CHÙA TỔ Đ̀NH THIÊN PHƯỚC - NINH H̉A

Người viết: NGUYỄN VĂN NGHỆ

 Các chùa khác                                  |                            www.ninh-hoa.com

 

 

LỊCH SỬ

 

CHÙA TỔ Đ̀NH THIÊN PHƯỚC 

 

 

(Lâu nay muốn biết lịch sử chùa Tổ Đ́nh Thiên Phước, ở thôn Phú Nghĩa, xă Ninh Đông,thị xă Ninh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa chúng ta phải nhờ tới tác phẩm Xứ Trầm Hương của Quách Tấn nhưng Quách Tấn viết lại quá sơ lược chỉ có 07 ḍng mà thôi!Vừa qua thầy Không Hỷ-trụ tŕ chùa Tổ đ́nh Thiên Phước- đă mời tôi viết lịch sử chùa Thiên Phước và tôi đă nhận lời. Bản Lịch sử chùa Tổ Đ́nh Thiên Phước được dùng làm bản lịch sử thành văn chính thức của chùa Thiên Phước)

 

1. Vị tri địa lư

 

Chùa Thiên Phước (Thiên Phước Tự) tọa lạc tại thôn Phú Nghĩa, xă Ninh Đông, thị xă Ninh Ḥa. Có nhiều con đường dẫn đến chùa, nhưng con đường thuận tiện nhất là: từ quốc lộ 1A đi theo con đường lên bệnh viện Ninh Ḥa (đường 16/7), rồi tiếp tục đi gặp đường sắt xe lửa. Vừa qua khỏi đường sắt xe lửa là ngă ba, rẽ trái đi khoảng 100 mét gặp một con đường bằng bê tông bên phải, đi theo đường bê tông ấy khoảng 200 mét sẽ gặp một ngôi Già lam nằm giữa cánh đồng ruộng lúa bên phải con đường bê tông. Đó là chùa Thiên Phước.

 

 Theo địa bạ (Châu bộ) Gia Long năm 1810 th́ làng Phú Nghĩa khi ấy gọi là xă Phú Lộc, thuộc tổng Trung, huyện Quảng Phước, phủ B́nh Ḥa, trấn B́nh Ḥa. Xă Phú Lộc gồm có xứ Rừng Cấm và xứ Đồng Bé, đông giáp địa phận xă Quan Đông(1), lấy bờ đê làm giới; tây giáp địa phận xă Phú Vinh (tổng Trung, huyện Tân Định) lấy sông làm giới(2) ;nam giáp địa phận xă Quan Đông, có cọc làm giới; bắc giáp địa phận xă Định An (3), có cọc gỗ làm giới. Toàn diện tích của xă Phú Lộc là 23 mẫu 7 sào 5 thước: trong đó tư điền là 14 mẫu 2 sào 5 thước, tư thổ châu 3 mẫu 5 sào, mộ địa 2 mẫu (1 khoảnh), đất hoang 4 mẫu (1 khoảnh), thủy đạo một dải 453 tầm. (4)

 

 Vào thời Tự Đức (1848 – 1883) xă Phú Lộc được đổi tên thành xă Phú Nghĩa. Xă Phú Nghĩa thuộc tổng Phước Khiêm, huyện Quảng Phước, phủ Ninh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa. Sau năm 1954 nhiều xă nhỏ họp lại thành xă lớn và xă Phú Nghĩa trở thành thôn Phú Nghĩa xă Ninh Đông quận Ninh Ḥa. (sau tháng 4 năm 1975 đơn vị quận đổi thành huyện). Hiện nay chùa Thiên Phước thuộc thôn Phú Nghĩa, xă Ninh Đông, thị xă Ninh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa

 

2. Chùa Thiên Phước qua lời truyền miệng.

 

 Theo lời truyền miệng của người dân trong làng, th́ niên đại chùa Thiên Phước xấp xỉ với chùa Thiên Bửu, chùa Thanh Lương trong vùng. Cụ Quách Tấn sau khi đi điền dă đă thu thập lời kể đă viết về chùa Thiên Phước trong tác phẩm “Xứ Trầm Hương”: “Xây cất năm Tự Đức nguyên niên (1848). Tổ khai sơn là ngài Đạt Chánh, pháp hiệu Từ Nghiêm. Nổi danh là uy nghiêm thanh tịnh. Các ngôi chùa lớn ở Diên Khánh phần nhiều đều do đệ tử của Ngài tạo lập. Cho nên chùa Thiên Phước được tôn xưng là Tổ Đ́nh ”. (5)

 

 Có phải chùa Thiên Phước được xây cất vào năm 1848 hoặc trước đó hay không?

