TRẦN MINH HIỀN
 


 

  TẾT ĐOAN NGỌ

  Những Điều Lư Thú Về Các Tổng Thống PHÁP

 Phần 1   |  Phần 2  |  Phần 3

  THUYẾT DUNG H̉A

 Phần 1      |      Phần 2

Phần 3       |     Phần 4 


 
Những Điều Lư Thú Về Các Tổng Thống HOA KỲ

 Phần 1     |    Phần 2 

Phần 3      |    Phần 4 

  Những Điều Lư Thú Về
      GIÁNG SINH
 

 

****
 

Mục Lục Biên Khảo/Sưu Tầm  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

www.ninh-hoa.com

 



 

TẾT ĐOAN NGỌ
 

 

Tết Đoan Ngọ là một ngày Tết đặc biệt mà lúc đầu người Việt chúng ta bị ảnh hưởng bởi người Tàu nhưng sau dần dần đă được Việt hóa và ngày nay là một lễ Tết riêng biệt của người Việt Nam khác với người Tàu và các nước châu Á khác. Ngày này nhằm ngày mùng 5 tháng 5 ÂL. 

 

Tết Đoan ngọ hay Tết Đoan dương, ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, là một ngày Tết truyền thống tại Trung Quốc cũng như một số nước Đông Á như Triều Tiên, Việt Nam. Tết Đoan ngọ tồn tại từ lâu trong văn hoá dân gian Phương Đông và có ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hoá. Đoan nghĩa là mở đầu, Ngọ là giữa trưa và ăn tết Đoan Ngọ là ăn vào giữa trưa. Đoan Ngọ lúc mặt trời bắt đầu ngắn nhất, ở gần trời đất nhất trùng với ngày hạ chí. Tết Đoan Ngọ c̣n được gọi là Tết Đoan Dương. Thời gian này cũng là khi khí dương đang thịnh nhất trong năm. Ở Việt Nam, dân gian c̣n gọi là Tết giết sâu bọ.

 

Tết Đoan ngọ ở Việt Nam cũng c̣n gọi là "ngày giết sâu bọ" là ngày phát động bắt sâu bọ, tiêu diệt bớt các loài gây hại cho cây trồng trên cánh đồng, trong đó nhiều loài sâu có thể ăn được và chúng được coi như là chất bổ dưỡng. người ta tin rằng khi ăn món ăn đầu tiên trong ngày này th́ sâu bọ; giun sán trong người sẽ bị chết hết. Truyền thuyết về lịch sử ngày mùng 5 tháng năm được lưu truyền khác nhau ở Việt Nam, Trung Quốc và Hàn Quốc.

 

Trung Quốc với truyền thuyết Khuất Nguyên

 

Vào cuối thời Chiến Quốc, có một vị đại thần nước Sở là Khuất Nguyên. Ông là vị trung thần nước Sở và c̣n là nhà văn hoá nổi tiếng. Tương truyền ông là tác giả bài thơ Ly tao (thuộc thể loại Sở từ) nổi tiếng trong văn hóa cổ Trung Hoa, thể hiện tâm trạng buồn v́ đất nước suy vong với hoạ mất nước. Do can ngăn vua Hoài Vương không được, lại bị gian thần hăm hại, ông đă uất ức gieo ḿnh xuống sông Mịch La tự vẫn ngày mùng 5 tháng 5. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ư làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh,lấy bỏ gạo vào ống tre rồi thả xuống sông cúng Khuất Nguyên. Ngoài ra, có truyền thuyết khác về sự bắt nguồn của ngày tết Đoan Ngọ, nhiều nguồn tin cho rằng tập tục tết Đoan Ngọ là bắt nguồn từ Hạ Trí trong thời cổ, có người th́ cho rằng, đây là sự tôn sùng vật tổ của người dân vùng sông Trường Giang.

 

Như vậy, theo hai truyền thuyết trên th́ mùng 5 tháng 5 có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa. Tuy nhiên, Việt nam đă có biến thể riêng của ḿnh thành ngày "Tết giết sâu bọ", là một bằng chứng của hiện tượng "dân gian hóa" ảnh hưởng văn hóa từ Trung Quốc

 

Việt Nam

 

Trong văn hoá Việt th́ ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch lại là ngày giỗ Quốc mẫu Âu Cơ. Trong dân gian đă lưu truyền câu ca dao:

 

Tháng Năm ngày tết Đoan Dương.

Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang.

 

Ở vùng đồng bằng Nam Bộ Việt Nam th́ ngày mùng 5 tháng 5 c̣n được gọi là ngày "Vía Bà", thờ Linh sơn Thánh mẫu trên núi Bà Đen.

 

Ở Đồng Tháp nói riêng và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung, ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch c̣n gọi là ngày "nước quay", v́ cứ theo lệ hàng năm, nước ở thượng nguồn đổ về đến nước ta làm nước sông trở thành đỏ đục và có nhiều xoáy nước. Và năm nào cũng vậy, ngày này được coi là ngày bắt đầu của những mùa lũ hàng năm.

