VINH  HỒ
 



 

Rắn Thiêng, Gậy Thần Và
    Ngành Y Dược
 

 
Lễ Tạ Ơn Ở Hoa Kỳ 

  Thể Thơ Đường Luật Thất
     Ngôn Bát Cú  

  Cưới Gả Theo Tục Lệ
     Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3  |

  Phần 4  |  Phần 5   Phần 6  |

Tang Ma Theo Tục Lệ
    Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3 |

  Phần 4  |  Phần 5  | Phần 6  |

  Phần 7:  Kết Luận 

Những Thi Sĩ Cố Đô và Phong
   Trào Thơ Mới Thời Tiền Chiến
   - Vinh Hồ

Tấm Ḷng Son Trong "H́nh
    Như Là T́nh Yêu", Tập
    Truyện Của Ái Khanh -
    Vinh Hồ

  Vài Nét Chân Dung
     Hàn Mặc Tử -  Nhà Thơ
     Thiên Tài của Việt Nam

Chúa Nguyễn Hoàng

Lịch Sử và Triết Lư  Bonsai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 





 

 


T A N G   M A   T H E O  T Ụ C   L   C  TR U Y Ề N
 



 

PHẦN 3:

  


TANG PHỤC:

Để tang cha may trảm thôi phục
Để tang mẹ may tư thôi phục (tề thôi phục)

Nam thôi phục chế: áo may biên hướng ngoại, quần may biên hướng nội, mũ bằng rơm, dây cột măo dây thắt lưng bện bằng dây gai dây chuối hay dây đay.

Nữ thôi phục chế: áo may biên hướng ngoại, quần may biên hướng nội.

Con trai, con gái chưa chồng, con dâu, đội khăn sô mũ rơm, mặc áo sô, thắt lưng bằng dây chuối...

Để tang cha, quần áo may xổ gấu (trảm thôi). Để tang mẹ, quần áo may vén gấu (tề thôi) "Mẹ vén cha buông". Áo phải khâu đường sóng lưng lộn mép vải ra ngoài, giữa lưng có 1 miếng vải khâu bám vào, gọi là "phụ bản" với ngụ ư: mang trên lưng 1 sự đau buồn thương tiếc. Khăn sô có giải sau lưng gọi là "khăn ngang".

Con gái có chồng mặc áo vén gấu. Con trai chống gậy, gậy tang cha bằng cây trúc, gậy tang mẹ bằng cây vông. Gậy trúc tṛn tượng trưng cho trời, gậy vông vuông tượng trưng cho đất, ư nói: công cha nghĩa mẹ cao rộng như trời đất, khi cha mẹ qua đời, hiếu tử là con có hiếu v́ đă khóc thương nhiều quá mà sinh đau ốm nên phải chống gậy.

Con rể, cháu nội đội mũ mấn, bịt khăn trắng, mặc áo sô trắng, bà con thân thuộc xa th́ bịt khăn trắng.

Cháu đích tôn mồ côi cha phải thay cha đầu rơm mũ bạc, chống gậy, đứng chủ tế, giống như vai tṛ của người con trưởng nam vậy.

CHIÊU TỊCH DIỆN:

Cúng thành phục xong, mỗi ngày 2 buổi sớm chiều cúng cơm gọi là chiêu tịch diện. Buổi sáng con cháu bưng thau nước, khăn mặt, cau trầu vào chỗ linh sàng, khóc 3 tiếng, rồi rước hồn bạch ra linh tọa, buổi chiều cúng xong rước hồn bạch về linh sàng buông màn đắp chăn. Nhà đại gia mới dùng lễ ấy, nhà thường chỉ cúng ở bàn linh tọa thôi.

NHẠC TANG:

Mời phường bát âm gảy đàn thổi sáo, phường tang nhạc thổi kèn đánh trống, mời người khóc mướn đến khóc, thường họ là thành viên của các ban tang nhạc. Con cháu mỗi người nhờ ban nhạc thổi 1 câu khóc rồi thưởng tiền cho họ. Người sang thích đi phúng viếng bằng nhạc, nên những đám tang nhà giàu thường có dăm bảy ban tang nhạc kèn thổi, trống đánh, đờn kéo, người khóc, nghe thật tang tóc thê lương.

