài khác nhau bao gồm: Người, Heo (Swine), Ngựa, các loài có vú ở dưới nước (Marine Mammals), và đặc biệt là các loài Cầm Điểu (Birds). Thật ra, có 15 ḍng có gai H khác nhau (H subtypes), và 9 ḍng có gai N khác nhau (N subtypes) ở trong các loài cầm điểu đă được xác nhận. May mắn là các ḍng siêu vi A trong loài cầm điểu không có khả năng gây nhiễm bệnh ở con người. Những cơ chế chính xác của phân tử (precise molecular mechanisms) để tấn công các loài vật của cúm gia cầm loại A (avian influenza A viruses) vẫn chưa được biết rỏ nhưng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này đă được biết. Có lẽ những tiến hóa của các nhân di truyền của siêu vi cúm A trong các loài cầm điểu làm cho các siêu vi này không tấn công các tế bào chủ của các loài có vú (mammalian host cell components). Sự biến đổi của siêu vi để truyền bệnh từ cầm điểu đến con người chứng minh vai tṛ của những nhân di truyền không những chỉ phát xuất từ gai H mà c̣n phát xuất từ những nơi khác của siêu vi cúm… Hơn nửa, chỗ tiếp xúc của gai H vào màng tế bào chủ ở loài cầm điểu (avian) và loài có vú (mammals) khác nhau. Ở loài cầm điểu, gai H của siêu vi (avian viruses) cúm A gắn vào vị trí α23 của cầu nối scialic acid-gallactose nhưng vị trí này thay đổi đến α26 ở loài có vú.

Một phân tích nhân di truyền kỷ lưỡng (extensive sequence analysis) cho thấy có ít nhất 2 cơ chế giúp siêu vi cúm từ cầm điểu lan truyền trực tiếp sang các loài khác. Những nghiên cứu này cho thấy rằng có sự giống nhau về thứ tự của khúc nhân di truyền (gene segments) của đạm H, N, và PB1 của siêu vi cúm A/H2N2 gây đại dịch và của các siêu vi cúm gia cầm (avian viruses), và sự giống nhau của những khúc nhân di truyền (gene segments) của đạm H3 và PB1 ở siêu vi cúm A/H3N2 gây đại dịch và siêu vi cúm gia cầm. Những điều này cho thấy rằng siêu vi mới gây đại dịch trong vài trường hợp nào đó, xuất phát từ sự tái xếp đặt (reassortment) giữa các siêu vi cúm trong cầm điểu cung cấp bề mặt của đạm glycoprotein (glycoprotein surface). Và siêu vi khuẩn ở người (human viruses) cung cấp nhân di truyền giúp siêu vi cúm ở cầm điểu gây đại dịch sinh sản (replication) trong tế bào chủ ở con người một cách hiệu quả. Sự tái sắp xếp của siêu vi cúm gia cầm ngoài ra được giúp đở của một loài thứ 3 có thể bị nhiễm bởi siêu vi cúm người và cú gia cầm, đó là loài heo (swine). Sự kiện này đă được chứng minh trong thiên nhiên. Người ta t́m thấy siêu vi cúm gia cầm khi truyền sang người cũng được t́m thấy trong loài heo. Tuy nhiên, có sự giới hạn về cơ chế này v́ hemagglutinins (của gai H) của những siêu vi cúm gây đại dịch mới đây không giống những nhân di truyền có trong những siêu vi cúm gia cầm hiện nay.

Cơ chế thứ 2 là cúm gia cầm (avian flu viruses) đạt đến khả năng truyền bệnh cho người bằng cách biến thái ở trong cơ thể loài heo trước rồi lan sang cho người. Để chứng minh cho điều này người ta phân tích nhân di truyền của cúm A/H1N1 gây đại dịch năm 1918 tương tự như cúm ở loài heo vào thời đó. Mới gần đây, người ta đă chứng minh được là khi đưa cúm A/H1N1 của cầm điểu vào loài heo, siêu vi này biến thái trong loài heo và có khả năng gây bệnh ở những loài có vú khác. Sự biến thái này có lẽ là do loài heo có 2 loại tiếp nhận (2 kinds of receptors: vị trí α2-->3 và α2-->6 của cầu nối scialic acid-gallactose) ở biểu b́ yết hầu (tracheal epithelium) của loài heo tiếp nhận được cả siêu vi cúm ở loài cầm điểu và loài heo nên siêu vi cúm ở cầm điểu có cơ hội biến thái thành siêu vi cúm của loài heo.

Sau hết, cúm gia cầm có thể truyền trực tiếp từ cầm điểu qua người mà không đi qua một loài thứ 3. Cúm gia cầm với 3 ḍng khác nhau là Hemagglutinin H5, H7, và H9 đă gây bệnh ở người như ở H5 và H7 đă gây những trường hợp cúm rất nặng và nhiều trường hợp gây chết cho người bệnh. Năm 1997, dịch gây bởi cúm H5N1 tại Hồng-Kông gây bệnh cho 18 người và làm chết 6 người. Tháng 2 năm 2003, H5N1 gây bệnh cho 2 người và 1 người chết. Đầu năm 2004 cho đến nay, H5N1 gây bệnh 147 người và giết chết 78 người cho đến ngày 10/01/2006 người tại Việt Nam, Kampuchia, Thái Lan, Trung Hoa, Nam Dương (Indonesia), Thổ Nhỉ Kỳ và số người chết lên đến hơn 50% số bệnh nhân. Riêng ở Việt Nam, có 93 người bị bệnh và chết 42 người chết gây bởi siêu vi cúm A/H5N1. Một trận dịch xảy ra của H7N7 ở Phần Lan (Netherlands) vào tháng 4 năm 2003 gây 87 người bệnh. Hầu hết, các người bệnh chỉ bị viêm giác mạc (conjunctivitis) và 1 người chết v́ có biến chứng nặng ở phổi. Ở giác mạc con người có chỗ tiếp nhận α23 nên cúm gia cầm có thể gây bệnh ở mắt dễ hơn. Có giả thuyết cho rằng cúm gia cầm có thể xâm nhập vào mắt con người trước rồi theo ống dẩn nước mắt (nasolabial canal) đi xuống mũi và cổ họng của người. Nơi đây, cúm gia cầm sẽ mượn những di truyền của người để có khả năng gây bệnh đường hô hấp ở người. Cúm A/H9N2 cũng gây ra bệnh ở người nhưng chỉ xảy ra ở người tiếp xúc nhiều với phân chim và sống trong vùng chăn nuôi và trồng trọt. Người ta cũng không hiểu rơ tại sao siêu vi cúm xuất hiện trong hệ hô hấp của con người nhưng không lan truyền từ người sang người. Có lẽ sau nhiều thế hệ của siêu vi, chúng sẽ xuất hiện ḍng có khả năng lây lan từ người sang người.
 