Theo Tộc Lê sĩ: Trong lịch sử Việt Nam, Tết Đoan Ngọ bắt đầu từ thời vua Lê Đại Hành, một anh hùng giải phóng dân tộc và cũng là vị vua sáng kiến "Quân ḥa dân trị, quốc gia ư thái ḥa". Vua Đại hành ra ruộng cày cấy cùng dân đúng mùng 5 tháng 5 và nên ngài ra chiếu chỉ ngày này là ngày Tết dân gian (thay v́ Tết ông bà, 1/1 Nguyên đán). Đoan: cùng nhau, và Ngọ: giữa ngày, giữa năm .... nghĩa bóng là toàn dân, Ngày này đúng là ngày Tết Việt Nam con Nguyên Đán là Tết Trung Quốc, mùng 5/5 cũng là ngày phô trương t́nh dân tộc bà con láng giềng không phân biệt tuổi tác, phẩm trật, vua tôi (ở Làng Phú lương chợ cầu, Quảng Điền, Thừa Thiên, Huế thời vua Quang Trung, lễ hội, 5/5 có cho tài năng thanh niên, đấu vơ, nấu cơm tre, nhảy sào, đua ghe. Và có Công nương làng đôi ném chiếc bông tai, nhẫn hay 1 trang sức xuống sông cho các chàng trai t́m, ai t́m được sẽ được thưởng hay lấy công nương đó làm vợ ! Tết này rất trân trọng dưới thời Tây Sơn v́ "Thiên hạ đại tín" và "Huynh đệ chi Binh" bắt đầu từ đó! Tết Đoan Dương là của Tàu? Khác nghĩa nhưng trùng ngày vậy thôi ...

 

Chuẩn Bị

 

Trước ngày Tết, người ta mua rất nhiều trái cây để cúng và ăn. Hầu hết mọi gia đ́nh cũng mua hoặc làm rươu nếp, bánh tro.

 

Các hoạt động chính vào Tết Đoan Ngọ

 

Tết Đoan Ngọ là dịp người ta thường ăn tết ở nhà với gia đ́nh. Buổi sáng sớm ngày Tết Đoan Ngọ người ta ăn bánh tro, trái cây, và rượu nếp để giết sâu bọ, bệnh tật trong người. Thường lệ người ta ăn rượu nếp tức th́ sâu khi họ ngủ dậy.

Người ta cúng lễ cho một tiết mới, mừng sự trong sáng và quang đăng.

 

Nhiều người tắm nước lá mùi để pḥng bệnh và tẩy trừ “sâu bọ”. Nhiều địa phương ở ven biển đúng giờ ngọ họ đi tắm biển. Tại v́ ngày này, theo quan niệm dân gian khí dương mạnh nhất trong năm, người ta cúng lễ để cầu an. Cũng theo quan niệm đó, các lọai cây lá hái trong thời gian này có tác dụng chữa bệnh tốt nhất nên các thày thuốc thường lên núi hái thuốc.

 

Vào dịp Tết Đoan Ngọ, ai bị cảm cúm nên dùng 5 loại lá: bạch đàn, xương rồng, ngũ trảo, dâu tằm ăn, và sả nấu nước xông để bớt bệnh. Người ta cũng t́m mua cành xương rồng bỏ trong nhà để đuổi tà ma.

 

Nét ẩm thực đặc biệt

 

Bánh tro đă trở thành món ăn truyền thống trong dịp Tết Đoan Ngọ ở Việt Nam. Bánh tro có nhiều tên khác nhau như banh ú, bánh gio và bánh âm và có vài biến thể khác nhau theo điệu phương. Người ta làm bánh bằng gạo đă ngâm từ nước tro được đốt bằng củi các loại cây khô hay rơm, gói trong lá chuối. Bánh tro dễ ăn, dễ tiêu làm mát ruột, thường ăn với đường hoặc mật.

Rượu nếp cũng là món ăn được nhiều người ưa thích trong tết Đoan Ngọ. Uống rượu hoặc ăn rượu nếp giết sâu bọ.

 

Khuất Nguyên (chữ Hán: 屈原; bính âm: qū yúan), tên B́nh, biệt hiệu Linh Quân (340 TCN - 278 TCN) là một chính trị gia, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng của Trung Quốc. Ông là người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Ông học rộng, nhớ dai, giỏi về chính trị, lại có tài văn chương. Lúc đầu ông được vua yêu quư, sau có quan lại ganh tài ông, t́m cách hăm hại. Vua Sở nghe lời gièm pha nên ghét ông. Ông âu sầu, ưu tư viết thiên Ly Tao để tả nỗi buồn bị vua bỏ.

 

Ngoài tập Ly Tao là tập thơ bất hủ của ông để lại, ông c̣n có nhiều sáng tác thơ khác như Sở từ, Thiên Vấn (Hỏi trời).v.v.

 

Đến cuối đời ông bị vua Tương Vương (người nối ngôi Sở Hoài Vương) đày ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử). Ông thất chí, tự cho ḿnh là người trong sống trong thời đục, suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú "Hoài Sa" rồi ôm một phiến đá, gieo ḿnh xuống sông Mịch La tự tử.

Ông cũng chính là nhân vật trong sự tích tết Đoan Ngọ (Đoan Dương). Theo truyền thuyết này, để tưởng nhớ về con người và cái chết bi ai của ông, hàng năm người ta tổ chức vào ngày mồng năm tháng năm là ngày tết Đoan Dương ở Trung Quốc và một số nước khác ở Châu Á.

 

Ông là người tính t́nh luôn thay đổi một cách kỳ dị thể hiện qua các trang viết của ông: vừa vui đă buồn, vừa cười đă khóc. Vừa muốn đi xa lại đổi ư. Đ̣i lên chầu Thượng Đế lại muốn trở về cố hương, rồi lại muốn tự tử. T́nh cảm của ông biểu hiện một cách trung thực: mỗi chữ là một tiếng thở dài lâm ly, một giọt nước mắt năo ruột. Ít có một văn nhân nào đau khổ, thác loạn đến thế. Trong lời đối thoại với ông lăo đánh cá cũng chính là cách để thể hiện tâm sự của ông, Khuất Nguyên đă nói với ông lăo đánh cá: “Cả đời đục cả, một ḿnh ta trong; mọi người say cả, một ḿnh ta tỉnh; bởi vậy nên ta phải bị băi chức”.

 

Ông không chịu đem cái thân trong sạch mà để cho vật dơ bẩn dính vào ḿnh được: "Chẳng thà nhảy xuống sông Tương, vùi xác vào bụng cá, chớ sao đang trắng lôm lốp, lại chịu để vấy phải bụi dơ”.