 

3. Chùa Thiên Phước qua các văn bản chữ Hán.

 

 Hiện chùa Thiên Phước c̣n lưu giữ 4 văn bản chữ Hán liên quan đến chùa được làm vào các thời điểm:

  Tuế thứ Nhâm Tư, thập nhất nguyệt, cát nhật(ngày tốt, tháng 11 năm Nhâm Tư -1912).

  Duy Tân thất niên, ngũ nguyệt, thập ngũ nhật (ngày 15 tháng 5 năm Duy Tân thứ bảy -1913).

  Khải Định bát niên, chính nguyệt thập ngũ nhật (ngày 15 tháng giêng, năm Khải Định thứ 8- 1923).

  Bảo Đại thập tứ niên, thập nhất nguyệt, sơ thị nhật (ngày mùng hai tháng 11 năm Bảo Đại thứ 14- 1939).

 

 Theo như giấy “ Hiệp Trạch Cử ” bằng chữ Hán là ngày mùng 2 tháng 11 năm Bảo Đại thứ 14 (1939) do thầy Phổ Châu làm “ tả tờ ”, có đóng dấu giáp lai của xă Phú Nghĩa ghi: “ Bổn tự nguyên tiền Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư, hiệu Thiên Thu xuất ti phụng sáng tạo ”. (Bổn tự trước đây do Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư, hiệu Thiên Thu xuất tiền của phụng sáng tạo). Chùa Thiên Phước do Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư sáng tạo nhưng trong giấy “ Hiệp Trạch Cử ” lại không đề cập đến năm sáng tạo. Vậy chùa Thiên Phước được sáng tạo năm nào ?

 

 Cách chùa Thiên Phước khoảng 50m về phía tay phải của chùa có ngôi Bửu đồng của Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư. Trên bia mộ ghi: “ Phụng vi chánh tiến hiển linh tánh Nguyễn Thị Tư thọ Tỳ kheo ni giới, pháp danh Đạo Thọ, hiệu Thiên Thu chi mộ ”. Bên trái ḍng chính giữa ghi: “ Sanh ư Giáp Ngọ niên, bất kư nhật nguyệt ”. (Sanh năm Giáp Ngọ không nhớ ngày tháng). Bên phải ḍng chính giữa ghi: “ Tử ư Bính Thân niên lục nguyệt, trấp tam nhật ”. (Mất ngày 23 tháng 6 năm Bính Thân). Như vậy chùa Thiên Phước phải được sáng tạo trước năm Bính Thân, năm bà Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư mất một thời gian khá lâu. Do cách tính năm theo hệ can chi, lại không kèm theo niên hiệu nên khó xác định năm Bính Thân là năm nào. Có nhiều năm Bính Thân: Bính Thân năm 1896, Bính Thân năm 1836, Bính Thân năm 1776…Thông tin trên bài vị của Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư cũng chỉ cung cấp một số thông tin như ở bia mộ mà thôi. Do đó khó xác định năm sáng tạo chùa Thiên Phước!

 

 Đọc tiếp giấy “ Hiệp Trạch Cử ” ta biết thêm thông tin là sau khi Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư sáng tạo chùa xong mới: “ Thỉnh thiền sư hiệu Bảo Thành vi Khai sơn trụ tŕ ” (mời thiền sư hiệu Bảo Thành làm trụ tŕ đầu tiên). Chùa Thiên Phước được sáng tạo một thời gian, rồi Tỳ kheo ni mới thỉnh ngài Bảo Thành đến làm “ Khai sơn trụ tŕ ”.

 

 Thiền sư Bảo Thành là ai?

 

 Bảo Thành là pháp hiệu của thiền sư Đạt Thật, thiền sư Đạt Thật chính là vị Khai sơn trụ tŕ đầu tiên của chùa Thiên Phước chứ không phải thiền sư Đạt Chánh pháp hiệu Từ Nghiêm như Quách Tấn đă viết. Sau khi viên tịch thiền sư Đạt Thật được an táng trong vườn tháp mộ của chùa.