BỆNH CÚM Ở TRẺ CON

TRIỆU CHỨNG CÚM Ở TRẺ CON

Ở trẻ con, triệu chứng có thể thay đổi rất nhiều theo tuổi. Trẻ con dưới 5 tuổi, triệu chứng liên quan đến viêm thanh quản, yết hầu, và cuống phổi (laryngotracheobronchitis). 10-50% trẻ con dưới 5 tuổi có viêm sưng cuống phổi và viêm phổi (bronchopneumonia). Những trẻ con lớn hơn 5 tuổi có những triệu chứng như ở người lớn với triệu chứng như sốt cao và ớn lạnh đi kèm theo nhức đầu, đau cổ họng, đau nhức bắp thịt, mệt mỏi, biếng ăn, và ho khan.

Những triệu chứng của đường hô hấp trên (upper respiratory tract symptoms) với đặc tính ho khan ho gắt (dry hacking cough) nặng nhất vào ngày thứ 3-4 và kéo dài hơn 1 tuần trong khi các triệu chứng khác đă biến mất. Đau cổ họng thường xảy ra nhưng không có đàm (exudative pharyngitis). Hội chứng ho khàn nặng (croup syndrome) thường xảy ra ở bệnh giống-cúm (parainfluenza) nếu đi kèm với bệnh cúm (influenza) thường nặng hơn. Sự bài tiết của đường hô hấp xảy ra rất nhiều làm cho bệnh nhân khó thở và đặc biệt là sốt rất cao đi kèm theo. Đôi khi hội chứng này đi kèm theo sự nhiễm trùng thứ cấp của vi khuẩn (bacterial superinfection)

Những triệu chứng của đường hô hấp dưới (lower respiratory tract symtoms) như viêm sưng cuống phổi và phổi (bronchopneumonia) cũng giống như những triệu chứng do những bệnh nhiễm siêu vi khác ở phổi nhưng ta có thể phân biệt được là những người trong gia đ́nh cũng có cúm hay trong cộng đồng có những người cũng bị bệnh cúm. Hiếm khi viêm sưng phổi và cuống phổi do cúm gây ra đưa đến tử vong cho bệnh nhân nếu trước khi bị cúm, các trẻ em khỏe mạnh.

Viêm tai giữa cấp tính (acute otitis media) xảy ra vào khoảng 50 % ở những trẻ con nhỏ hơn 3 tuổi mắc bệnh cúm. Thường xảy ra 3-4 ngày sau khi bệnh nhân có triệu chứng viêm đường tiểu (urinary tract infection symptoms). Trong một nghiên cứu với 24 trẻ con nhỏ hơn 7 tuổi, 42% những trẻ con này có siêu vi cúm trong dung dịch của tiết ra ở tai giữa.

Triệu chứng về đường tiêu hóa với ói mữa (vomitting), đau bụng (abdominal pain), và tiêu chảy (diarrhea) thường xảy ra ở trẻ con hơn là ở người lớn. Kinh giật do sốt thường xảy ra ở trẻ con nhỏ hơn 3 tuổi. Nhưng bệnh cúm không luôn luôn đơn giản như tôi vừa đề cập ở trên. Những vấn đề làm bận tâm các bác sĩ nhiều nhất là những biến chứng của cúm v́ chúng gây ra tử vong. Tôi xin bàn luận sau.

BIẾN CHỨNG CÚM Ở TRÈ CON:

Nhiễm trùng thứ cấp (bacterial superinfection) thường xảy ra sau khi bị cúm. Như tôi đă đề cập ở trên, có 10-50% trẻ con bị nhiễm trùng cấp tính ở tai giữa (acute otitis media). Nhiễm trùng thứ cấp ở phổi (pneumonia) thường xảy ra với sốt và ho có đàm (productive cough) trong thời gian trẻ con b́nh phục bệnh cúm cùng với phim quang tuyến X cho thấy trắng xóa (lobar consolidation) ở một hay nhiều thùy phổi (lobe). Những vi trùng thường thấy xuất hiện ở bệnh nhân là Streptoccocus pneumoniae, Staphylococcus aureus, Haemophilus influenzae, và group A streptoccoci. Ngoài ra, nhiễm trùng thứ cấp với vi khuẩn Staphyloccocus aureus gây ra viêm yết hầu (bacterial tracheitis) và hội chứng trụy tim mạch do độc tố (toxic shock syndrome). Sự hiện diện của vi khuẩn do nhiễm trùng thứ cấp làm gia tăng khả năng của gai H trên siêu vi cúm do đó bệnh cúm càng ác tính hơn.

Viêm cơ tim (myocarditis) là biến chứng hiếm xảy ra ở bệnh cúm A và B với sự thay đổi của điện tâm đồ (electrocardiographic changes) với rối loạn nhịp tim và sự gia tăng của phân hóa tố ở tim (cardiac enzymes/CPK). Viêm năo (encephalitis) là một biến chứng bất thường. Những biến chứng khác của năo bao gồm encephalopathy, postinfluenza encephalitis, transverse myelitis, và hội chứng Guillane-Barré. Ngoài ra, Reye’s syndrome (encephalopathy và gan nhiễm mỡ/fatty liver degeneration) cũng không phải là biến chứng không thường xảy ra khi bệnh nhân bị cúm lại uống aspirin. Viêm cơ (myositis) với đau cấp tính (acute pain) và đau (tenderness) cơ bắp chuối (gastrocnemius muscles) và cơ thợ may (soleus muscles) khi đi bộ khi triệu chứng hô hấp của bệnh cúm B giảm. Số lượng creatinin kinase tăng lên tạm thời. Sự phục hồi hoàn toàn xảy ra trong ṿng 3-4 ngày. Rhabdomyolysis và suy thận xảy ra cũng hiếm.