Truyền thuyết Khuất Nguyên: Vào cuối thời Chiến Quốc, có một vị đại thần nước Sở là Khuất Nguyên. Ông là vị trung thần nước Sở và c̣n là nhà thơ, nhà văn hoá nổi tiếng của Trung Quốc. Tương truyền ông là tác giả hai bài thơ Ly Tao và Sở từ, nổi tiếng trong văn hóa cổ Trung Hoa, thể hiện tâm trạng buồn v́ đất nước suy vong với hoạ mất nước. Do can ngăn vua Hoài Vương không được, lại bị gian thần hăm hại, ông đă uất ức gieo ḿnh xuống sông Mịch La tự vẫn ngày mùng 5 tháng 5. Dân làng ở đó đă mang những thuyền đến giữa ḍng sông để cố gắng cứu vớt nhưng không thành. Để cho cá và các linh hồn của ma quỷ không lại gần được thi thể của ông họ đă đánh trống và vẩy nước bằng các mái chèo của họ. Sau đó để tưởng nhớ, tỏ rơ sự tiếc thương một người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ư làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên.

 

Ly Tao (tiếng Hán: 離騷; Pinyin: Lí Săo) là một trong những bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc do Khuất Nguyên sáng tác. Đây là một tác phẩm bất hủ của ông. Tác phẩm dài 370 câu tả tâm sự của tác giả.

 

Ly Tao được dịch ra theo nghĩa tiếng Việt là sự "oán thán" (lời than văn), nhưng cũng được biết đến với nghĩa là "sự buồn phiền quá đỗi" hay một "tâm trạng xáo trộn". Đặc sắc của bài trường thiên này là lời bi thảm triền miên, thường dùng lối tượng trưng, lối nhân cách hóa và dẫn rất nhiều điển cố thần thoại.

 

Lời b́nh của Tư Mă Thiên

 

Trong Sử kư, Tư Mă Thiên viết: “Ly Tao” cũng như là buồn trong chia ly. Trời là khởi thủy của loài người. Cha, mẹ là gốc của con người. Người ta gặp lúc khốn cùng th́ quay về gốc. Cho nên hễ khó khóc mỏi mệt, ốm đau, không ai không kêu trời! Khi đau xót, thương cảm, không ai không kêu cha mẹ. Khuất B́nh theo đạo ngay đi đường thẳng, dốc hết ḷng trung, đưa hết trí khôn ra thờ vua, nhưng lại bị kẻ gièm pha ly gián, có thể gọi là ở vào cảnh khốn cùng vậy! Ḿnh tín mà bị ngờ vực, ḿnh trung mà bị chỉ trích, làm sao khỏi oán thán! Khuất B́nh viết Ly Tao là do oán thán mà ra vậy! Thơ Quốc Phong mê sắc mà không dâm, thơ Tiểu Nhă oán trách mà không loạn. Như Ly Tao thực là gồm được cả hai. Trên kể từ Đế Cốc, dưới nói đến Tề Hoàn, giữa thuật truyện vua Thang và Vũ, chỉ trích việc đời. Nó nêu rơ tầm quan trọng của đạo đức, nguyên nhân làm nước nhà trị hay loạn, không có chuyện ǵ là không nói đến. Văn ông ngắn gọn, kín đáo, chí ông trong sạch, nết ông thanh cao; tuy nói những điều vụn vặt, nhưng ư nghĩa rất rộng; việc nhắc đến tuy gần, nhưng nghĩa th́ xa. Chí ông trong sạch nên hay nói đến cái hoa thơm. Nết ông cao cho nên dù chết cũng không được dung nạp. ông thoát khỏi cái thế giới bùn lầy như con ve bỏ lốt ở nơi dơ đục, để cất ḿnh ra khỏi đám bụi trần chẳng để cho đời làm dơ bẩn. Thật là ở bùn mà trong trắng chẳng lây đen. Suy cái chí ấy th́ ông có thể thi sáng với Mặt Trăng, Mặt Trời vậy!

 

Bản tiếng Hán

離騷

 

帝高陽之苗裔兮,朕皇考曰伯庸。

攝提貞于孟陬兮,惟庚寅吾以降。

皇覽揆余初度兮,肇錫余以嘉名。

名余曰正則兮,字余曰靈均。

紛吾既有此內美兮,又重之以脩能

扈江離與辟芷兮,紐[1]秋蘭以為佩。

汩余若將不及兮,恐年歲之不吾與

朝搴阰之木蘭兮,夕攬洲之宿莽

日月忽其不淹兮,春與秋其代序。

惟草木之零落兮,恐美人之遲暮。

不撫壯而棄穢兮,何不改此度?

乘騏驥以馳騁兮,來吾道夫先路。

昔三后之純粹兮,固衆芳之所在。

雜申椒與菌桂兮,豈維紐[2]夫蕙茝?

彼堯舜之耿介兮,既遵道而得路。

何桀紂之昌披兮,夫唯捷徑以窘

惟黨人之偷樂兮,路幽昧以險隘

豈余身之憚殃兮,恐皇輿之敗績。

忽奔走以先後兮,及前王之踵武。

荃不察余之忠情兮,反信讒而齌怒

余固知謇謇之為患兮,忍而不能舍也。

指九天以為正兮,夫唯靈脩之故也。

初既與余成言兮,後悔遁而有他。

余既不難離別兮,傷靈脩之數化。

余既滋蘭之九畹兮,又樹蕙之百畝。

畦留夷與揭車兮,雜杜衡與芳芷

冀枝葉之峻茂兮,願竢時乎吾將刈。

雖萎絕其亦何傷兮,哀衆芳之蕪穢。

衆皆競進以貪婪兮,憑不猒乎求索。

內恕己以量人兮,各興心而嫉妒

忽馳騖以追逐兮,非余心之所急。

老冉冉其將至兮,恐脩名之不立。

朝飲木蘭之墜露兮,夕餐秋菊之落英。

苟余情其信姱以練要兮,長顑頷亦何傷?