 

 Long vị của thiền sư Đạt Thật ghi “ Nguyên sanh Đinh Măo niên; tốt ư Mậu Dần niên, lục nguyệt thập nhất nhật ”. (Sanh năm Đinh Măo mất ngày 11 tháng 6 năm Mậu Dần). Thiền sư Đạt Thật viên tịch năm Mậu Dần. Vậy năm Mậu Dần nào đây? Năm Mậu Dần 1938, Mậu Dần 1878, Mậu Dần 1818, Mậu Dần 1758…Với thiền sư Đạt Thật cũng chỉ có bấy nhiêu thông tin ấy thôi nên cũng chưa thể xác định năm sáng tạo chùa mặc dù biết rơ Ngài là vị Khai sơn trụ tŕ.

 

 Kế tục thiền sư Đạt Thật giấy “ Hiệp Trạch Cử ” ghi: “ Kế truyền đệ tử Từ Nghiêm quản thủ ”. (Kế truyền là đệ tử Từ Nghiêm làm quản thủ chùa). Từ Nghiêm là pháp hiệu của ngài Đạt Chánh. Long vị của ngài Đạt Chánh ghi: “ Nguyên sanh Đinh Hợi niên, thập nhị nguyệt, sơ tam nhật. Tốt ư Quư Sửu niên ”. (Sanh ngày mùng 3 tháng 12 năm Đinh Hợi mất năm Quư Sửu…).

 

 Ngài Đạt Chánh trụ tŕ chùa Thiên Phước vào quăng thời gian nào?

 

 Trên chánh điện chùa Thiên Phước có một bức hoành với năm đại tự chữ Hán: “ Bảo tôn Thiên Phước Tự ”. Ḍng lạc khoản bên trái ghi: “ Thành Thái Quư Măo, mạnh hạ, cát nhật ”. (ngày tốt tháng 4 năm Quư Măo, niên hiệu Thành Thái). Ḍng lạc khoản bên phải ghi: “ Trụ tŕ húy Đạt Chánh thượng Từ hạ Nghiêm phụng ”. (Trụ tŕ Đạt Chánh pháp hiệu Từ Nghiêm phụng cúng). Tấm hoành ấy là của Ngài Đạt Chánh phụng cúng vào năm Quư Măo niên hiệu Thành Thái và năm Quư Măo ấy chính là năm 1903. Ngoài ra trên hồng chung của chùa khắc ghi năm đúc hồng chung: “ Thiên vận Kỷ Dậu, mạnh thu, trung hoán ” (6). (trung tuần tháng 7 năm Kỷ Dậu). Trên hồng chung cũng ghi: “ Húy Đạt Chánh thượng Từ hạ Nghiêm chứng kư ”. (Thầy Đạt Chánh pháp hiệu Từ Nghiêm chứng kư). Hồng chung ấy đúc vào năm Kỷ Dậu tức năm 1909.

 

 Năm Nhâm Tư 1912, vào ngày tốt tháng 11 ngài Từ Nghiêm c̣n nhận kư vào giấy “ lục biên ” đồ từ khí trong chùa: “ Thiên Phước tự Từ Nghiêm hiệu nhận kư ”.

 

 Với các thông tin trên chúng ta biết là ngài Từ Nghiêm trụ tŕ chùa Thiên Phước vào những thập kỷ cuối thế kỷ 19 và hơn một thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Biết được quăng thời gian ngài Từ Nghiêm trụ tŕ chùa Thiên Phước, từ đây ta có thể suy luận ra quăng thời gian sáng tạo ra chùa.

 

 Ngài Đạt Chánh viên tịch vào năm Quư Sửu (1913), như vậy ngài sinh năm Đinh Hợi tức năm 1827. Ngài Đạt Chánh là huynh đệ trong pháp môn với ngài Đạt Thật chứ không phải là “ đệ tử ” của ngài Đạt Thật như trong tờ “ Hiệp Trạch Cử ” ghi. (Ḍng kệ: Liễu_ Đạt- Ngộ- Chơn- Không…. .). Ngài Đạt Thật là “ huynh ” của ngài Đạt Chánh. Ngài Đạt Thật sinh năm Đinh Măo tức năm 1807 và viên tịch vào năm Mậu Dần tức năm 1878. Ngài Đạt Thật lớn hơn ngài Đạt Chánh 20 tuổi.