Bệnh Ho Khàn (Croup)

Bệnh này có đặc điểm là bệnh nhân có tiếng ho rất nặng và ho khan. Đôi khi bệnh nhân có khó thở, đặc biệt khi bệnh nhân ở trong nơi nóng. Nếu bệnh nhân bước ra ngoài trời lạnh hoặc ở trong pḥng có máy lạnh, triệu chứng ho và dễ thở hơn. Bệnh do viêm yết hầu (tracheitis). Bệnh này thường là biến chứng của siêu vi cúm phụ (parainfluenza type 1 or 3) loại 1 hoặc 3, cúm A, cúm B, và respiratory syncytial virus. Biến chứng này ít trầm trọng ở cúm. Ở trẻ em có một hội chứng nhiễm vi khuẩn cấp tính có triệu chứng giống như ở cúm do nhiễm vi khuẩn Hemophilus influenza ở lưỡi gà (epiglotte) của trẻ con hay người lớn nhưng đặt biệt nguy hiểm ở trẻ con. Khi lưỡi gà của trẻ con sưng to, nó rất nguy hiểm. Nếu ta thọc cây đè lưỡi vào miệng và sâu trong cổ họng, lưỡi gà sẽ ngă ra sau và che kín yết hầu. Bệnh nhân sẽ bị chết v́ ngạt thở nếu không được cấp cứu đúng cách. Do đó, các bác sĩ nghe được tiếng ho này, họ không dám khám miệng trẻ con bằng dụng cụ (tongue depressor). Ai đă nghe qua tiếng ho này sẽ nhớ suốt đời.

 

Đây là một h́nh lưỡi gà (epiglotte) trong cổ họng bị sưng đỏ của một trẻ con bị nhiễm vi khuẩn Hemophilus influenza (không phải là siêu vi cúm/influenza)

 

Hội chứng của Reye (Reye’s Syndrome)

Hội chứng này xảy ra ở nhiều bệnh nhiễm siêu vi và đặc biệt là thường xảy ra ở những trẻ con bị bệnh cúm và thủy-đậu (Varicella-chickenpox). Đặc điểm của bệnh này là trẻ con bị lừ đừ (lethargy), nói sảng (delirium), nửa tỉnh nửa mê (obtundation), kinh giật (seizures) và có thể tắt thở (respiratory arrest) sau một cơn bị nhiễm siêu vi ở đường hô hấp. Đặt biệt là những trẻ con này được cha mẹ cho uống aspirin trong khi bị sốt hay những trẻ con này có một bệnh măn tính cần phải uống aspirin mỗi ngày. Do đó, tôi đề nghị mọi người không nên cho trẻ con uống aspirin khi bị nóng sốt ở bất cứ trường hợp nào. Nếu trẻ con phải uống aspirin cho một bệnh măn tính nào đó th́ chúng ta nên ngừng aspirin khi trẻ con bị sốt và liên lạc với bác sĩ của các cháu để tham khảo ư kiến về vấn đề này. Trong trường hợp trẻ con bị những bệnh cần phải uống aspirin mỗi ngày, cha mẹ của các cháu nên cho các cháu chủng ngừa các bệnh gây bởi siêu vi mà các bác sĩ đề nghị, và đặc biệt phải ngừa bệnh cúm mỗi năm.

BỆNH CÚM Ở NGƯỜI LỚN

TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH CÚM Ở NGƯỜI LỚN

Một bệnh cúm A (influenza A) không có biến chứng thông thường xuất hiện một cách đột ngột sau thời gian ủ bệnh từ 1-2 ngày. Có nhiều bệnh nhân có thể cho biết chính xác giờ xảy ra của triệu chứng. Khởi đầu, triệu chứng chính (systemic symptoms) bao gồm sốt (feverishness), ớn lạnh (chilliness), hay chỉ ớn lạnh và run rẩy (frank shaking chills), nhức đầu (headaches), đau bắp thịt (myalgia), mệt mỏi (malaise), và biếng ăn (anorexia). Trong những trường hợp bệnh nặng, xuất mồ hôi xảy ra.

  • Sốt (fever) càng cao bệnh càng nặng: nhiệt độ lên từ 39ºC và có thể lên cao hơn 42ºC. Trong ṿng 12 giờ, những triệu chứng chính khác cũng xuất hiện (systemic symptoms). Sốt liên tục và đôi khi cũng lên xuống đặc biệt khi bệnh nhân uống thuốc hạ sốt. Vào ngày thứ 2 và 3, sốt thấp hơn ngày thứ 1 khoảng 0.5ºC. Sốt kéo dài khoảng 3 ngày nhưng cũng có thể kéo dài 4-8 ngày. Khi sốt giảm đi, các triệu chứng khác cũng giảm theo. Có một số trường hợp, sốt đột nhiên lên cao trở lại vào ngày thứ 3 và ngày thứ 4. Trong giai đoạn đầu của bệnh cúm, người bệnh mệt mỏi, lừ đừ, mặt đỏ, da ẫm ướt và nóng. Màng nhầy (mucosa) của cổ họng (throat) và mũi (nasal mucosa) hơi đỏ và ẫm ướt nhưng không có đàm (exudate)
  • Đau nhức bắp thịt thường ở tay, chân và những bắp thịt dài (long muscles) của lưng. Ở trẻ con, đau nhức bắp chuối (calf) ở chân có thể nổi bật hơn hết. Đau nhức bắp thịt ở mắt có thể xảy ra khi người bệnh liếc ngang (lateral gazing).
  • Các triệu chứng khác của mắt có thể xảy ra như chảy nước mắt (tearing) và nóng rát mắt (burning), và mắt đỏ.
  • Đau nhức rả rời các khớp xương (arthralgia) nhưng không giống như những bệnh thấp khớp (arthritis)
  • Những triệu chứng của đường hô hấp (respiratory tract symptoms): ho khan (dry cough), đau cổ họng dữ dội (severe pharyngeal pain), nghẹt mũi (stuffy nose), và sổ mũi (runny nose) thường xuất hiện lúc ban đầu của bệnh nhưng người ta thường không đề cập đến v́ những triệu chứng khác (systemic symptoms) làm cho bệnh nhân than phiền nhiều hơn. Khô cổ (dry throat) hay đau cổ họng (sore throat) và khan tiếng (hoarseness) có thể kéo dài hơn 3-4 ngày. Khi những triệu chứng chính giảm đi vào ngày thứ 4 của bệnh th́ những triệu chứng ở cổ họng trở nên là những than phiền chính của bệnh nhân. Ho khan cũng là triệu chứng phiền phức cho bệnh nhân và thường đi theo với tức ngực hoặc nóng rát ngực. Những triệu chứng về hô hấp của bệnh cúm giống với những bệnh về đường hô hấp khác nhưng ta có thể phân biệt được nhờ vào những triệu chứng chính của bệnh cúm.

Ở những người cao niên, triệu chứng bệnh có thể hơi khác với những triệu chứng vừa kể trên. Họ có thể có những triệu chứng như sốt cao, lassitute, và lăng trí (confusion). Những triệu chứng đường hô hấp có thể không xảy ra.