攬木根以結茝兮,貫薜荔之落蕊。

矯菌桂以紉蕙兮,索胡繩之纚纚。

謇吾法夫前脩兮,非時俗之所服。

雖不周於今之人兮,願依彭咸之遺則。

長太息以掩涕兮,哀民[3]生之多艱。

余雖好脩姱以鞿羈兮,謇朝誶而夕替。

既替余以蕙纕兮,又申之|[4]攬茝。

亦余心之所善兮,雖九死其猶未悔。

怨靈脩之浩蕩兮,終不察夫民[5]心。

衆女嫉余之蛾眉兮,謠諑謂余以善淫。

固時俗之工巧兮,偭規矩而改錯。

背繩墨以追曲兮,競周容以為度。

忳鬱邑余侘傺兮,吾獨窮困乎此時也。

寧溘死以流亡兮,余不忍為此態也。

鷙烏之不羣兮,自前世[6]而固然。

何方圜之能周兮,夫孰異道而相安。

屈心而抑志兮,忍尤而攘詬。

伏清白以死直兮,固前聖之所厚。

悔相道之不察兮,延佇乎吾將反。

回朕車以復路兮,及行迷之未遠。

步余馬於蘭臯兮,馳椒丘且焉止息

進不入以離尤兮,退將復脩吾初服。

製芰荷以為衣兮,集芙蓉以為裳。

不吾知其亦已兮,苟余情其信芳。

高余冠之岌岌兮,長余佩之陸離。

芳與澤其雜糅兮,唯昭質其猶未虧。

忽反顧以遊目兮,將往觀乎四荒。

佩繽紛其繁飾兮,芳菲菲其彌章。

[7]生各有所樂兮,余獨好脩以為常。

雖體解吾猶未變兮,豈余心之可懲。

嬃之嬋媛兮,申申其詈予

曰鯀婞直以亡身兮,終然殀乎羽之野。

汝何博謇而好脩兮,紛獨有此姱節。

薋菉葹以盈室兮,判獨離而不服。

衆不可戶說兮,孰云察余之中情

世並舉而好朋兮,夫何煢獨而不予聽。

依前聖以節中兮,喟憑心而歷玆

濟沅湘以南征兮,就重華而敶詞

啟《九辯》與《九歌》兮,夏康娛以自縱

不顧難以圖後兮,五子用失乎家巷。

羿淫遊以佚畋兮,又好射夫封狐。

固亂流其鮮終兮,浞又貪夫厥家。

澆身被服強圉兮,縱欲而不忍。

日康娛而自忘兮,厥首用夫顛隕。

夏桀之常違兮,乃遂焉而逢殃。

后辛之菹醢兮,殷宗用而不長。

湯禹儼而祗敬兮,周論道而莫差。

舉賢而授能兮,循[8]繩墨而不頗[9]

皇天無私阿兮,覽民[10]德焉錯輔。

夫維聖哲以茂行兮,苟得用此下土。

瞻前而顧後兮,相觀民[11]之計極。

夫孰非義而可用兮,孰非善而可服。

阽余身而危死兮,覽余初其猶未悔。

不量鑿而正枘兮,固前脩以菹醢。

曾歔欷余鬱邑兮,哀朕時之不當。

攬茹蕙以掩涕兮,霑余襟之浪浪。

跪敷衽以陳辭兮,耿吾既得此中正;

駟玉虬以乘鷖兮,溘埃風余上征。

朝發軔於蒼梧兮,夕余至乎縣圃;

欲少留此靈瑣兮,日忽忽其將暮。

吾令義和弭節兮,望崦嵫而勿迫

路曼曼其脩遠兮,吾將上下而求索。

飲余馬於咸池兮,總余轡乎扶桑。

折若木以拂日兮,聊逍遙[12]以相羊。

前望舒使先驅兮,後飛廉使奔屬。

鸞皇為余先戒兮,雷師告余以未具。

吾令鳳鳥飛騰兮,繼之以日夜。

飄風屯其相離兮,帥雲霓而來御。

紛緫緫其離合兮,斑陸離其上下。

吾令帝閽開關兮,倚閶闔而望予。

時曖曖其將罷兮,結幽蘭而延佇。

世溷濁而不分兮,好蔽美而嫉妒。

朝吾將濟於白水兮,登閬風而緤馬。

忽反顧以流涕兮,哀高丘之無女。

溘吾遊此春宮兮,折瓊枝以繼佩。

及榮華之未落兮,相下女之可詒。

吾令豐隆椉雲兮,求宓妃之所在。

解佩纕以結言兮,吾令蹇脩以為理。

紛緫緫其離合兮,忽緯繣其難遷

夕歸次於窮石兮,朝濯髮乎洧盤[13]

保厥美以驕傲兮,日康娛以淫遊

雖信美而無禮兮,來違棄而改求。

覽相觀於四極兮,周流乎天余乃下。

望瑤臺之偃蹇兮,見有娀之佚女。

吾令鴆為媒兮,鴆告余以不好。

雄鳩之鳴逝兮,余猶惡其佻巧。

心猶豫而狐疑兮,欲自適而不可。

鳳皇既受詒兮,恐高辛之先我。

欲遠集而無所止兮,聊浮遊以逍遙。

及少康之未家兮,留有虞之二姚。

理弱而媒拙兮,恐導言之不固。

[14]溷濁而嫉賢兮,好蔽美而稱惡。

閨中既以邃遠兮,哲王又不寤。

懷朕情而不發兮,余焉能忍與此終古。

藑茅以筳篿兮,命靈氛為余占之

曰:兩美其必合兮,孰信脩而慕之?

思九州之博大兮,豈唯是其有女?

曰:勉遠逝而無狐疑兮,孰求美而釋女?