LỄ CHUYỂN CỬU:

Trước ngày di quan làm lễ chuyển cửu, tức rước quan tài sang chầu Tổ miếu (nhà thờ họ). V́ lễ này phiền phức quá nên về sau bỏ, thay thế bằng lễ rước hồn bạch, nhà đại gia th́ rước áo mũ đại trào. Nhà không có Tổ miếu chỉ xoay quan tài 1 ṿng thôi.

LỄ ĐỘNG QUAN, ĐƯA ĐÁM:

Trước khi động quan, con cháu xúm quanh quan tài nhắc lên đặt xuống 3 lần. Trước đó có lễ cáo gia tiên, toàn thể tang quyến phủ phục trước linh tọa theo sự điều khiển của thầy lễ. Bên ngoài, bà con làng xóm đi đưa đám đă tụ họp đông đủ với 2 hàng cờ, chiêng, trống trang nghiêm. Khi vị đại diện làng đọc điếu văn xong, 3 hồi chiêng trống cất lên, vị trưởng toán đô tùy (tức âm công mặc đồng phục 2 màu đen trắng) tay cầm 2 thanh tre gơ vào nhau, hô lớn, nhảy múa theo thế hổ quyền chào kính linh cửu xong, ban lệnh cho toán đô tùy tiến vào khiêng quan tài ra cửa ngơ đặt lên linh xa đầu hướng về phía trước.

Con trai chống gậy đi theo quan tài. Nếu con trai chết th́ cháu trai thay cha chống gậy. Con cháu tay bám vào quan tài vừa đi vừa khóc, theo sau là bạn bè thân hữu. Nếu con trai ở xa không về kịp th́ cây gậy của người ấy được treo ở đầu đ̣n khiêng. Nếu người chết không có con trai, th́ ai thừa tự phải chống gậy. Con gái, con dâu thỉnh thoảng phải nằm lăn ra mặt đường cho linh cữu đi qua, con gái nằm ngoảnh mặt về phía trước, con dâu nằm ngoảnh mặt về phía sau.

Đi kèm bên linh cửu gọi là hộ tang, đi đưa gọi là tống tang.
 

NGHI THỨC ĐI ĐƯỜNG:

Đi đầu đám tang là 2 thần Phương Tướng làm bằng giấy có 4 mắt, h́nh dung dữ tợn, cầm binh khí dẫn đạo. Từ xa xưa dùng 2 người thật đeo mặt nạ cầm giáo mác đóng vai thần Phương Tướng đi đầu dẹp ôn trừ tặc.

Theo sau là thủ kỳ 2 người khiêng có 1 bức hoành vải trắng đề 4 chữ Hán: "Hổ Sơn Vân Ám" (cha mất) hay "Dĩ Lĩnh Vân Mê" (mẹ mất) lấy từ câu:

Trèo lên núi Hổ ta trông thấy cha
Trèo lên núi Dĩ ta trông ngóng mẹ

Hai bên có treo đèn lồng chức tước, húy, hiệu của người quá cố.

Tiếp đến là tấm minh tinh làm bằng dăi lụa đỏ, hoặc giấy đỏ viết bằng phấn trắng đề chức, tước, tên, họ, thụy, hiệu của người chết với 4 chữ "quỷ khốc linh thính" trương cao trên 1 cành tre như cây phướn hoặc để lên thủ kỳ cho 2 người khiêng. Theo sau là hương án bày giá hương, độc b́nh, đồ tam sự (2 cây nến, 1 lư hương) và 1 mâm ngũ quả.

Kế đến là án thực bày tam sinh, hoặc lợn quay, bánh trái.