Những triệu chứng của bệnh cúm B (influenza B) giống như ở bệnh cúm A nhưng nhẹ hơn. Trái lại bệnh cúm C (influenza C) triệu chứng giống như căm không có sốt (afebrile common cold) và bệnh cúm C chẳng bao giờ gây ra bệnh dịch (epidemic)

BIẾN CHỨNG CÚM Ở NGƯỜI LỚN

Biến chứng hô hấp xảy ra ở người cao niên thường xuyên hơn những người c̣n trẻ, dưới 65 tuổi.

Viêm phổi do siêu vi cúm (Primary Influenza Viral Pneumonia)

Biến chứng này của bệnh cúm lần đầu tiên mô tả vào vụ dịch cúm năm 1957-1958. Khởi đầu, triệu chứng bệnh cúm xảy ra như những bệnh nhân khác nhưng các triệu chứng như sốt, ho, khó thở (dyspnea), và người bị tím đi (cyanosis) đi theo sau một cách nhanh chóng. Sau đây là một phim quang tuyến X ở phổi một bệnh nhân đàn ông 55 tuổi với nóng sốt và có nhiều những đốm trắng (diffuse reticulonodular infiltrates) ở 2 đáy phổi. H́nh này cho thấy đặc tính viêm phổi do cúm nhưng nó vẫn chưa là h́nh điển h́nh của biến chứng này:

Những đốm trắng (diffuse reticulonodular infiltrates) ở 2 đáy phổi

Ờ những người bệnh như thế này không thấy vết nám ở phổi như bệnh viêm phổi do vi khuẩn (bacterial pneumonia). Người bệnh có triệu chứng hô hấp cấp tính với thiếu dưỡng khí (hypoxia) khi đo lượng oxy trong máu. Khi khám nghiệm đàm (sputum gram stain) không thấy những vi khuẩn gây bệnh đặc biệt nhưng người ta t́m thấy nhiều siêu vi cúm trong mẫu nghiệm. Những bệnh nhân này không cần kháng sinh (antibiotic) để trị liệu. Họ cần máy thở và dưỡng khí (oxygen) khi triệu chứng nặng quá. Ngoài ra, những trị liệu trợ giúp khác cần thiết cho đến khi siêu vi biến mất và bệnh nhân b́nh phục trở lại. Những bệnh nhân bị cúm nặng phải được điều trị tại bệnh viện được trang bị những kỹ thuật hiện đại th́ cơ hội sống sót mới cao. Khi xem phim quang tuyến X của phổi ở người bệnh nhân viêm phổi do siêu vi cúm thường dễ lầm lẫn với nhiễm vi khuẩn Mycoplasma pneumoniae. Cho nên chúng ta nên có biện pháp ngừa bệnh cúm cho những người lớn hơn 65 tuổi, những người có những bệnh măn tính, trẻ con từ 7 tháng cho đến 12 tháng, và các người phụ nữ mang thai từ 3 tháng cho đến lúc sanh.

Viêm phổi do nhiễm vi khuẩn thứ cấp:

Viêm phổi do nhiễm vi khuẩn thứ cấp cũng giống như viêm phổi do vi khuẩn khác. Biến chứng này thường xảy ra ở những người cao niên trên 65 tuổi hay ở những người bị bệnh về tim mạch, bệnh phổi măn tính (chronic pulmonary diseases) như viêm cuống phổi măn tính (kinh niên) trong Anh ngữ gọi tắc là COPD (Chronic Obstructive Pulmonary Disease), bệnh về dinh dưỡng như bệnh tiểu đường (diabetes mellitus type 1 & 2), và các bệnh khác. Triệu chứng gồm nóng sốt, ho có đàm (productive cough), phim quang tuyến X cho thấy có những vết nám (consolidation), và cấy đàm (sputum culture) thường thấy những vi khuẩn gây bệnh ở người như Streptoccocus pneumoniae hay Haemophilus influenzae nhưng vi khuẩn Staphyloccocus aerius cũng thường thấy xuất hiện trong mẫu xét nghiệm. Loại vi khuẩn Staphyloccocus aerius không thường thấy ở những bệnh viêm phổi do vi khuẩn trong cộng đồng (community-acquired bacterial pneumonia) và loại vi khuẩn này rất dử gây chết bệnh nhân nhiều hơn hai loại kể trên. Nói chung những bệnh nhân có những bệnh măn tính dễ bị biến chứng này

Những biến chứng phổi ở người có hệ thống miễn nhiễm bị suy yếu

V́ một lư do ǵ đó, những biến chứng ở phổi không xảy ra thường ở những người bị bệnh nhiễm HIV (SIDA/AIDS) nhưng người ta cũng thấy vài trường hợp bệnh cúm với biến chứng phổi ở người nhiễm HIV và nó nặng hơn những người khác.

Những trẻ con bị ung thư bị cúm thường nặng hơn và dễ bị viêm phổi hơn những trẻ con cùng lứa tuổi lành mạnh trước khi bị bệnh cúm. Và những bệnh nhân bị ung thư bạch huyết (leukemia) và bệnh nhân được ghép tủy (bone marrow transplant) bị cúm dễ bị viêm phổi và chết hơn người b́nh thường trước khi bệnh. V́ một lư do nào đó người ta nhận thấy rằng những bệnh nhân với hệ thống miễn nhiễm suy yếu không bị cú nhiều như những siêu vi khác như paramyxoviruses. Người ta c̣n nhận thấy rằng những trẻ con bị nhiễm HIV với số lượng bạch cầu đơn nhân nhỏ CD4 (CD4 lymphocytes) trong máu thấp thời gian siêu vi cúm thải ra (viral shedding) kéo dài hơn những trẻ con không bị nhiễm HIV. Cho nên, sự sinh sản (replication) của siêu vi cúm kéo dài và sự kháng thuốc trị siêu vi cúm dễ xảy ra nếu ta dùng thuốc kháng siêu vi trị những bệnh nhân này. Không có nghiả ta không điều trị cho nhưng người này. Ta điều trị cho họ và kiểm soát sự bài tiết siêu vi ra ngoài thường xuyên hơn.

Biến chứng ở người bị bệnh phổi măn tính (Exacerbation of chronic lung disease)

Những bệnh phổi măn tính như: viêm cuống phổi măn tính (chronic obstructive pulmonary disease), bệnh phổi hóa nan bẫm sinh (cystic fibrosis), hen suyễn (asthma)…. Khi người có những bệnh này mắc phải cúm, những bệnh này trở nên trầm trọng và có thể mất mạng.