何所獨無芳草兮,爾何懷乎故宇?

[15]幽昧以昡曜兮,孰云察余之善惡。

[16]好惡其不同兮,惟此黨人其獨異。

戶服艾以盈要兮,謂幽蘭其不可佩

覽察草木其猶未得兮,豈珵美之能當?

蘇糞壤|[17]充幃兮,謂申椒其不芳。

欲從靈氛之吉占兮,心猶豫而狐疑。

巫咸將夕降兮,懷椒糈而要之。

百神翳其備降兮,九疑繽其並迎。

皇剡剡其揚靈兮,告余以吉故。

日勉陞[18]降以上下兮,求榘[19]矱之所同。

湯禹嚴[20]而求合兮,摯咎[21]繇而能調。

苟中情其好脩兮,何必用夫行媒。

說操築於傳[22]巖兮,武丁用而不疑。

呂望之鼓刀兮,遭周文而得舉。

甯戚之謳歌兮,齊桓聞以該輔。

及年歲之未宴[23]兮,時亦猶其未央。

恐鵜鴃之先鳴兮,使百草為之不芳。

何瓊佩之偃蹇兮,衆薆然而蔽之。

惟此黨人之不諒兮,恐嫉妒而折之。

時繽紛其變易兮,又何可以淹留。

蘭芷變而不芳兮,荃蕙化而為茅。

何昔日之芳草兮,今直為此蕭艾也。

豈其有他故兮,莫好脩之害也。

余以蘭為何恃兮,羌無實而容長。

委厥美以從俗兮,苟得列乎衆芳。

椒專佞以慢慆兮,樧又欲充夫佩幃

既干進而務入兮,又何芳之能祗。

固時俗之流從兮,又孰能無變化。

覽椒蘭其若玆兮,又況揭車與江離[24]

惟玆佩之可貴兮,委厥美而歷玆

芳菲菲而難虧兮,芬至今猶未沫。

和調度以自娛兮,聊浮游而求女

及余飾之方壯兮,周流觀乎上下。

靈氛既告余以吉占兮,歷吉日乎吾將行

折瓊枝以為羞兮,精瓊爢以為粻

為余駕飛龍兮,雜瑤象以為車。

何離心之可同兮,吾將遠逝以自疏。

邅吾道夫崑崙兮,路脩遠以周流。

揚雲霓之晻藹兮,鳴玉鸞之啾啾。

朝發軔於天津兮,夕余至乎西極。

鳳皇翼其承旂兮,高翱翔之翼翼

忽吾行此流沙兮,遵赤水而容與。

麾蛟龍使梁津兮,詔西皇使涉予

路脩遠以多艱兮,騰衆車使徑待。

路不周以左轉兮,指西海以為期。

屯余車其千乘兮,齊玉軑而並馳。

駕八龍之婉婉兮,載雲旗之委蛇。

抑志而弭節兮,神高馳之邈邈。

奏《九歌》而舞《韶》兮,聊假日以媮樂

陟陞[25]皇之赫戲兮,忽臨睨夫舊

僕夫悲余馬懷兮,蜷局顧而不行。

亂曰:已矣哉,

國無人莫我知兮,又何懷乎故都?

既莫足與為美政兮,吾將從彭咸之所居。

 

Bản dịch tiếng Việt:

Nỗi sầu ly biệt

(Người dịch: Nhượng Tống)

 

 

Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ,

Vốn ḍng vua về họ Cao Dương.

Tháng giêng đầu tiết xuân sang,

Cơi đời ta xuống giữa đương ngày Dần.

Buổi trứng nước ân cần chăm sóc,

Biết bao nhiêu khó nhọc công cha.

Chữ hay kén đặt cho ta:

Tên là Chính Tắc, tự là Linh Quân.

Trong ta đă mười phần lộng lẫy,

Chải chuốt càng thêm nẩy xinh tươi.

Sói ngàn nhài băi khoác ngoài,

Tết lan thu lại làm đai đeo thường.

Sợ chẳng kịp ta càng mê mải,

Tuổi xanh nào có đợi ǵ ai.

Mộc lan sớm cắt trên đồi,

Đông thanh chiều hái bên ngoài bến sông.

Ngày tháng vút đi không trở lại,

Vừa xuân qua đă lại thu sang.

Đoái trông cỏ áy cây vàng,

Sợ con người đẹp muộn màng lỡ duyên!

Tuổi đang trẻ nết quen càn rỡ,

Thế mà không đổi sửa cho đành.

Ngựa hay cưỡi lấy, đi nhanh,

Lại đây ta chỉ cho ḿnh đường quang.

Đời ba vua thuở đang rực rỡ,

Các giống thơm hớn hở đua tươi.

Hoa tiêu, hoa quế lộn mùi,

Cứ ǵ hoa huệ được người yêu đương.

Theo đạo chính nhằm đường ngay thẳng,

Nghiêu Thuấn xưa thiệt đấng minh quân.

Cớ sao Kiệt Trụ ngu đần,

Đâm đầu lối tắt sa chân đường cùng.

Hám vui bọn chúng không biết sợ,

Đường tối tăm hiểm trở xiết bao.

Xe loan e lúc đổ nhào,

Phải rằng ta sợ thiệt vào đến thân!

Cố theo kịp gót chân vua trước,

Quản chi công xuôi ngược long đong.

T́nh ta ḿnh chẳng xét cùng,

Nghe lời ton hót đem ḷng giận ta!

Nói thẳng vẫn biết là có hại,

Biết vậy mà nín măi không đành!

Chín lần trời hăy chứng minh,

Chỉ v́ ta quá yêu ḿnh đấy thôi!

Trước cùng ta nặng lời hẹn ước,

Sau v́ đâu đổi khác đơn sai?

Biệt ly ta chẳng quản nài,

Xót ḿnh ḷng dạ đổi dời bao phen.

