Thích Đạo Quang

Tên thật:
T
rần Thanh Thiên.

Bút hiệu:
Mục Đồng


* Sinh 1977, tại làng B́nh Thành, xă Ninh B́nh.
* Cựu học sinh Trung Học Nguyễn Trăi

niên khóa 1992-1995.

 


- Hiện đang du học tại Delhi, Ấn Độ.

 

 

 

Trang Văn Thơ:
Trần Thanh Thiên

                             
                                         
                                       
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

www.ninh-hoa.com

 

 
 


Phật Giáo
và Chính Trị


Thích Đạo Quang

 

 

    Đức Phật tuy đă vượt ra ngoài tất cả những việc thế tục, nhưng đối với chính phủ, Ngài vẫn cho nhiều lời khuyên tốt đẹp trong vấn đề trị quốc. Xuất thân từ giai cấp Sát-đế-lợi, giai cấp của các chiến binh thống trị, nên mặc nhiên, Ngài hiểu rất rơ t́nh h́nh nội bộ của giới vua chúa, hoàng tộc và các quan lại. Mặc nguồn gốc và gia thế cao quư, nhưng Ngài không bao giờ đem ảnh hưởng quyền lực chính trị vào những lời dạy của ḿnh, cũng không cho phép ai lạm dụng lời dạy của Ngài để đạt được quyền lực chính trị. Nhưng ngày nay, nhiều chính trị gia cố gắng gán ghép một cách khiên cưỡng tên của Đức Phật vào chính trị, và nh́n Ngài ở các góc độ tư tưởng như cộng sản, tư bản chủ nghĩa, hoặc thậm chí là đế quốc. Họ đă quên rằng triết lư chính trị mới thực sự phát triển ở phương Tây, rất lâu sau thời Phật tại thế. Những ai có ảo tưởng trên v́ mục đích lợi ích nhân của ḿnh cần nhớ rằng: Đức Phật Đấng thượng Giác ngộ, người đă vượt thoát ra khỏi tất cả những hệ lụy ràng buộc của thế gian, trong đó có chính trị.

Vấn đề cố hữu cần nhận chân và phản biện đó là sự pha trộn giữa tôn giáo với chính trị. Nền tảng của tôn giáo là đạo đức, thanh tịnh và đức tin, trong khi chính trị là quyền lực. Trong quá tŕnh lịch sử, tôn giáo thường được sử dụng để hợp pháp hóa của quyền lực t́m kiếm quyền lực. Tôn giáo thường là công cụ biện minh cho chiến tranh, xâm lược, bắt bớ, tàn bạo, phiến loạn, phá hủy các công tŕnh nghệ thuật và văn hóa. Khi tôn giáo được sử dụng để thỏa măn ư đồ chính trị, phải từ bỏ những lư tưởng đạo đức cao trở nên mất giá trị do nhu cầu chính trị của thế gian.

Sức mạnh của Phật Pháp không nhằm vào việc hướng dẫn h́nh thành các tổ chức chính trị hay thay đổi, cải cách định chế chính trị nào cả. Về cơ bản, Phật giáo chỉ tiếp cận với các vấn đề của hội, nhận ra bản chất xă hội để cải đổi bằng cách chuyển hóa hành nghiệp của cá nhân, những yếu tố cấu thành xă hội đó. Dựa vào một số nguyên tắc chung, Phật giáo đă hướng dẫn cho hội theo ch́u hướng chủ nghĩa nhân văn cao hơn, cải thiện phúc lợi của các thành viên, chia sẻ công bằng hơn các nguồn lực.

Một hệ thống chính trị có thể bảo vệ hạnh phúc và thịnh vượng của con người trong phạm vi giới hạn nhất định. Tuy nhiên, không có hệ thống chính trị nào có thể mang lại ḥa b́nh và hạnh phúc khi mà con người trong hệ thống ấy được thống trị bởi tham lam, sân hận và si mê. Ngoài ra, không luận là hệ thống chính trị hoạt động theo chiều hướng nào, các thành viên của xă hội đó nhất định phải chịu một số nguyên lư chung, như là: kết quả của đời sống tùy thuộc vào nghiệp nhân tốt hay xấu; hạnh phúc của thế giới đặc trưng bởi khổ, vô thường vô ngă mang lại th́ luôn bất xứng ư. Theo Phật giáo, một khi c̣n luẫn quẫn trong ṿng luân hồi th́ không nơi nào tự do thực sự, ngay cả các cơi trời hay thế giới của Phạm thiên.