Theo bác sĩ Fry: trong 5 trận dịch cúm (5 sucessive flu epidemics) vừa qua xảy ra với mức độ cứ 100 người bị cúm có 9.5 người có biến chứng ở đường hô hấp. Ở 100 người từ 5-50 tuổi bị cúm có 4-8 người có biến chứng ở phổi. Tỉ lệ này tăng lên nhanh chóng ở tuổi lớn hơn 60. Và cứ 100 người trên 70 tuổi bị cúm có 73 người có biến chứng ở đường hô hấp. Theo bác sĩ Foy và những cộng sự viên tổng kết 6 cơn dịch vừa qua cho thấy cứ 7 người bị viêm phổi do cúm có 6 người có cả viêm phổi do siêu vi cúm và viêm phổi do các vi khuẩn.

Viêm cơ (Myositis)

Viêm cơ và chất đạm của bắp thịt (myoglobin) xuất hiện trong nước tiểu (myoglobinuria) có thể làm nghẽn thận và gây ra suy thận cấp tính và có thể mất mạng. Ở trẻ con thường có triệu chứng đau bắp thịt ở chân và chất creatinin phosphatase trong máu (serum creatinin phosphatase/gọi tắt là CPK) lên cao. Sự kiện này xảy ra ở cúm A và B (influenza A & B) nhưng nó xảy ra ở cúm B nhiều hơn. Những triệu chứng này có thể xảy ra ở người lớn. Nếu triệu chứng quá nặng, bệnh nhân có thể không đi đứng được.

Những biến chứng ở tim (Cardiac Complications)

Những biến chứng xảy ra ở tim như viêm màng bao tim (pericarditis) và viêm cơ tim (myocarditis) hiếm khi xảy ra ở cúm A và B. Tuy nhiên, vài nhà khảo cứu cho rằng cúm có liên quan đến nhồi máu cơ tim (myocardial infarction). Mọi người đều đồng ư rằng những người có những bệnh tim dễ bị mất mạng nếu bị bệnh cúm.

Hội chứng trụy tim mạch do độc tố (Toxic Shock Syndrome)

Trong những trận cúm vừa mới xảy ra, người ta nhận thấy có những hội chứng giống như hội chứng trụy tim mạch do độc tố của vi khuẩn Staphylococcus gây ra ở những trẻ con và người lớn trước đó rất khỏe mạnh. Hội chứng này có đặc tính là người nhiễm vi khuẩn Staphyloccocus bị sốt cao và bị trụy tim mạch nhanh và bệnh nhân bị mất mạng dễ dàng. Người ta cho rằng siêu vi cúm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của vi khuẩn Staphyloccocus và làm vi khuẩn này trở nên độc hại hơn.

Những biến chứng ở hệ thần kinh

Những biến chứng ở hệ thần kinh của người lớn như Guillain-Barré syndrome, tranverse myelitis (viêm tủy sống) và encephalitis (viêm năo) hiếm khi xảy ra và ít được chứng minh là do siêu vi cúm.

LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC LÀ BỆNH NHÂN CÓ BỆNH CÚM ?

Để chẩn đoán bệnh cúm dựa vào triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm mẫu bệnh lấy từ nước mũi và cổ họng (nasal swab and throat swab). Ngoài ra, chúng ta có thể thử nghiệm máu để t́m kháng thể đặc biệt cho siêu vi cúm. Về kỹ thuật, tôi không muốn đi sâu vào v́ đó chỉ dành cho bác sĩ và chuyên viên pḥng xét nghiệm bận tâm.

Point-of-Care Rapid Diagnostic Tests for Influenza

Name

Spectrum

Principle

Assay Method

Time/No. of Steps

Sensitivity

Specificity

Directigen Flu A (Becton Dickinson) A Antigen binds to an antibody-coated filter EIA (immunom-
embrane
filter assay)
15 min/8 steps 67%–96% a 88%–97% a
ZstatFlu (ZymeTx) A and B Neuraminidase cleaves a chromogenic substrate Colorimetric neuramini-dase enzyme assay 30 min/4 steps 65% for influenza A and 57% for influenza B 95%–100%
Flu OIA (Biostar) A and B Antigen binds to an antibody-coated wafer, thereby changing the optical thickness and altering the path of reflected light Optical EIA to detect viral nucleoprotein 17 min/7 steps 77% a vs culture, DFA, and PCR 93% a vs culture, DFA, and PCR
Quickvue (Quidel) A and B Extracted antigen binds to antibodies coated on a test strip, thereby resulting in a color change Immunoassay to detect viral nucleoprotein 10 min 73%–81% vs culture 95%–99% vs culture
Abbreviations: DFA, direct fluorescence assay; EIA, enzyme immunoassay; PCR, polymerase chain reaction.
Modified from Cox NJ, Subbarao K. Influenza. Lancet 1999;354:1277–1282.

CÁCH TRỊ LIỆU VÀ NGỪA BỆNH CÚM:

Những người đă bị cùng một loại cúm thường không bị mắc bệnh trở lại v́ khi siêu vi cúm đă gây ra sự miễn nhiễm. Cơ thể tạo ra những kháng thể IgM, IgA, và IgG kháng lại gai H, gai N, và đạm M2. Những kháng thể này bẻ găy những gai này và đạm của vỏ siêu vi M2. Do đó, siêu vi cúm không có cơ hội để xâm nhập và gây bệnh. Khi siêu vi cúm thay đổi một chút về di truyền ở những gai này, người đă nhiễm siêu vi này cũng sẽ bị nhiễm trở lại nhưng không bị bệnh nặng như lúc đầu. Cho nên, những người này không cần phải được điều trị bằng thuốc . Những người bị bệnh th́ nên được điều trị bằng thuốc trong ṿng 24 giờ đầu tiên trể nhất là 48 giờ đầu tiên khi triệu chứng phát ra. Sau 48 giờ khi bệnh phát ra, trị liệu bằng thuốc không có giá trị v́ siêu vi đă làm xong nhiệm vụ của chúng rồi và sự hư hại của cơ thể đă xảy ra. Mục đích tri liệu bằng thuốc là giới hạn những sự hư hại này. Vấn đề trị cho bệnh nhân với suy yếu miễn nhiễm trễ hơn vẫn c̣n là nghi vấn.

