VINH  HỒ
 



 

Rắn Thiêng, Gậy Thần Và
    Ngành Y Dược
 

 
Lễ Tạ Ơn Ở Hoa Kỳ 

  Thể Thơ Đường Luật Thất
     Ngôn Bát Cú  

  Cưới Gả Theo Tục Lệ
     Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3  |

  Phần 4  |  Phần 5   Phần 6  |

Tang Ma Theo Tục Lệ
    Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3 |

  Phần 4  |  Phần 5  | Phần 6  |

  Phần 7:  Kết Luận 

Những Thi Sĩ Cố Đô và Phong
   Trào Thơ Mới Thời Tiền Chiến
   - Vinh Hồ

Tấm Ḷng Son Trong "H́nh
    Như Là T́nh Yêu", Tập
    Truyện Của Ái Khanh -
    Vinh Hồ

  Vài Nét Chân Dung
     Hàn Mặc Tử -  Nhà Thơ
     Thiên Tài của Việt Nam

Chúa Nguyễn Hoàng

Lịch Sử và Triết Lư  Bonsai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 


T A N G   M A   T H E O  T Ụ C   L   C  TR U Y Ề N
 



 

PHẦN 7:

  


KẾT LUẬN:

Tục lệ tang ma là 1 nét văn hóa độc đáo của người VN, là cách thể hiện những t́nh cảm thiêng liêng cao quư như sự thờ kính, thương tiếc, yêu quư và biết ơn của người sống đối với người chết, đồng thời nói lên t́nh nghĩa thủy chung như nhất của con người lúc sống đối xử với nhau như thế nào th́ khi chết cũng đối xử với nhau như thế ấy. Đó là đạo hiếu, đạo nhân, đạo nghĩa, nói chung là Đạo Làm Người trong xă hội Việt Nam xưa. Nếu đối xử ngược lại th́ bị xă hội lên án nặng nề:

- Đồ bất hiếu bất nhân bất nghĩa!

Người xưa dạy:

- Một ḷng thờ mẹ kính cha
Cho tṛn chữ hiếu mới là đạo con

- Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu

- Khôn ngoan nhờ đến cha ông
Làm nên nhớ đến tổ tông phụng thờ

Đạo làm con chớ hững hờ
Phải đem chữ hiếu mà thờ mẹ cha

Chữ "Hiếu" trong Hán tự gồm 2 chữ, chữ "Lăo" ở trên và chữ "Tử" ở dưới, có nghĩa là mối quan hệ cha ở trên con ở dưới, suy rộng ra là Đạo Làm Người của con cháu đối với cha mẹ ông bà tổ tiên. Hiếu là thiên kinh địa nghĩa, là gốc của mọi đức tính. Đạo Hiếu xuyên suốt mọi phong tục tập quán của người xưa, nhất là về tang ma, giỗ kỵ.

Tuy nhiên trong tang ma, có nhiều tục lệ đă lỗi thời nên bỏ như: chiêu hồn, thắt hồn bạch, khóc mướn, nằm lăn giữa đường, thiết linh sàng, quàn quan tài nhiều ngày để ngả heo ăn uống linh đ́nh, cùng những tục lệ rườm rà, phiền phức, tốn kém, và kéo dài mất nhiều thời gian... Trả hiếu đâu chưa thấy, chỉ thấy trước mắt mất ăn, mất ngủ, mất việc, nợ nần, ốm đau, truyền nhiễm, bệnh tật... chỉ v́ làm sai lời dạy của tiền nhân:

- Lễ bạc ḷng thành

Tang Ma chú trọng ở ḷng thành, không chú trọng ở nghi lễ, nghi lễ dù có rườm rà công phu cách mấy, lễ vật dù có mâm cao cỗ đầy cách mấy, mà thiếu ḷng thành th́ cũng trở thành vô nghĩa không khéo c̣n bị người đời mai mỉa cười chê:

- Vải thưa che mắt thánh

- Sống thời chẳng chịu cho ăn
Đến khi thác xuống làm văn tế ruồi

Việt Nam Sử Lược ghi Vua Lê Thánh Tông là một đấng minh quân, Ngài làm vua được 38 năm, sửa sang chính trị, mở mang học hành, chỉnh đốn vơ bị, đánh dẹp Chiêm Thành, Ai Lao, mở mang bờ cơi, "khiến cho nước Nam ta bấy giờ được văn minh thêm ra và lại lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy". Khi lên ngôi Ngài mạnh dạn cho sửa lại phong tục.