Mặc dù hệ thống chính trị tốt giúp đảm bảo các quyền cơ bản của con người, cũng như kiểm soát và cân bằng việc sử dụng quyền lực, nhưng chúng ta không nên chỉ dốc ḷng t́m kiếm một hệ thống chính trị với hy vọng qua đó t́m được tự do tuyệt đối. Bởi v́, sự tự do không thể được t́m thấy trong bất kỳ hệ thống nào, chỉ trong tâm hồn ḿnh thôi. Để được tự do, con người nên nh́n vào bên trong tâm trí ḿnh, để hướng tới việc giải phóng ḿnh khỏi xiềng xích của vô minh và ái dục. Tự do trong ư nghĩa xác thực nhất chỉ có thể xảy ra khi con người biết ứng dụng chánh pháp để phát triển nhân cách qua lời nói, hành động trau dồi tâm trong sạch … để mở rộng khả năng sâu kín đạt được mục tiêu tối hậu: sự giác ngộ.

Trên đây, chúng ta khẳng định hai điểm: cần nhận ra sự cần thiết của việc tách rời tôn giáo khỏi chính trị và những hạn chế của hệ thống chính trị trong việc mang lại ḥa b́nh và hạnh phúc. Qua các kinh điển Phật giáo, chúng ta có thể nêu bật một số khía cạnh giáo Đức Phật được coi là rất phù hợp với các định chế chính trị ngày nay:

- Đức Phật dạy về sự b́nh đẳng trong tất cả nhân loại. “Không có giai cấp trong ḍng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn.” Lời dạy này có từ rất lâu trước các nhà tư tưởng đương đại chủ xướng. Như những rào cản nhân tạo, các định chế xă hội phân định cao thấp dựa vào chủng tộc, giai cấp. Theo Đức Phật, việc phân định vị trí của con người được dựa trên các giá trị của hành vi đạo đức.

- Đức Phật khuyến khích tinh thần tham gia hợp tác xă hội hoạt động trong tinh thần cộng đồng. Sự giải thoát của đạo Phật không hề rời khỏi xă hội mà có được. Ngược lại, dấn thân phụng sự xă hội lại là một yếu tố tích cực như là cốt tủy của đạo Phật: “Phụng sự chúng sanh tức cúng dường chư Phật”. Tinh thần này đang thúc đẩy tích cực tiến tŕnh chính trị của xă hội hiện đại.

- Trong Phật giáo, không có khái niệm thống trị, nắm quyền; cho nên sau khi đức Phật nhập diệt, không ai được coi là người kế nhiệm của Đức Phật. Theo tinh thần kinh Di Giáo, Giới Luật sẽ thay thế đức Phật để làm Hướng Đạo sư. Hoạt động của Tăng đoàn luôn y cứ Pháp và Luật, hay cụ thể hơn đó chính là Giới Bổn. Cho đến nay, mọi thành viên của Tăng đoàn luôn nương theo tinh thần của Giới Luật để tu tập hướng dẫn hành vi của ḿnh.

- Đức Phật khuyến khích tinh thần dân chủ. Điều này được thể hiện trong cộng đồng Tăng lữ, trong đó tất cả thành viên có quyền quyết định những vấn đề chung. Khi một vấn đề nghiêm trọng nảy sinh, đ̣i hỏi sự giải quyết, th́ vấn đề ấy được đặt ra trước Tăng. Tăng làm pháp yết-ma, nghị sự, hoặc một lần hỏi, hoặc ba lần hỏi, … Cách thảo luận này cũng giống như hệ thống nghị viện, dân chủ ngày nay sử dụng. Hay có thể nói là pháp yết-ma có phần hay hơn ở chỗ phương pháp biểu quyết: Cuộc họp thế tục thường biểu quyết bằng cách đồng ư th́ lên tiếng hoặc giơ tay, trong khi yết-ma Tăng, ai đồng ư th́ im lặng, ai không đồng ư th́ tŕnh bày. Nghi thức tự quản siêu việt này thể gây ngạc nhiên cho nhiều người, khi biết rằng trong tổ chức Phật giáo tại Ấn Độ cách đây hơn 2.500 năm, ta có thể t́m thấy những nguyên tắc cơ bản quốc hội các nước ngày nay sử dụng. Hiện nay, một số trường hợp dự án Luật bổ sung, sửa đổi, Quốc hội yêu cầu dự luật ấy được đọc lại hoặc một lần, hoặc ba lần trước khi trở thành luật chính thức ban hành. Nếu cuộc thảo luận có quá nhiều ư kiến khác biệt​​, sẽ được giải quyết thông qua bỏ phiếu kín.