Tôi bàn luận về thuốc trị siêu vi cúm nhằm mục đích khuyên mọi người không nên tự dùng thuốc một cách vô ích hay vô trách nhiệm. Một khi siêu vi kháng thuốc và chúng kháng thuốc rất dễ hơn các loại vi khuẩn và siêu vi khác, nhân loại không có ǵ chống đỡ một khi siêu vi cúm A thay đổi h́nh dạng mà tôi đă nói đến. Kết quả là khi những đại dịch (pandemic) xảy ra sẽ có vài triệu cho đến vài trăm triệu người sẽ bị thiệt mạng! Đó là lư do tại sao Tamiflu đă bị cấm bán ngoài thị trường nhưng khi người bị bệnh th́ tại các bệnh viện sẽ cung cấp thuốc và được sử dụng bởi những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm. Hơn nữa, thuốc nào cũng có biến chứng của nó. Nên để người chuyên nghiệp chỉ dẫn cách sử dụng an toàn hơn.

NHỮNG THUỐC CÓ THỂ TRỊ ĐƯỢC CÁC LOẠI SIÊU VI CÚM

LOẠI THUỐC CÁC LOẠI VÀ D̉NG SIÊU VI CÚM (TYPE/SUBTYPE)

50% inhibitory concentration (IC50 )

Cell culture (µM/l) Neuraminidase enzyme (nM/l)
Amantadine[49] A/H1N1 5.3–7.3 NA
A/H3N2 1.1–4.4 NA
Rimantadine[49] A/H1N1 0.6–0.62 NA
A/H3N2 0.1–3.0 NA
Zanamivir[26] A/H1N1 0.02–0.07 0.3–0.7
A/H3N2 0.004–0.241 1.7–4.6
B 0.03–0.15 1–17.0
Oseltamivir[50] A/H1N1 0.02–0.94 0.69–2.2
A/H3N2 0.0006–0.04 0.21–0.56
B 0.091–0.16 0.8–24.0
Note: Concentrations for inhibition in cell culture are express in µM, whereas those for neuraminidase enzyme inhibition are expressed in nM. Results of representative publications.

THUỐC NGĂN CHẬN ĐẠM M2 CỦA SIÊU VI CÚM
(M2 Inhibitors: AMANTADINE & RIMANTADINE)

Thuốc này chận những đường trao đổi di truyền (ion channels) của siêu vi được cấu tạo bởi đạm M2 của siêu vi. Đạm M2 làm acid hóa bên trong siêu vi để tác động vào những đường hầm ion (ion channels) mở ra. Và thuốc đi vào trong siêu vi ngăn chận acid hóa bên trong. Sự kiện này ngăn chận đạm NP (nucleoprotein) tác động với các chất đạm khác (matrix).

Theo Anh ngữ, họ gọi là chận siêu vi cởi áo (inhibition of virus uncoating). Ở siêu vi cúm B và C, những thuốc này cũng tác dụng tương tự nhưng vẫn không ngăn được bệnh. Cho nên 2 loại thuốc này chỉ dùng để điều trị bệnh cúm A nhưng không phải loại cúm A nào chúng cũng trị được, CHÚNG KHÔNG TRỊ ĐƯỢC CÚM GIA CẦM H5N1.

Thuốc trị cúm này được thải ra theo đường tiểu, nhưng amantadine thải ra tương đối dễ hơn rimantadine nên người ta dùng amantadine nhiều hơn. V́ chúng được thải ra ở thận nên những bệnh nhân cao niên thận luôn luôn yếu hơn người trẻ hơn và những người bị suy yếu thận, liều lượng cả 2 thuốc này phải được giảm.

Tôi không muốn đi vào chi tiết v́ người Việt thích tự làm bác sĩ và dễ tạo ra kháng thuốc. Đây là điều nguy hiểm cho người bệnh và nhân loại.

THUÓC NGĂN CHẬN GAI N
Neuraminidase Inhibitors: Zanamivir/RELEFANT, Oseltamivir/TAMIFLU

Những thuốc này trị được những cúm ở người và cúm gia cầm. Tamiflu là một thuốc được nhắc đến và biết đến nhiều nhất trên thế giới hiện này. Người ta đă phát hiện 2 trường hợp siêu vi cúm gia cầm H5N1 kháng lại thuốc này và bệnh nhân là người Việt tại Việt Nam đă qua đời. Đây là một bằng chứng nữa, chúng ta không nên sử dụng thuốc bừa băi.

Cơ chế của loại thuốc này là bẻ găy gai N. Như tôi đă đề cập, gai H của siêu vi bám vào những gốc scialic acid ở trên màng tế bào chủ. Gai N cắt đứt những gốc scialic acids giúp cho siêu vi cúm đưa những đạm của chúng vào tế bào chủ và điều động tế bào chủ tạo ra những siêu vi mới. Nếu những gốc scialic acid này c̣n nguyên vẹn trên màng tế bào th́ siêu vi cúm sẽ không điều khiển tế bào chủ được. Thuốc Zanamivir được làm ra ở dưới dạng bột và hít vào đường hô hấp. Những người có bệnh suyễn (asthma) sẽ bị khó thở v́ các cuống phổi sẽ bị co thắt khi thuốc đi vào đường hô hấp. Thuốc Oseltamivir được chế tạo dưới dạng viên để uống nên dễ sử dụng hơn. Đó là lư do tại sao nhiều người nhắc nhở đến thuốc này và cũng v́ đó mà thuốc đă bị siêu vi cúm gia cầm H5N1 kháng. Ngoài ra, những loại thuốc này cũng có nhiều phản ứng phụ như ở người bị suyễn và trẻ con.

GUANOSIN ANALOGUE (VIBAVIRIN)

Vibavirin là một guanosin analogue có thể dùng để trị bệnh gây bởi nhiều loại siêu vi khác nhau, bao gồm siêu vi cúm, repiratory syncytial virus (RSV), parainfluenza viruses, và adenoviruses. Vibavirin được phosphate hóa (phosphorylated) nhanh bởi các phân hóa tố trong tế bào và tạo ra triphosphate. Triphosphate ngăn chận những hoạt động của RNA polymerase. Nó cạnh tranh với đạm của siêu vi và ngăn chận guanosin triphosphate-dependent dính vào một đầu của messenger RNA từ siêu vi cúm. Ngoài ra, vibavirin làm giảm số lượng dự trử guanin của tế bào con người.

Pha vibavirin vào nước biển (IV solution) và truyền thẳng vào máu giúp trị siêu vi cúm ở vài người bị suy hệ thống miễn nhiễm. Ngoài ra, uống vibavirin có thể trị bệnh SARS. Thuốc này cũng có nhiều biến chứng, tôi không nghĩ rằng những bác sĩ với ít kinh nghiệm về thuốc này có thể dùng nó. Và những người bệnh lại càng không nên đụng đến thuốc này.

