VINH  HỒ
 



 

Rắn Thiêng, Gậy Thần Và
    Ngành Y Dược
 

 
Lễ Tạ Ơn Ở Hoa Kỳ 

  Thể Thơ Đường Luật Thất
     Ngôn Bát Cú  

  Cưới Gả Theo Tục Lệ
     Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3  |

  Phần 4  |  Phần 5   Phần 6  |

Tang Ma Theo Tục Lệ
    Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3 |

  Phần 4  |  Phần 5  | Phần 6  |

  Phần 7:  Kết Luận 

Những Thi Sĩ Cố Đô và Phong
   Trào Thơ Mới Thời Tiền Chiến
   - Vinh Hồ

Tấm Ḷng Son Trong "H́nh
    Như Là T́nh Yêu", Tập
    Truyện Của Ái Khanh -
    Vinh Hồ

  Vài Nét Chân Dung
     Hàn Mặc Tử -  Nhà Thơ
     Thiên Tài của Việt Nam

Chúa Nguyễn Hoàng

Lịch Sử và Triết Lư  Bonsai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 


T A N G   M A   T H E O  T Ụ C   L   C  TR U Y Ề N
 



 

PHẦN 4:

  

CÚNG NGU:

An táng xong trở về nhà cúng ngu, ngu có nghĩa là yên ổn. Ngày đầu gọi là sơ ngu, ngày thứ hai gọi là tái ngu, ngày thứ ba gọi là tam ngu. Khi người mới mất, hồn phách c̣n vật vờ nên phải cúng ngu 3 lần để hồn phách được mau chóng nhẹ nhàng siêu thoát.

VIẾNG MỘ ĐẮP MỘ:

Liên tiếp trong 3 chiều sau khi chôn, chiều nào con cháu cũng phải đến viếng mộ, thắp nhang, đốt lửa.

Chiều thứ ba cúng tam ngu, c̣n gọi là cúng mở cửa mả, rước thầy pháp đến yểm bùa, dùng gà trắng c̣n sống để cúng Thổ Thần; dùng lươn, cá chép, ốc, quạ, để yểm trừ hung thần đến quấy nhiễu người mới chết. Cúng xong, thả gà ra, con gà ngơ ngơ ngáo ngáo như đồ mất hồn nên gọi là "gà mở cửa mả".

Con cháu sửa sang nấm mộ lại cho đẹp, hay rước thợ xây nhà mồ, xây mộ, dựng bia.

CÚNG CƠM HẰNG NGÀY:

An táng rồi, mỗi ngày cúng cơm 2 bữa và khóc. Cúng 1 bát cơm úp, 1 quả trứng luộc, hay món ăn nào mà người chết lúc c̣n sống thích.

CHUNG THẤT:

Mỗi tuần cúng thất 1 lần, kể cả 2 ngày sóc vọng trong tháng.

49 ngày là tuần thất sau cùng, cúng lớn, rước tăng ni về nhà tụng kinh, hay đem vào chùa làm chay, tụng kinh sám hối để cầu cho vong hồn sớm siêu thăng tịnh độ. Theo nhà Phật, sau 49 ngày linh hồn người chết mới được đầu thai kiếp khác, nên việc cúng kính, cầu siêu, bố thí, cầu nguyện cho người chết trong ṿng 49 ngày đầu là vô cùng cần thiết và hệ trọng hơn hết.

TỐT KHỐC:

Đúng 100 ngày có lễ cúng lớn gọi là tốt khốc (thôi khóc), xả tang cho những người để tang 3 tháng 10 ngày. Từ đây về sau không c̣n cúng cơm hằng ngày nữa.

TIỂU TƯỜNG:

Là lễ cúng lớn, c̣n gọi là làm tuần giáp năm. Ai để tang 1 năm th́ được xả tang, các đồ hung phục như sô gai, gậy, mũ được trừ bỏ nhưng vẫn mặc tang phục cho đủ 3 năm.

ĐẠI TƯỜNG:

Tṛn 2 năm có lễ cúng lớn gọi là lễ đại tường, hay gọi là làm tuần măn. Nếu không có lễ Đàm Tế, th́ lễ Đại Tường xả tang cho người để tang 3 năm, Tang chủ cùng con cháu rước thần chủ (tức bài vị) người quá cố đến thờ tại bàn thờ tổ tiên, triệt bỏ linh tọa cùng những đồ thờ khác.

Làm tuần giáp năm tính đủ 12 tháng, làm tuần măn tính đủ 24 tháng:

Đám giỗ tính nhuần làm tuần tính đủ.

ĐÀM TẾ:

Sau lễ đại tường chọn 1 ngày tốt trong 3 tháng dư để làm lễ trừ phục, gọi là lễ đàm tế, gồm 3 lễ:

1. Lễ sửa mộ

2. Lễ đàm tế: đốt khăn tang, tang phục, đốt các thứ thuộc phần lễ tang, bỏ bàn thờ tang, thu hết các bức trướng, liễn.

3. Lễ rước linh vị: Chép sẵn linh vị mới phủ vải đỏ, đốt linh vị cũ cùng với khung đen phủ quanh khung ảnh và văn tế. Rước linh vị, bát hương, chân dung đưa lên bàn thờ gia tiên.