"Những lễ hôn và lễ tang th́ làm những điều trái với lẽ thường, như là nhà nào có tang chế th́ làm cỗ bàn ăn uống, rồi bày ra các tṛ hát xướng làm một cuộc vui chơi. Lễ hôn th́ ăn lễ hỏi rồi, để ba bốn năm mới cho rước dâu về nhà chồng." Ngài đă ra lệnh cấm những tệ tục đó.

Sách Kinh Lễ có câu:

- Tang sự chủ ai

Việc tang ma là việc buồn, nên phải lấy sự đau buồn thương tiếc người quá cố làm trọng, không nên cười đùa vui vẻ, hoặc đánh lộn căi nhau, hay trang sức ḷe loẹt...

Nhà thơ nông thôn Tam Nguyên Yên Đỗ, tác giả 3 bài thơ Thu nổi tiếng đă có những tư tưởng rất tiến bộ về tang ma, cuối đời đă viết di chúc bằng thơ để lại cho con cháu, dặn ḍ sau khi ḿnh qua đời hăy tổ chức đám tang một cách đơn giản:

... Sống không để tiếng đời ca thán

Chết được về quê quán hương thôn

Mới hay trăm sự vuông tṛn

Sống lâu đă trải chết chôn chớ ǵ?

Đồ khâm liệm chớ nề xấu tốt

Kín chân tay đầu gối th́ thôi

Cỗ đừng to lắm con ơi!

Hễ ai chạy lại con mời người ăn

Tế đừng có viết văn mà đọc

Trướng đối đừng gấm vóc làm chi

Minh tinh con cũng bỏ đi

Mời quan đề thủ con th́ không nên

Môn sinh chớ bỏ tiền đạt giấy

Bạn của thầy cũng vậy mà thôi

Khách quen chớ viết thiệp mời

Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu

Chẳng qua nợ để cho người sống

Chết đi rồi c̣n ngóng vào đâu

Lại mang cái tiếng to đầu

Khi nay bày biện khi sau chê bàn...

Thi hào Nguyễn Trăi, tác giả Ức Trai Thi tập và B́nh Ngô Đại Cáo nổi tiếng, năm 21 tuổi đỗ Tiến sĩ, khi quân Minh sang xâm chiếm nước ta, bắt Nguyễn Phi Khanh dẫn về Kim Lăng, Nguyễn Trăi theo khóc lên đến ải Nam Quan không chịu trở lại, Nguyễn Phi Khanh bảo rằng:

"Con hăy coi chữ tận trung là tận hiếu, phải trở về lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ cứ theo khóc lóc mà làm ǵ".

Quả thật, người Việt xưa đă hiểu chữ hiếu rất rộng. Chữ hiếu không chỉ đóng khung trong việc cúng kính lễ bái khi cha mẹ ĺa đời, mà c̣n thể hiện trong cách đối xử ăn ở với cha mẹ khi cha mẹ c̣n sống, xuyên qua việc "tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ". Đem đức độ tài trí giúp nước giúp đời làm cho gia đ́nh được rạng rỡ, cha mẹ được tiếng thơm như Nguyễn Trăi vị anh hùng dân tộc, thiết nghĩ không có sự hiếu thảo nào to lớn hơn.

Tuế hữu tứ thời Xuân tại thủ
Nhơn ư bách hạnh hiếu vi tiên

Hiếu không những vi tiên, hiếu c̣n bao la bàng bạc trong khắp vũ trụ vạn vật vô tận vô cùng.
 

HẾT

  


 VINH HỒ
15/3/2005


 


Tài liệu tham khảo:

Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính
Thọ Mai Gia Lễ
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
Tục Lệ Cưới Gả, Tang Ma của Người Việt Xưa, của
   Phan Thuận Thảo, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999
Lễ Tang của Khải Chính Phạm Kim Thư, đăng trên
   mạng lưới: 
http://e-cadao.com/phongtuc/index.htm