 

 Chùa Thiên Phước phải được sáng tạo trước năm 1878 là năm ngài Đạt Thật viên tịch một thời gian khá lâu. V́ sau khi xây chùa Thiên Phước hoàn chỉnh một thời gian bà Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư mới thỉnh ngài Đạt Thật đến làm Khai sơn trụ tŕ. Sau khi làm Khai sơn trụt tŕ một thời gian, ngài Đạt Thật mới viên tịch vào năm 1878.

 

 Mặc dù không xác định được mốc thời gian sáng tạo chùa Thiên Phước một cách chính xác. Nhưng chúng ta có thể phỏng ước chùa được sáng tạo trong quăng thời gian từ một 1865 đến 1875,chứ không phải sáng tạo vào năm 1848 như Quách Tấn đă viết.

 

 Khi sáng tạo chùa Thiên Phước bà Tỳ kheo ni tuổi đă ngoài 30. Bà sinh năm Giáp Ngọ tức năm 1834, và mất năm Bính Thân tức năm 1896. Tính từ khi bà Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư sáng tạo chùa đến nay th́ chùa Thiên Phước có niên đại xấp xỉ 150 năm.

4. Chùa Thiên Phước sau năm 1912

 

 Khi ngài Từ Nghiêm về già: “ Trí vu lăo cảnh truyền đệ tử Nguyễn Tường trụ thủ ”. (Đến khi già truyền cho đệ từ là Nguyễn Tường trụ tŕ giữ chùa). Theo như tờ “ Nhận lănh phụng thủ ” chùa Thiên Phước th́ Tăng nhân Nguyễn Tường và thân cô Huỳnh Thị Bộ đă kư nhận lănh chùa Thiên Phước vào ngày 15 tháng 5 Duy Tân thứ 7 (1913). Tăng nhân Nguyễn Tường trụ tŕ chẳng được bao lâu th́ mất : “vị kỷ y tăng thệ thế”. (Chẳng bao lâu Tăng ấy qua đời). Sau khi tăng nhân Nguyễn Tường qua đời: “ Bổn đạo dữ bổn xă trạch Nguyễn Thối trụ thủ ”. (Bổn đạo cùng bổn xă chọn Nguyễn Thối làm người giữ chùa). Nguyễn Thối là ngài Ngộ Hô pháp hiệu Phổ Đạt. Ngài sinh năm Giáp Tuất 1874, ngài trụ tŕ chùa Thiên Phước khá lâu: “ Chí Mậu Dần niên thập nguyệt nhật hựu thệ thế ”. (Đến tháng 10 năm Mậu Dần lại qua đời). Sau khi ngài Ngộ Hô viên tịch th́ mới cử ông Nguyễn Tư làm “hộ tự” chùa Thiên Phước. Trong giấy Hiệp trạch cử năm 1939 cũng có: Hộ tự Nguyễn Tư thủ kư. Ông Nguyễn Tư gọi Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư là “tổ cô” (cô bà). Sau gần một năm trống vắng vị trụ tŕ, th́: “ Chí tư bổn đạo đệ tử tề tựu hiệp dữ bổn xă trạch cử Nguyễn Thứ trụ thủ ”. (Đến nay- ngày mùng 2 tháng 11 năm 1939, năm làm giấy “ Hiệp Trạch Cử ”- bổn đạo cùng đệ tử tề tựu cùng bổn xă chọn Nguyễn Thứ trụ tŕ giữ chùa). Nguyễn Thứ là thầy Phổ Trạch, pháp hiệu Ngộ Chiếu, thầy sinh năm Nhâm Th́n 1892 và viên tịch ngày 14 tháng 4 năm 1963.

 

Năm 1957 thầy Phổ Trạch cho trùng tu ngôi chánh điện và Tây đường, v́ trước đó ngôi chánh điện mái lợp ngói âm dương vách đất.