ĐỐT ĐỒ MĂ:

Trong khoảng thời gian giữa tiểu và đại tường có 2 kỳ đốt mă, gọi là đốt mă biếu đồ và đốt mă dâng đồ cho người chết dùng. Thường đốt vào rằm tháng Bảy, đốt vào ngày tiểu tường, hay đại tường. Đồ mă được thợ mă làm, gồm các thứ: nhà cửa, xe, ngựa, áo, quần, chăn, màn, ḥm, rương, mâm, bát, giày, dép...

CẢI TÁNG:

Sau ba, bốn năm thường làm lễ cải táng. Có nhiều lư do để cải táng như: chỗ ngôi mả bị ngập lụt, bị mối kiến, bị sụp lở, cây cối khô chết; trong nhà có người dâm loạn điên cuồng, ốm đau, kiện tụng... hay tang chủ nhờ thầy địa t́m được chỗ địa linh. Trước ngày cải táng làm lễ cáo từ đường, trong ngày cải táng làm lễ khấn Thổ Công. Khi khai mả, nhặt hài cốt xếp vào 1 cái tiểu sành. Khi mở nắp quan tài, lấy chiếu che kín không cho nắng gió xâm vào làm hư hại hài cốt. Cái tiểu sành dưới đáy có lổ thoát nước, hài cốt được rửa sạch sẽ bằng rượu và hương nhu được xếp lại theo h́nh dạng cũ.

Trước khi xếp xương cốt, lót 1 tấm vải lụa: 1 nửa nằm dưới ḷng tiểu sành, nửa c̣n lại bọc lên đầu đắp xuống chân. Xong rưới nước hương bưởi hương lài... Có nhiều gia đ́nh khi cải táng đem hài cốt hỏa thiêu lấy tro đựng vào b́nh sứ để thờ tại chùa, hay trên bàn thờ gia tộc. Nhà phú quư dùng quan quách để khâm liệm như khi hung táng. Khi cải táng, con cháu bịt khăn trắng trên đầu, 3 tháng sau mới bỏ.

KỴ NHẬT:

Là ngày giỗ, ngày kỵ của ông, bà, cha, mẹ... Cúng chiều hôm trước gọi là cúng tiên thường (nghĩa là nếm trước), cúng ngày hôm sau gọi là cúng chính kỵ. Trong lễ cúng phải có 1 bát cơm úp và 1 quả trứng luộc. Cỗ bàn tùy nhà giàu, nghèo; mời ít hay nhiều khách khứa. Bà con khách khứa đến dự thường mang trà rượu bánh trái đến cúng.

Cửu tộc (9 đời) gồm: cao (sơ), tằng (cố), tổ (nội), phụ (cha), đời ḿnh, tử (con), tôn (cháu), tằng tôn (chắt), huyền tôn (chiếu). Thường chỉ làm giỗ 4 đời là cao tằng tổ phụ, từ cao trở lên gọi là tổ tiên không cúng nữa mà nhập chung vào cúng ở lễ xuân tế.

Thường con cháu chết dưới 18 tuổi gọi là chết yểu, khi măn tang yết cáo với tổ tiên xin được thờ theo tổ tiên, không có lễ giỗ riêng.

Từ khởi thủy, đặt ra đám giỗ là để tưởng nhớ, tưởng niệm người quá cố với ḷng thương yêu, tôn kính và biết ơn người đă sinh thành, dưỡng dục và gầy dựng cơ nghiệp cho ḿnh. Nhưng theo thời gian, người ta đă biến đám giỗ thành đám ăn, đám nhậu, "đám trả nợ miệng" làm mờ phai cái ư nghĩa cao quư lúc ban đầu.

Tác giả Phan Kế Bính viết:

"Ngày kỵ nhật là một ngày chung thân chi tang, là ngày thương xót, rầu buồn, đáng lẽ chỉ nên đóng cửa mà thương nhớ mới phải. Mà dẫu có theo tục dùng cách cúng tế làm sự kỷ niệm th́ làm thế nào cho giản tiện, miễn là tỏ được chút ḷng với tổ tiên là đủ, tưởng không nên bày vẽ cho sinh tốn làm ǵ. Nếu có của mà muốn họp mặt bà con anh em, khoản đăi khách khứa th́ tưởng nên dùng vào những dịp ăn mừng c̣n phải hơn."

 

  


 VINH HỒ
15/3/2005

(C̣n Tiếp)
 


Tài liệu tham khảo:

Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính
Thọ Mai Gia Lễ
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
Tục Lệ Cưới Gả, Tang Ma của Người Việt Xưa, của
   Phan Thuận Thảo, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999
Lễ Tang của Khải Chính Phạm Kim Thư, đăng trên
   mạng lưới: 
http://e-cadao.com/phongtuc/index.htm