Chín vườn lan lại ngh́n sào huệ,

Một ḿnh ta chăm chỉ hôm mai.

Tử tiêu bạch chỉ xen vai,

Kẹ trong đỗ nhược, bao ngoài tân di.

Mong cành lá có khi đua nẩy,

Chờ đến mùa hái lấy hoa tươi.

Bỏ rơi ta thiết chi đời,

Thấy trăm hoa chịu lạc loài mà thương!

Chúng chen chúc trên đường vụ lợi,

Tấm ḷng tham, tham măi tham hoài!

Đem dạ ḿnh đọ bụng người,

Sinh ḷng ghen ghét, đặt lời gièm pha.

Mồi phú quư cố mà đeo đuổi,

Phải ḷng ta có vội thế đâu.

Cái già sồng sộc theo nhau,

E không để được về sau tiếng lành.

Ăn hoa rụng bên nhành thu cúc,

Uống sương sa dưới gốc mộc lan.

T́nh yêu khôn đẹp muôn vàn,

Khát hoài! đói măi! phàn nàn mà chi!

Rút rễ cây ta xe sợi chỉ,

Xâu cánh hoa thiên lư xinh xinh.

Cánh lan cánh huệ trắng tinh,

Giây ngần bền dẻo tết manh áo ngoài.

Áo như thế thói đời chẳng mặc,

Ta cứ theo phép tắc người xưa.

Dẫu rằng đời có chẳng ưa,

Th́ xin theo lối cũng như Bành, Hàm.

Đời người khổ kể làm sao xiết!

Đành than dài gạt vết lệ hoen.

Làm xinh ta khéo vô duyên,

Sớm vừa can gián chiều liền sa cơ.

Sa cơ mặc nhởn nhơ vẫn thế,

Vẫn đeo lan dắt huệ như xưa.

Ḷng ta đă thích đă ưa,

Dẫu rằng chín chết có chừa được đâu.

Trách ḿnh chẳng suy sau xét trước,

Măi măi không rơ được thói đời.

Chúng ghen ta có mày ngài,

Phao cho ta tiếng con người lẳng lơ.

Người đời thật đă thừa khôn khéo,

Đua nhau theo mức vẹo thước cong.

Khuôn vuông mẫu thẳng chẳng dùng,

Cúi luồn cầu cạnh một ḍng như nhau!

Một ḿnh chịu nuốt sầu ngậm tủi,

Nói ai hay nông nỗi lúc này?

Thà cho sống đọa thác đày,

Ḷng ta không nỡ để lây thói thường!

Loài chim cắt ngang tàng bay bổng,

Vốn xưa nay là giống không đàn.

Vuông tṛn vốn chẳng cùng làn,

Khúc đường ai để yên hàn cho ai?

Tránh điều lỗi, mặc đời xoi mói!

Nén chí xưa, cam nỗi xót xa.

Thánh hiền xưa cũng như ta,

Thẳng ngay mà chết, ấy là chết trong!

Tiếc nhận lối mà không biết lối,

Liệu về thôi, ở lại chi lâu?

Lạc đường cũng chửa xa đâu,

Quay xe trở lại cho mau c̣n vừa.

Giục vó ngựa lên bờ lan dă,

Sang g̣ tiêu thong thả nghỉ ngơi.

Tiến ra chẳng hợp với đời,

Lui về sửa lại mặc ngoài cho xinh.

Hái sen súng, cắt manh áo đẹp,

Cắt phù dung may nếp xiêm dài.

Đời không biết đến mặc đời,

T́nh ta vẫn hẳn vẹn mười thơm tho.

Mũ ta đội xốc cho cao ngất,

Đai ta đeo buông thật dịu dàng.

Khắp ḿnh thơm nức sáng choang,

Đẹp c̣n giữ được chất thường chưa phai.

Chợt quay lại liếc chơi, ta muốn

Đi xem cho khắp bốn cơi hoang.

Rung rinh bao thú điểm trang

Ngọt ngào càng thấy rơ ràng mùi thơm.

Đời ai cũng riêng ham từng món,

Như ta đây chỉ muốn làm xinh.

Phân thây xé xác cũng đành,

Ḷng này hồ dễ dỗ dành được sao?

Tiếng cô chị bước vào léo xéo,

Mắng ta rằng rơ khéo ngẩn ngơ,

"Bướng như chàng Cổn ngày xưa,

Bỏ ḿnh núi Vũ bây giờ ai thương?

Sao em thích khoe khoang chải chuốt,

Riêng một ḿnh giữ một vẻ xinh?

Đầy nhà dây dợ, cỏ tranh,

Người ta mặc cả sao ḿnh lại không?

Nói với chúng dễ ḥng nói xiết!

Ai là người xét biết ḷng ta?

Đời đều bè đảng gian tà,

Một ḿnh ta nói, nói mà ai nghe?"

Trong đạo thành liệu bề theo dơi,

Đến chi đây xiết nỗi tân toan.

Sang Nam qua ngọn Tương Ngoan,

Tới đền vua Thuấn, ta than vài lời:

"Mê hát xướng ḱa đời nhà Hạ,

Vua Thái Khang thỏa dạ vui chơi,

Chẳng lo chẳng nghĩ lâu dài,

Năm con mới phải lạc loài bốn phương.

Vua Nghệ chỉ ham đường săn bắn,

Say chim muông quên hẳn việc thường.

Tham vui vua Xác hoang toàng,

Cả hai đều phải thịt xương tan tành!

Đến vua Ngáo cậy ḿnh sức khỏe,

Chẳng giữ ǵn chỉ phí ăn chơi.

Quên ḿnh ngày tháng giông dài,

Quá ra khi đă để rơi cả đầu.

Hạ Kiệt có biết đâu đạo cả,

Lần lữa trông tai vạ đến nơi.

Vua Tân ướp món thịt người,

Cũng v́ thế mới hết đời nhà Thương!