                          

Năm 1959 Giáo hội Sơn Môn Lục Ḥa tăng xác định chùa Thiên Phước là “Tổ đ́nh”. Sự kiện này được thầy Ngộ Giao,hiệu Phổ Châu và Ḥa thượng Chơn Phú,hiệu Bích Lâm trụ tŕ chùa Tổ đ́nh Nghĩa Phương ấn chứng

 

Đang khi thầy Phổ Trạch trụ tŕ chùa Thiên Phước th́ thầy Đắc Lư, pháp hiệu Chơn Trừ, thế danh Nguyễn Học trụ tŕ chùa Phước Long. Sau khi thầy Phổ Trạch viên tịch th́ thầy Phổ Châu (Ngộ Giao) thay mặt tông phong tổ phái quyết định thầy Đắc Lư về trụ tŕ chùa Thiên Phước. (7)Với việc Giáo hội ấn chứng chùa Thiên Phước là Tổ đ́nh nên vào tháng 03 năm Kỷ Dậu (1969) thầy Đắc Lư cho xây Tam quan chùa và trên đỉnh bốn trụ Tam quan ấy có bốn chữ quốc ngữ “ TỔ Đ̀NH THIÊN PHƯỚC” và tam quan ấy vẫn c̣n tồn tại đến nay,Ngoài ra thầy c̣n cho sửa lại Đông đường v́ trước đó lợp tranh vách đất. Thầy Đắc Lư sinh năm Nhâm Tuất 1922 và viên tịch năm Canh Th́n 2000.                                                      

Tuy chùa Thiên Phước không phải là chùa làng nhưng giữa chùa và chính quyền sở tại có một mối quan hệ gắn bó với nhau,mọi sự quan trọng của chùa đều có ư kiến của xă Phú Nghĩa. Trong giấy Hiệp trạch cử thường gặp câu: “Bổn đạo dữ bổn xă” (bổn đạo cùng với bổn xă). Hoặc trên hồng chung của chùa đúc năm 1909 có khắc ghi câu : “Phú Nghĩa xă,bổn xă chức dịch đồng kư”(chức dịch của bổn xă, xă Phú nghĩa đồng kư).

 

5-Chùa Thiên Phước từ năm 2000 đến nay:

 

Vào tháng 05 năm Canh Th́n (2000) thầy Đắc Lư viên tịch, thầy Không Hỷ về “thủ tang báo hiếu” hơn một năm. Đến tháng 07 năm 2001 thầy Không Hỷ(8) lại tiếp tục đi học. Trong thời gian này chùa không có thầy phụng sự Tam Bảo, nên bổn đạo trạch cử Phật tử Nguyễn Xương làm thủ tự. V́ hoàn cảnh gia đ́nh nên Phật tử Nguyễn Xương không thể trực tiếp quản tự được, nên thầy Thiện Duyên về chăm lo Phật sự.

          Ngày 24 tháng giêng năm Ất Dậu(2005) thầy Không Hỷ sau khi hoàn thành chương tŕnh Cao đẳng Phật học và lớp Chuyên sâu luật Tạng xong, thầy lại trở về. Trong năm này thầy được Giáo Hội bổ nhiệm chính thức trụ tŕ chùa Tổ Đ́nh Thiên Phước. Chùa Thiên Phước từ khi có thầy Không Hỷ về trụ tŕ đến nay, mỗi năm cảnh chùa càng được trang nghiêm, Phật sự được mở rộng, t́nh h́nh tu học ngày càng được ổn định. Đến nay, chùa Thiên Phước có thể nói là một trong những đạo tràng tâm linh tu học được nhiềù người biết đến.

6 – Tài sản của chùa Thiên Phước

 

Tính đến năm 1939 (năm làm giấy “ Hiệp Trạch Cử”) th́ đất đai chùa Thiên Phước gồm có: “Tư điền nhị mẫu thất cao, tư thổ nhất mẫu thất cao”. (Ruộng tư của chùa là 2 mẫu 7 sao, đất tư của chùa là 1 mẫu 7 sào).

 

Ngày 15 tháng giêng Khải Định năm thứ 8 (1923) vợ chồng ông Nguyễn Nhất đă cúng cho chùa Thiên Phước 1 sào ruộng hạn nhất kế bên ruộng tư của chùa.