Sự tiếp cận của Phật giáo đối với quyền lực chính trị chỉ là đề cao luân lư trách nhiệm trong quyền lợi chung. Đức Phật luôn chủ xướng tư tưởng bất bạo động ḥa b́nh như là một thông điệp phổ quát. Ngài không chấp nhận bạo lực hay sự hủy diệt đối với cuộc sống, và tuyên bố rằng, không thể một cuộc chiến tranh nào nhân danh công lư, hay chính nghĩa cả. Kinh Pháp Cú dạy: Chiến thắng sinh hận thù; Thất bại sinh đau khổ. Ai từ bỏ được cả hai chiến thắng thất bại, người đó được hạnh phúc và an lạc”. Đức Phật không chỉ dạy bất bạo động và ḥa b́nh, c̣n nhân bản hơn nữa, có lẽ Ngài người thầy tâm linh đầu tiên duy nhất, đến tận chiến trường để ngăn chặn một cuộc chiến tranh sắp bùng nổ. Ngài đă xoa dịu căng thẳng giữa hai ḍng họ Thích Ca Koliya, khi họ đang chuẩn bị lâm chiến để tranh giành ḍng sông Rohini. Ngài cũng đă gián tiếp ngăn chặn vua A Xà Thế (qua việc hỏi tôn giả A-nan 7 điều cường thịnh) tấn công Vương quốc của Bạt-kỳ.

Đức Phật từng dạy về tầm quan trọng các điều kiện tiên quyết của một chính phủ được gọi là tốt đẹp. Ngài chỉ ra rằng, một quốc gia có thể trở thành loạn lạc, thoái hóa bất hạnh khi người đứng đầu của chính phủ trở nên tham nhũng và bất công. Ngài dạy, một chính phủ nên loại trừ sự tham nhũng và hành động dựa trên nguyên tắc nhân đạo.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật đă từng nói: Khi người cai trị một quốc gia m đúng và tốt, các Đại thần cũng sẽ trở nên đúng và tốt; khi các Đại thần m đúng và tốt, các quan lại cũng làm đúng và tốt; khi tướng quân làm đúng tốt, th́ binh sĩ cũng trở thành đúng tốt, khi binh sĩ quân đội trở nên đúng và tốt, nhân dân trong nước cũng trở nên đúng và tốt.”

Trong kinh Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavattishihanada, Trường Bộ, 26), Đức Phật nói rằng sự vô luân và tội phạm, như trộm cắp, dối trá, bạo lực, tàn ác, hận thù, có thể phát sinh từ nghèo đói (daliddiya). Vua chúa thời xa xưa, cũng như chính quyền ngày nay, chỉ cố gắng dẹp trừ các tội ác bằng h́nh phạt. Nhưng, thật vô ích nếu muốn tiêu diệt tội phạm thông qua vũ lực.

Kinh Kutadanta (Trường Bộ 5), Đức Phật đề nghị phát triển kinh tế thay vũ lực để giảm thiểu tội phạm. Chính phủ nên sử dụng các nguồn lực hiện có để cải thiện các điều kiện kinh tế của đất nước. Chẳng hạn, đầu tư vào phát triển nông nghiệp nông thôn, cung cấp hỗ trợ tài chính cho các doanh nhân doanh nghiệp, trả lương đầy đủ cho người lao động để duy tŕ một cuộc sống khá giả, phù hợp với giá trị con người.

Bộ Jataka (kinh Bản sanh, nói về các Tiền thân Đức Phật) đă đưa ra mười nguyên tắc cho một Chính quyền hoàn hảo, được gọi Dasa Raja Dharma. Mười nguyên tắc này thậm chí thể được áp dụng cho ngày nay, bởi bất kỳ chính phủ nào cũng mong muốn cai trị đất nước của ḿnh một cách ḥa b́nh, thịnh vượng.