THUỐC CHỦNG NGỪA CÚM

Trên nguyên tắc chủng ngừa là một biện pháp hữu hiệu nhất nhưng tại sao chúng ta không làm thuốc chủng (flu vaccines) liền bây giờ mà ngồi đợi và run ?

Tôi đă bàn luận qua những sự thay đổi nhỏ (antigen drift) và thay đổi lớn (antigen shift) của siêu vi và cũng nên nhắc lại lời của các chuyên gia cúm Canada: siêu vi cúm rất lôi thôi (sloppy), gàn dở, tâm tính thay đổi bất thường (capricious), và lang chạ (promiscuous). Những điều này cho thấy siêu vi cúm như nhà ảo thuật. Siêu vi ta thấy ngay hôm nay, nó sẽ đổi khác vài tháng sau cho nên sự bào chế thuốc chủng ngừa rất khó khăn. Mọi vật đều có nguyên tắc của chúng. Thông thường, một dịch cúm xảy ra, một năm trước đó chúng xuất hiện với số trường hợp ít xảy ra. Các chuyên gia cúm như những thám tử. Khi thấy có xuất hiện những ḍng cúm mới trên thế giới, các chuyên gia này liền nghiên cứu những đặc tính của nó và bào chế thuốc chủng ngừa kịp thời trước khi mùa cúm mới xảy ra. Chính v́ những lư lẽ này, các quốc gia trên thế giới đă hợp tác với nhau và thành lập một mạng lưới t́nh báo về dịch cúm. Canada lănh đạo tổ chức này v́ họ có nhiều kinh nghiệm và kiến thức về siêu vi cúm.

Trong suốt 2 năm qua, các chuyên viên người Canada đă cộng tác chính phủ Việt Nam trong việc pḥng chống dịch cúm tại Việt Nam. Mỹ là quốc gia đă giúp Việt Nam nhiều nhất về tài chánh và kỹ thuật trong việc chống lại cúm gia cầm H5N1. 

Kỹ thuật làm thuốc chủng ngừa cúm tại Canada là họ phân tích những nhân di truyền (sequence analysis) và sau đó dùng kỹ thuật đảo ngược di truyền (reverse genetic technology) để làm cho siêu vi cúm mất hết khả năng gây bệnh nhưng vẫn kích thích cơ thể con người làm ra những kháng thể chống siêu vi đó. Sau đó, họ cấy siêu vi cúm đă bị biến tính lên phôi thai của trứng gà. V́ thế, những ai dị ứng với trứng không nên chích thuốc ngừa này. Theo Canadian Medical Association Journal, số ra ngày 1 tháng 3 năm 2005 ghi rằng Vancouver-based ID Biomedical Corporation đă bào chế thử thuốc chủng ngừa giúp con người chống lại cúm H5N1 mà Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization) tin rằng nó sẽ gây ra đại dịch cho thế giới sắp tới.

Mỹ cũng đă chế tạo được thuốc chủng ngừa cúm gia cầm H5N1 vào năm 2004 và đă thành công trong việc thử thuốc vào năm 2005.

Nhờ vào sự thành công này, nếu đại dịch xảy ra họ sẽ bào chế thuốc ngừa nhanh hơn.

Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Sự Lây Lan

Những biện pháp cách ly và bảo vệ lao động là tuyến đầu ngừa bệnh.

  • Như tôi đă đề cập phân chim (bird drops) là chiếc xe chuyên chở siêu vi cúm vào cơ thể của chúng ta. Chúng ta khi tiếp xúc với gia cầm hiện nay nên đeo khẩu trang (mask), kính che mắt (goggle), áo choàng, bao tay (gloves), và giày ống (boots). Sau khi tiếp xúc xong, ta nên tẩy trùng hoăc đun sôi để giết chết siêu vi.
  • Không nên nuôi hay giữ gia cầm hoặc gia súc nơi chúng ta ở. Chích ngừa cho gia cầm và gia súc. Liên lạc với chính phủ địa phương hay các bác sĩ thú y
  • Chỉ làm thịt những gia cầm hay gia súc đă được kiểm dịch ở những nơi được chính quyền địa phương ấn định. Vứt bỏ các bộ phận nội tạng nhất là phổi và gan, ḷng… Không vứt bỏ bừa băi những bộ phận thừa thải của súc vật.
  • Tránh xa những loài chim thiên di (waterfowls)
  • Heo cũng là nguồn lây bệnh của cúm gia cầm.
  • Khi có gia cầm chết v́ bệnh, chúng ta phải gọi cơ quan kiểm dịch đến để giải quyết va chúng ta không nên đến gần những xác chết của súc vật. Và cũng không nên làm thịt và ăn thịt những súc vật chết.
  • Ăn thịt gà, vịt được nhưng phải nấu thật chín. Thịt gà, vịt, ngỗng phải được nấu chín trên 70° C có nghiả là thịt không c̣n chút nào màu hồng cả. Không nên ăn tiết canh. Người làm thịt và nấu nướng phải dùng bảo vệ như đă đề cập trên.
  • Những du khách đi về những quốc gia đang có dịch cúm gia cầm, không nên đến những nơi có nuôi gà vịt hay gia súc. . Các du khách phải được chích ngừa cúm tại nhà trước khi đi du lịch để ngừa cúm người giao du với cúm gia cầm và gây đại dịch. Khi về đến quốc gia nhà trong ṿng 2 tuần lễ, du khách phải gọi điện thoại vào bệnh viện và đeo khẩu trang trước khi vào nếu chúng ta có nóng sốt cao. Đừng đến gặp bác sĩ gia đ́nh v́ họ không có chuẩn bị trước và có thể lây bênh cho những người hiện đang đau yếu. Nếu không thể vào bệnh viện, chúng ta phải đeo khẩu trang và báo trước cho bác sĩ gia đ́nh chuẩn bị pḥng khám và nhân viên của họ trước.
     
  • Chúng ta phải điều trị bệnh ngay 24 giờ đầu tiên hay trễ nhất là 48 giờ đầu tiên. Khi có dịch xảy ra tại địa phương của chúng ta, không nên đến chỗ đông người. Hiện nay, chúng ta không nên quá lo sợ v́ mọi quốc gia đều chuẩn bị và những phương tiện y tế hiện nay nhất là ở Bắc Mỹ có thể chạy chữa dễ dàng hơn ngày xưa.

Đây là một ví dụ làm đúng nhưng chưa đủ v́ thiếu kính bảo vệ mắt (goggle) dùng cho h́nh này.