 

Sau năm 1975 ruộng đất của chùa bị sung vào công quỹ và ngay cả vườn tháp mộ cũng cùng chung số phận, chỉ c̣n lại diện tích khuôn viên chùa mà thôi,nhưng nhỏ hơn diện tích khuôn viên chùa hiện nay! Trước đây chùa Thiên Phước có vườn tháp mộ để an táng các vị trụ tŕ chùa sau khi viên tịch. Trong vườn tháp mộ hiện có 3 tháp mộ: Tháp mộ ngài Khai sơn chùa Thiên Phước là ngài Đạt Thật; tháp mộ ngài Đạt Chánh (đặc biệt trên đỉnh tháp mộ ngài có bầu hồ lô); tháp mộ của ngài Phổ Trạch và một Bửu đồng của Tỳ kheo ni Nguyễn Thị Tư. Vườn tháp mộ cũng được Hợp Tác Xă Nông Nghiệp xă Ninh Đông giao cho xă viên canh tác. Do không thấu triệt được ư nghĩa của câu “sống cái nhà, thác cái mồ” nên xă viên nhận đất vườn tháp mộ cuốc xới canh tác sát tận chân các tháp mộ. Mong muốn toàn thể Phật tử của chùa Thiên Phước là chính quyền trả lại diện tích đất chung quanh các tháp mộ để chùa rào giậu lại cho mỹ quan hơn đúng với đạo lư : “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” 

 

7- Câu đối ở chùa Thiên Phước  

 

Trước tam quan chùa:

 

   THIÊN nhân cung kính Thế tôn, vạn cổ chúng sanh mông hóa độ

   PHƯỚC huệ viên thành đại giác, thiên thu đàn tín vĩnh quy y

   TỔ kiến Kỳ viên, bát nhă hóa khai quang phạm vũ

   Đ̀NH tài bảo thọ, bồ đề diệp mậu ấm thiền môn

 

Trước chánh điện:

 

            ► THIÊN đức chiếu lâm, vạn cổ thiền môn tăng củng cố

          PHƯỚC ân lai phó, thiên thu bảo điện thắng trang nghiêm

          Nghĩa chấn Đào viên, trùng thiên cổ đức huynh đức đệ

               ►Pháp truyền Mai lănh, khải vạn niên y đạo y nhân

 

 

 Tác giả chụp bên mộ của cụ ĐỖ THÚC TĨNH. Một vị quan quê ở làng La Châu, huyện Ḥa Vang (nay là thôn La Châu, xă Ḥa Khương, thành phố Đà Nẵng)  từng làm Tri phủ, phủ Diên Khánh, tỉnh khánh Ḥa; sau đó thắng Án sát Khánh Ḥa năm 1858 , rồi thăng Bố chánh tỉnh Khánh Ḥa năm 1859. Ông là một vị quan được sử sách ghi là CẦN, CÁN, CÔNG, LIÊM- nguyên văn như ở bia đá văn miếu Diên Khánh khắc năm 1858.

 

 

Nguyễn Văn Nghệ

 

 

 

Chú thích:

 

 1 – Trong các giấy tờ bằng chữ Hán khi phiên âm tên xă Quan Đông ra chữ Quốc ngữ là “ Quan Đông” chứ không phải “Quang Đông” như hiện nay

 2 – Xă Phú Vinh sau đổi tên thành xă Phú Lễ (sau này Phú Lễ và B́nh Thái hợp lại thành thôn Phú B́nh, thuộc xă Ninh Phụng)

 3- Xă Định An nay là thôn Văn Định thuộc xă Ninh Đông

 4- Nguyễn Đ́nh Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Khánh Ḥa, nhà xuất bản TPHCM: trang 129, 130.

5- Quách Tấn, Xứ Trầm Hương, xuất bản: Hội văn học nghệ thuật Khánh Ḥa trang 126.

6 -. Hoán: để chỉ 10 ngày trong một tháng. Như vậy thượng hoán (thượng tuần) từ ngày 1 đến 10; trung hoán (trung tuần) từ ngày 11 đến 20; hạ hoán (hạ hoán) từ ngày 21 đến hết tháng.

 7 - Trước đó thầy Đắc Lư cũng từng trụ tŕ chùa Thiên Quang,thôn Quan Đông, xă Ninh Đông

 8 - Thầy Không Hỷ sinh năm 1979, là đệ tử nhập môn của thầy Đắc Lư

 

 

 

www.ninh-hoa.com