Các nguyên tắc ấy như sau:

1. phải rộng răi tránh ích kỷ,

2. trau dồi phẩm hạnh đạo đức cao,

3. sẵn sàng hy sinh niềm vui của ḿnh cho hạnh phúc của thần dân,

4. trung thực liêm chính tuyệt đối,

5. tử tế và nhẹ nhàng,

6. sống đơn giản cho thần dân noi theo,

7. giữ tâm không sân hận trong bất kỳ trường hợp nào,

8. thực hành sự bất hại,

9. luôn nhẫn nại,

10. tôn trọng ư kiến cộng đồng để thúc đẩy ḥa b́nh và ḥa hợp. 

Về hành vi của các nhà lănh đạo, cũng trong kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống, Ngài khuyên thêm:

1. Một lănh đạo tốt nên hành động một cách vô tư, không nên thiên vị phân biệt đối xử giữa một nhóm nhân dân đối với nhóm khác.

2. Một lănh đạo tốt không nên nuôi dưỡng bất kỳ h́nh thức sân hận nào đối với dân chúng của ḿnh.

3. Một lănh đạo tốt không nên chút sợ hăi nào trong việc thực thi pháp luật, nếu chính đáng.

4. Một lănh đạo tốt phải có sự hiểu biết rơ ràng đối với pháp luật được thi hành. Không nên thi hành chỉ v́ người lănh đạo có quyền thực thi . Pháp luật phải được thực thi một cách hợp lư với lợi ích chung.

Trong Di Lan Đà vấn đáp, có đoạn: Nếu một người không thích hợp, bất tài, vô đạo đức, không phù hợp, không khả năng không xứng đáng với cương vị quốc vương, mà tự ngồi lên ngai vàng làm vua hay nhà cai trị với quyền hành lớn; vị ấy có thể là đối tượng bị xỉ vả, bị các h́nh phạt từ mọi người, bởi v́ ông ta không thích hợp, không xứng đáng, dám đặt ḿnh một cách bất chính trên ghế chủ quyền. Người cai trị, nếu như vi phạm các quy tắc đạo đức nền tảng quy luật của xă hội, cũng bị xử phạt, khiển trách; và hơn thế nữa, c̣n bị chỉ trích tên cướp của công chúng.” Cũng trong kinh Bản Sanh, một câu chuyện đề cập: một người cai trị trừng phạt những người vô tội mà lại không trừng phạt những kẻ tội phạm, th́ không phù hợp để cai trị một quốc gia.

Nhà vua luôn luôn cân nhắc ḿnh và cẩn thận xem xét hành vi trong từng hành động, lời nói và suy nghĩ, cố gắng lắng nghe ư kiến công chúng, xem ḿnh phạm bất kỳ sai lầm nào không trong việc trị nước. Nếu ông cai trị bất chính, dân chúng sẽ ta thán rằng họ đang bị chèn ép bởi người cai trị độc ác với bất công, h́nh phạt, thuế, áp bức, hoặc các h́nh thức tham nhũng. Họ sẽ phản ứng chống đối nhà vua bằng cách này hay cách khác. Ngược lại, nếu nhà vua cai trị hợp pháp, họ sẽ luôn xưng tụng: Hoàng thượng vạn tuế”. (Trung Bộ Kinh)

Tư tưởng đặt nặng trách nhiệm đạo đức đối với người cai trị, sử dụng quyền lực chung để nâng cao phúc lợi cộng đồng theo tinh thần Phật giáo là một tư tưởng đă ảnh hưởng lớn đến Hoàng đế Asoka vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch. Hoàng đế Asokamột minh chứng hùng hồn cho mẫu người thực hành chính trị theo tinh thần lời Phật dạy. Ông ta trị quốc theo Pháp trị nỗ lực truyền bá Phật pháp trong nước ḿnh cũng như đến tất cả nhân loại. Để thực hiện ư định không chinh phục và xâm chiếm, ông gửi sứ giả mang thông điệp ḥa b́nh đến các nước láng giềng, để tỏ rơ với họ thiện chí của ḿnh. Ông khuyến khích thực hành đạo đức luân lư xă hội, ḷng trung thực, đức từ bi, sự nhân từ, bất bạo động, thương xót đối với tất cả, không lăng phí, không hám lợi không tổn hại các loài. Ông khuyến khích tự do tôn giáo tôn trọng tín ngưỡng của nhau. Ông đi về các vùng nông thôn theo định kỳ để truyền giảng Phật pháp cho nhân dân. Ông tiến hành xây dựng các công tŕnh công ích, như thành lập các bệnh viện cho người và vật, cung cấp thuốc miễn phí, trồng cây, đào giếng và xây chỗ uống nước, nhà nghỉ ven đường. Ông nghiêm cấm việc đối xử tàn ác với động vật.