  • Không nên tự ư uống thuốc Tamiflu để ngừa bệnh trước.
  • Khi ho, chúng ta phải che miệng bằng giấy và sau đó vứt đi trong thùng rác.
  • Không nên khạc nhổ ở những nơi công cộng. Chỉ khạc nhổ trong nhà vệ sinh.
  • Khi chúng ta bị cảm cúm, nên tránh xa những người trong gia đ́nh và bạn bè và không nên đi làm hoặc đi mua sắm (shopping).
  • Cẩn thận nhưng đừng quá sợ. Khi sợ quá chúng ta làm kinh tế đi xuống và những quốc gia sống nhờ vào xuất khẩu và du lịch của người ngoại quốc sẽ dấu diếm khi dịch xảy ra.

Hy vọng những điều bàn luận trên đây của tôi giúp được qúi vị không bị cúm và an hưởng một mùa Xuân thanh b́nh, vui vẻ, vạn sự như ư.

Viết xong ngày 15 tháng 1, 2006. Canada
Bác sĩ Nguyễn Vĩ Liệt

  

Tài Liệu Tham Khảo:

1/ Influenza

John J. Treanor, Mandell, Bennett, & Dolin

Principles and Practice of Infectious Diseases, 6th ed., Copyright © 2005 Churchill Livingstone

2/ Influenza Viruses

Kanta Subbarao, Long

Principles and Practice of Pediatric Infectious Diseases, 2nd ed., Copyright © 2003 Churchill Livingstone

3/ Influenza Virus

John J. Treanor M.D. & Frederick G. Hayden M.D.

Mason: Murray & Nadel's Textbook of Respiratory Medicine, 4th ed., Copyright © 2005 Saunders

3/ Respiratory Infections

Margaret Burroughs, Maria-Arantxa Horga, Matthew T. Murrell, and Anne Moscona

Gershon

Krugman's Infectious Diseases of Children, 11th ed., Copyright © 2004 Mosby, Inc.

4/ Antiviral Agents Against Respiratory Viruses

Michael Ison & Frederick G Hayden

Cohen & Powderly: Infectious Diseases, 2nd ed., Copyright © 2004 Mosby

5/ World Health Organization’s Publications 2004 and 2005

6/ Avian flu: sites seek to respond and reassure

Marilynn Larkin

The Lancet Infectious Diseases, Volume 5 • Number 3 • March 2005

7/ Avian flu: WHO prepares for the worst

Canadian Medical Association Journal, Volume 170 • Number 5 • March 2, 2004

8/ Avian influenza and sialic acid receptors: more than meets the eye?

Sigvard Olofsson

Department of Clinical Virology

University of Göteborg

Göteborg, Sweden

Urban Kumlin & Niklas Arnberg

Department of Virology

Institute of Clinical Microbiology

Umeå University

Umeå, Sweden

Ken Dimock,

Department of Biochemistry,

Microbiology and Immunology,

University of Ottawa
Ottawa, Ontario, Canada

9/ Avian influenza outbreak: update

Erica Weir, CMAJ
Tom Wong, Center for Infectious Disease Prevention and Control Health Canada Ottawa, Ont.
Ian Gemmill, Medical Officer of Health Kingston, Frontenac and Lennox & Addington Health Unit Kingston, Ont.

10/ Avian influenza should be ruffling our feathers

The Lancet Infectious Diseases
Volume 4 • Number 10 • October 1, 2004
11/ Avian influenza vaccine clinical trial begins in USA

Mary Quirk

The Lancet Infectious Diseases
Volume 5 • Number 5 • May 2005

12/ Canadian company to develop mock pandemic vaccine Canadian Medical Association Journal
Volume 172 • Number 5 • March 1, 2005

13/ Chickens not sole intermediary to human bird flu

Mary Quirk,

The Lancet Infectious Diseases
Volume 5 • Number 9 • September 2005

14/ Evidence-Based Emergency Medicine/Systemic Review Abstract. Are Amantadine and Rimantadine Effective in Healthy Adults With Acute Influenza?

Mark Hall, MD, MPH, EBEM Commentator Contact
Michael D. Brown, MD, MSc

Annals of Emergency Medicine
Volume 46 • Number 3 • September 2005

15/ Gene diversity in influenza more common than thought

Clare Sansom

The Lancet Infectious Diseases
Volume 5 • Number 9 • September 2005

16/ Get ready now for the next flu pandemic

Dorothy Bonn

The Lancet Infectious Diseases
Volume 5 • Number 3 • March 2005

17/ Increased Asian collaboration in fight against avian flu

Khabir Ahmad

The Lancet Infectious Diseases
Volume 5 • Number 1 • January 2005

18/ Influenza: historical aspects of epidemics and pandemics

Burke A. Cunha, MD
Infectious Disease Division
Winthrop-University Hospital
Mineola, NY 11501, USA

State University of New York School of Medicine
Stony Brook, NY, USA

Infectious Disease Clinics of North America
Volume 18 • Number 1 • March 2004
Copyright © 2004 W. B. Saunders Company

19/ INFLUENZA VIRUS

Alberto M La Rosa

Estella Whimbey

Cohen & Powderly: Infectious Diseases, 2nd ed., Copyright © 2004 Mosby

20/ Is SARS masking an influenza threat?

Dorothy Bonn

The Lancet Infectious Diseases
Volume 3 • Number 7 • July 2003

21/ The changing ecology of avian flu

Erica Weir

Canadian Medical Association Journal
Volume 173 • Number 8 • October 11, 2005
22/ The Next Influenza Pandemic: Will we be Ready to Care for Our Children?

Charles R. Woods, MD, MS
Jon S. Abramson, MD

Journal of Pediatrics
Volume 147 • Number 2 • August 2005
Copyright © 2005 Mosby, Inc.
23/ "Unrealistic" to share North American antiviral supply

Canadian Medical Association Journal
Volume 173 • Number 7 • September 27, 2005

24/ USA to manufacture two million doses of pandemic flu vaccine

Mary Quirk

The Lancet Infectious Diseases
Volume 4 • Number 11 • November 1, 2004

25/ Vietnamese cases suggest avian flu has been underestimated

Khabir Ahmad

The Lancet Infectious Diseases
Volume 5 • Number 4 • April 2005

26/ Oxford Atlas World History, Concise Edition

General Editor, Patrick K. O’Brien

Pubished in 2002

Revised Reprint in 2005

27/ Granulocytic Phagocytes

WILLIAM M. NAUSEEF

ROBERT A. CLARK

Mandell, Bennett, & Dolin: Principles and Practice of Infectious Diseases, 6th ed., Copyright © 2005 Churchill Livingstone

 

 

  

 

Viết xong ngày 15 tháng 1, 2006, Canada
Bác sĩ Nguyễn Vĩ Liệt