Rồi đến hồn bạch, có phường bát âm, có đèn giấy, có biển đan triệu: đàn ông đề 2 chữ "Trung Tín" đàn bà đề 2 chữ "Trinh Thuận", cùng những câu liễn của người phúng viếng. Nhà đại gia có áo mũ đại trào, cờ, tán, nến sáp, chiêng, trống, vơng, lộng. Nhà thường th́ chỉ có kèn trống thổi khúc nam thương.

Sau cùng là linh xa rước linh cữu. Con cháu tống táng đi theo linh cữu. Nhà theo Phật có các bà văi cầm phướn đi 2 bên tụng kinh niệm Phật gọi là đi hộ phúc, nhà sư mặc áo cà sa gơ mơ tụng kinh, các bà văi đội cầu bát nhă cho vong hồn bước qua cơi Phật. Giấy vàng bạc được rải trên suốt đoạn đường linh cửu đi qua để đuổi trừ ma quỷ.

NHÀ TRẠM:

Nhà phú quư dọc đường có cất trạm tế trung đồ, lợp bằng lá, hay cót, kết hoa, treo đèn, liễn... Tại huyệt có cất trạm tế hạ huyệt. Lúc cúng trạm, thường nhờ người có chức tước danh giá đứng đề chủ: tay cầm bút chấm 1 chấm lên tấm thần chủ ngay tại đầu chữ "chủ", rồi sổ 1 nét.

HẠ HUYỆT:

Chủ tang nhờ thầy địa lư nhắm hướng chọn chỗ để đào huyệt, định giờ hoàng đạo để hạ huyệt. Đến huyệt, 2 thần Phương Tướng đi dạo 4 góc, đoạn đưa quan tài xuống, tháo tấm minh tinh trải lên quan tài lật qua lật lại 3 lần, con cháu khóc lạy, khách khứa vào viếng, mỗi người ném 1 ḥn đất hoặc 1 cành hoa xuống huyệt, rồi lấp đất. Tang quyến làm lễ cúng Thổ Thần cầu cho người nằm dưới mộ được yên ổn. Nếu theo Phật th́ các Tăng Ni làm lễ cúng Quy Lăng cầu Phật độ vong, vừa đi quanh mộ vừa niệm "Nam mô A Di Đà Phật", gọi là dong nhang.

HẠ HUYỆT TRÁNH NGÀY XẤU:

Tránh ngày: sát chủ, thọ tử, bạch hổ thực thi, bát ṭa, thiên tặc, phá sát, âm thố, dương thố, đại mộ, tam tang, tam xa sát, trùng tang, trùng nhựt, thiên kim cang, xung kỵ bổn mạng, xung khắc hiếu tử...

Nếu gặp ba bốn ngày xấu liên tiếp th́ phải dùng đạo táng, nghĩa là không xin lễ đào huyệt, không tế hậu thổ, chôn xong rồi về nhà, đợi ngày tốt đến làm lễ tạ mộ, đó chỉ là 1 việc bất đắc dĩ.

KHÓC LẠY:

Khi linh cữu c̣n để trong nhà, con cháu và khách phúng viếng lạy 2 lạy coi như người c̣n sống, nhưng khi mai táng xong th́ lạy 4 lạy.

Trong đám tang, con cháu lúc nào cũng phải khóc. Khách vào phúng viếng thường "ô hô" 3 tiếng, con cái phải khóc đáp lễ; khách lạy 2, th́ đáp 1; khách lạy 4, th́ đáp 2; và phải lạy trên đất chứ không được lạy trên chiếu.

Con cháu tập trung khóc lóc chưa đủ, các nhà phú quư c̣n mời các phường thương vay khóc mướn đến khóc than kể lể rất bài bản.

 

  


 VINH HỒ
15/3/2005

(C̣n Tiếp)
 


Tài liệu tham khảo:

Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính
Thọ Mai Gia Lễ
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
Tục Lệ Cưới Gả, Tang Ma của Người Việt Xưa, của
   Phan Thuận Thảo, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999
Lễ Tang của Khải Chính Phạm Kim Thư, đăng trên
   mạng lưới: 
http://e-cadao.com/phongtuc/index.htm