Lại xét đến Vũ, Thang, Văn, Vơ

Kính mà nghiêm chẳng bỏ đạo hằng.

Cất dùng toàn bọn tài năng,

Theo khuôn giữ mực thẳng băng một chiều.

Ông trời chẳng riêng yêu ai hết,

Xem thấy ai đức nết th́ nên.

Xưa nay chỉ bậc thánh hiền,

Thương dân mới được cầm quyền trị dân.

Trông sau trước xét lần sự thế,

Hăy để tâm suy nghĩ cho cùng.

Làm đâu được việc bất công!

Những phường bất nghĩa có dùng được đâu.

Ḷng này nghĩ trước sau như một,

Dẫu chết ngay chẳng chút nôn nao.

Người xưa oan thác biết bao,

Theo vuông lựa có vào sao lỗ tṛn.

Nức nở khóc cho buồn đầy dạ,

Tủi cho thân sinh đă lỗi thời!

Gạt sầu bứt cánh huệ tươi,

Áo khăn lă chă lệ rơi ướt đầm!

Quỳ khép áo lầm rầm khấn vái:

"Xin dốc theo lẽ phải đường ngay!"

Quay ra đạp gió rẽ mây,

Cưỡi rồng gióng phượng định ngày chơi xa.

Sớm Thương-Ngô, chiều qua Huyền Phố,

Đến thần linh xa ngó cơi ngoài.

Chốn này muốn tạm nghỉ ngơi,

Chiều hôm bảng lảng mặt trời xuống nhanh.

"Hy Ḥa hỡi nể t́nh ta với!

Lối non đoài chớ vội xông pha.

Quản bao nước thẳm non xa,

Để ta t́m kiếm cho ra bạn ḷng!"

Cho ngựa uống bên đồng Dục Nhật,

Buông dây cương ở đất Phù Tang.

Nhởn nhơ chốc lát dọc đường,

Bẻ cành nhược mộc chăng ngang mặt trời.

Chị trăng phải nhanh chân tiến trước,

D́ gió cho lần bước theo sau.

Chim loan mở lối đi đầu,

Nhưng thầm sấm sét dốc hầu chưa xong!

Ta giục phượng gia công bay măi,

Suốt ngày đêm rong ruổi cho mau.

Cơn giông băo táp theo hầu,

Cầu vồng mống cụt đem nhau đến chào.

Khắp các ngă trước sau tới tấp,

Đủ mọi mầu trên dưới tơi bời...

Ta truyền mở cửa nhà trời!

Lính canh lại tựa cửa ngoài nh́n ta.

Người mỏi mệt trời đà sẩm tối,

Đứng bơ phờ tay với bông lan.

Cơi đời nhơ đục muôn vàn,

Ghét tài, ghét đẹp, thói càn đă quen.

Sớm dóng ngựa qua miền Bạch Thủy,

Lên Lăng Phong ta sẽ dừng cương.

Không ai là gái đảm đang,

Trông về nước Sở gạt hàng lệ rơi.

Chơi cung Xuân này nơi thanh nhă,

Đeo dắt thêm hai đóa hoa quỳnh.

Hoa tươi c̣n chửa ĺa cành,

Xem ai là gái hữu t́nh ta đưa.

Sai thần mây đi mưa về gió,

Cung Phục Phi t́m rơ tới nơi.

Mối may ta lại cậy người,

Cởi dây đeo để ngỏ lời giao đoan.

Trải mấy độ qua ngàn vượt núi,

Bỗng dọc ngang đường lối khó thông.

Chiều hôm về nghỉ non Cùng,

Sớm ra gội tóc trên sông Vị Bàn.

Nàng cậy đẹp khinh nhờn quen thói,

Quên tháng ngày, mê mải dong chơi.

Đẹp nhưng mất nết xin thôi,

Bỏ t́m chốn khác lấy người đoan trang.

Vùng trời rộng bốn phương man mác,

Xem khắp rồi lại bước xuống đời.

Hữu nhung trông với cơi ngoài,

Long lanh đền ngọc thấy người gái xinh.

Mượn chim trấm mối manh nói hộ,

Trấm trả lời: "Việc đó không xuôi!"

Ḱa chim tu hú dại đời,

Ta c̣n ghét nó là loài tinh ranh.

Ḿnh khuây khỏa lấy ḿnh chẳng nối,

Ḷng hồ nghi trăm mối vấn vương.

Chịu lời ta đă phượng hoàng,

Chỉ e ta đến sau chàng Cao Tân.

Xa t́m chốn yên thân chẳng có,

Đành lênh đênh đây đó biết sao!

Thiếu Khang đang lúc ba đào,

Họ Kiều hai gái sánh vào vừa xinh.

Lư đă kém mối manh lại vụng,

Chỗ hẹn lời e cũng không bền.

Người đời bẩn tưởi nhỏ nhen,

Chuộng bên gian ác, ghét bên hiền tài.

Buồng the đă là nơi cách trở,

Nhà vua c̣n đang cữ mê say.

Ôm ḷng biết ngỏ ai hay,

Bước đời nhịn măi nước này được sao.

Chẻ nắm quẻ Quỳnh-mao làm thẻ

Mượn Linh-phân gieo quẻ nhân duyên.

Quẻ rằng: "Ao ước th́ nên,

Bên tài bên sắc đôi bên cùng ḷng.

Nghĩ chín cơi mênh mông rộng răi,

Phải riêng đây có gái kén chồng?

Đường xa xin chớ ngại ngùng,

Người xinh ai chẳng đem ḷng khát khao?

Cỏ thơm kể nơi nào chẳng có,

Thương tiếc chi quê cũ nữa anh!

Quáng ḷa bao kẻ chung quanh,

Dở hay ai xét cho ḿnh nữa đâu!

Ḷng yêu ghét khác nhau biết mấy!

Bọn chúng coi thật thấy lạ đời.