Đôi khi Đức Phật được cho là một nhà cải cách hội. Ngài đă phá bỏ ư niệm phân biệt giai cấp, công nhận sự b́nh đẳng của mọi tầng lớp trong khả năng t́m lại chân giá trị hạnh phúc cho ḿnh. Ngài cho thấy sự cần thiết để cải thiện các điều kiện kinh tế - hội, tầm quan trọng của sự phân phối công bằng của cải giữa người giàu và người nghèo. Ngài cũng không chấp nhận phân biệt giới tính, khuyến khích chủ nghĩa nhân đạo trong chính phủ và chính quyền. Một xă hội tốt đẹp là xă hội không được điều hành bởi sự tham lam, chiếm đoạt, mà luôn hiện hữu ḷng từ bi, quan tâm và chia sẻ. Với tất cả những điều này, Đức Phật đă đóng góp của cho nhân loại một giá trị vô cùng to lớn. Điểm cốt lơi mà Ngài đă thành công, các nhà cải cách xă hội trước đây chưa hề thực hiện được, đó là, sự cải cách phải bắt đầu từ nguồn gốc sâu xa nhất của nhân loại. Nguồn gốc ấy chính là căn bệnh được t́m thấy trong tâm trí con người. Cải cách tâm trí mới là một cuộc cải cách thực sự đúng nghĩa. Cải cách mà chỉ áp đặt bằng vũ lực đối với thế giới ngoi tại th́ giá trị rất ngắn ngủi, nó chưa đi từ căn bản. Những cải cách động cơ bắt nguồn từ  sự biến đổi ư thức nội tại của con người, th́ kết quả có giá trị tuyệt đối. Như các chi cành của cây cối sinh sôi, lan rộng ra ngoài, chúng thu hút được một nguồn dinh dưỡng không bao giờ cạn - chính là những nhu cầu tiềm tàng giữa cuộc đời. Quan trọng nhất là, sự cải cách tâm trí con người sẽ mở ra một con đường cao quư, họ sẽ giành cả cuộc đời ḿnh để đem lại sức sống mới của t́nh yêu chân lư, công b́nh đến với mọi người, mọi loài xung quanh.

Giáo lư của Đức Phật thuyết giảng không dựa trên nền tảng Triết học chính trị”, cũng không phải là một học thuyết khuyến khích lạc thú trần gian, mà chỉ hướng đến mục tiêu duy nhất là để đạt được Niết Bàn. Nói cách khác, mục tiêu tối hậu của giáo lư Phật đà là chấm dứt ái dục (Tanha), nguồn cơn của t́nh trạng nô lệ với thế giới này. Câu kệ 75 trong Kinh Pháp Cú sau đây có thể tóm tắt ư nghĩa này: Một con đường dẫn đến niềm vui trần tục, một con đường khác dẫn đến Niết Bàn (bằng cách sống đời thanh tịnh). Tỳ kheo đệ tử Phật, hăy như vậy thắng tri. Chớ ưa thích cung kính, hăy tu hạnh viễn ly.”

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là người Phật tử không có quyền tham gia các hoạt động chính trị, v́ nó vốn là một thực tại xă hội. Cuộc sống của các thực thể trong một xă hội được h́nh thành bởi luật pháp và các quy định, thoả hiệp được cho phép trong một đất nước, đoàn thể có pháp lư, Tất cả quy định này bị ảnh hưởng bởi sự thể chế chính trị của xă hội đó. Thế nhưng, nếu người Phật tử muốn hoạt động chính trị, anh ta không nên lợi dụng tôn giáo để đạt được quyền lực chính trị; và đức Phật cũng không khuyến khích những người đă từ bỏ đời sống thế gian để sống một cuộc sống thuần túy tôn giáo, lại quá tích cực tham gia vào chính trị.



 

Thích Đạo Quang

Mục Đồng
 

 

 

 

Trở về www.ninh-hoa.com