Cỏ hôi đeo dắt đầy người,

Hoa lan thơm ngát chê bai chẳng dùng.

Loài cây cỏ c̣n không phân biệt,

Giống ngọc lành xét biết đâu mà!

Phân tro xếp đống đầy nhà,

Cánh hồi cánh quế chê là không thơm"

Quẻ dạy thế, ở làm chi nữa!

Nhưng ḷng c̣n lưỡng lự chưa đi.

Chiều nay sắp đặt lễ nghi,

Mời Vu Hàm lại ta th́ hỏi han.

Chín dăy núi chập chờn đón rước,

Trăm vị thần chững chạc tới nơi.

Hào quang rực rỡ đầy trời,

V́ ta dạy hết mọi lời thủy chung.

Rằng: "Lên xuống cố công t́m hỏi,

Ai cùng ḿnh khuôn lối như in.

Vũ, Thang kén lựa tôi hiền,

Chí Cao Dao được chúng tin yêu v́.

Quả là đẹp cứ ǵ tốt mối!

Giá ngọc lành há phải bán rong!

Duyệt xưa đắp đất ngoài đồng,

Vũ Đinh t́m gặp tin dùng chẳng nghi.

Lă Vọng trước làm nghề bán thịt,

Gặp Văn Vương mới biết tướng tài.

Chăn trâu Ninh Thích hát chơi,

Tề Hoàn nghe đă cho vời làm quan.

Tuổi chưa muộn lo toan c̣n kịp,

Thời đang vừa thu xếp đi cho!

Véo von đề quyết gọi thu,

Trăng hoa e lúc thơm tho chẳng c̣n!

Ṿng hoa quỳnh đẹp gịn biết mấy,

Che lấp đi ai biết vẻ xinh!

Ghét ghen chúng chẳng thương t́nh,

E khi giập găy tan tành biết đâu."

Trách thời tiết thật mau thay đổi,

Nào lữa lần được măi cho cam.

Hoa lan giờ đă hết thơm,

Hoa lài hoa huệ hóa làm cỏ tranh...

Bao nhiêu giống hương thanh sắc đẹp,

Đều dốc đời đổi kiếp hôi tanh.

Không năng chải chuốt làm xinh,

Tại ai đâu, chỉ tại ḿnh đấy thôi.

Lan ta tưởng đáng nơi tin cậy,

Có ngờ đâu bóng bẩy mà hư.

Theo đời bỏ vẻ đẹp xưa,

Đua đ̣i cẩu thả cũng như mọi loài.

Tiêu bợ đỡ nịnh đời ra mặt,

Túi thuốc trừ nhét chặt thù du.

Đem thân cầu cạnh bôn xu,

C̣n đâu giữ được thơm tho tính trời.

Thói thường vốn theo thời thay đổi,

Ai giữ ḿnh cho khỏi suy di!

Tiêu Lan c̣n chả ra ǵ,

Trách chi đến sói, kể chi đến nhài!

Riêng hoa quỳnh thật loài đáng quư,

Tới nay c̣n giữ vẻ năm xưa.

Hương c̣n thoang thoảng xa đưa,

Đẹp c̣n nguyên vẹn vẫn như ngày nào.

Tự an ủi, theo vào mực thước,

Ngắm hoa đeo ngày trước c̣n xinh.

Khắp vùng trời đất mông mênh,

T́m cho thấy bạn hữu t́nh mới thôi.

Linh phân dạy: "Quẻ coi tốt lắm!"

Chọn ngày lành ta sắm sửa đi.

Hoa quỳnh bẻ lấy pḥng khi,

Cành th́ làm bánh, cánh th́ làm cơm.

Lộn ngà ngọc đóng làm xe cưỡi,

Kéo xe ta phất phới rồng bay.

Đi cho vắng mặt khuất mày,

Ḷng ĺa, thế bắt thân này phải xa!

Đường thăm thẳm trông ra quanh quất

Hăy ṿng xe qua đất Côn Luân.

Vang vang nhạc ngọc thét dồn,

Mây màu lấp lánh vây tṛn trước sau.

Sớm bên trời bắt đầu rong ruổi,

Chiều hôm ta tới cơi cực tây.

Trước xe đón ngựa cờ bay,

Phượng hoàng vỗ cánh tung mây tuyệt vời.

Chốc ta lại qua chơi bể Cát,

Theo ḍng sông bát ngát đỏ ngầu.

Thuồng thuồng sửa bến cho mau!

Bảo Tây hoàng phải bắc cầu ta sang.

Xa thăm thẳm cơi đường hiểm trở,

Dồn các xe giúp đỡ ta cùng.

Bất Chu lối tả đi ṿng,

Hẹn ngày tháng chỉ qua vùng biển tây.

Đều tay sắp giật dây cương ngọc,

Ngh́n xe cùng một lúc ra đi.

Tám rồng bay lộn trước xe,

Cờ bay phất phới bóng che rợp trời.

Hăy ngừng bước, tạm nguôi dạ tủi,

Buông thần hồn lên cơi cao xa.

Múa Thiều hát khúc Cửu ca,

Tháng ngày thong thả liệu mà làm khuây.

Cất ḿnh khoảng trời mây rộng răi,

Chợt ngoảnh đầu trông lại quê hương.

Ngựa buồn, đầy tớ thảm thương,

Co ro nhớn nhác, ngại đường chẳng đi.

 

Văn rằng:

 

Thôi than tiếc làm chi cho cực!

Biết ta đâu một nước không người.

Chính lành làm sức với ai,

Bành Hàm đâu đó ta thời đi theo.

 

 

 

 

 


TRẦN MINH HIỀN

Orlando ngày 23 tháng 6 năm 2012 ,
Mùng 5 tháng 5 ÂL Năm Nhâm Th́n.

 

 


Trang VĂN HỌC NGHỆ THUẬT