LIÊN KHÔI CHƯƠNG
 


 

Cùng Một TÁC GIẢ
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

www.ninh-hoa.com

 

 


QUAN ĐIỂM

Ḥa B́nh Trong Chiến Tranh

Liên Khôi Chương

            

 

 

PHẦN 1:

Tử sanh chi địa. Tồn vong chi đạo

Một quan niệm về "Ḥa b́nh trong Chiến tranh" được rút tỉa từ quyển "Binh-pháp Tôn-Tử". Ông mở đầu bằng câu :"Tử sanh chi địa. Tồn vong chi đạo" trong chương đầu của quyển sách. đó là "Kế thiên". Ông nói :"Chiến trận là nơi chết chóc, sự sống là sinh tồn cần thiết trong chiến tranh, muốn sinh tồn chúng ta cần phải biết : "Tồn vong chi đạo", sự tồn vong không chỉ riêng người tham chiến mà c̣n ảnh hưởng đến sự tồn vong của quốc gia và dân tộc, điều này cho chúng ta thấy Tôn-Tử nói rơ : Muốn ḥa b́nh trên đất nước, cần phải có một quân đội hùng mạnh chiến đấu v́ sự tồn vong của quốc gia.  

Tôn-Tử sinh khoảng năm 540tcn tại Lạc-An nước Tề (Sơn-Đông ngày nay), ông nội Tôn-Thư, cha Tôn-Phùng, năm 517tcn ông lưu vong đến Ngô, năm 512tcn được Ngũ-tử-Tư tiến cử lên Ngô-Vương Hạp-Lư, được phong làm Tướng quân với tư cách là "khách-khanh", năm 506tcn chiến tranh Ngô-Sở trong trận Bách-Cử, 3 vạn quân Ngô đánh bại 28 vạn quân Sở, rồi tiến quân khuất phục Tấn Tề ở phương bắc, lập nhiều chiến công vang dội khắp chư hầu, khiến Ngô Vương Hạp-Lư nổi danh lừng lẩy, đều nhờ vào tài năng quân sự của Tôn-Tử.

Quan điểm trong "Binh-pháp Tôn-Tử" khiến Ông trở thành nhà lư luận quân sự vĩ đại của Trung quốc, đồng thời cũng nổi tiếng khắp cả thế giới. Một tư tưởng về chiến lược và chiến thuật trên chiến trường đều lấy sự tồn vong đi đầu, là mức đo thắng bại của cuộc chiến. Đây chính là tinh hoa của quyển "Binh pháp Tôn-Tử", "Chiến tranh để bảo vệ ḥa b́nh" một tư tưởng có hơn 2, 500 năm nay, không như "Chiến tranh hủy diệt" mà Clausewitch hằng nói trong đầu thế kỷ 20.

Tư tưởng chiến tranh được tŕnh bày qua:

A. -Trong 7 chương đầu "Binh pháp Tôn-Tử", chủ yếu bàn về chiến lược, được tóm tắc trong 4 nguyên tắc như sau:

1. -"Phi nguy bất chiến". Chưa đến t́nh h́nh nguy cấp th́ không cần chiến tranh, v́ chiến tranh chỉ nhằm bảo vệ ḥa b́nh quốc gia, chứ không nhằm mục đích xâm lược.

2. -Bất lợi th́ không hành động. Tôn-Tử nói lên:"Chiến tranh chỉ để bảo vệ nhân dân và bảo toàn an ninh lợi ích của quốc gia và chống ngoại xâm ".

3. -Không chắc thắng th́ không khởi binh, dù trước mắt có bao nhiêu cám dỗ và quyền lợi, cũng không nên khinh suất ra binh, không cầm chắc thắng th́ không nên tác chiến. Nếu công thành mà không chắc phá được th́ không nên tấn công, những điều này cho chúng ta thấy Tôn-Tử rất cẩn thận trong việc chiến tranh, nhận định rơ về sự tồn vong của quân đội.

4. -Không cần đánh mà khuất phục được địch, đó là thắng vậy, Tôn-Tử nói:"Bách chiến bách thắng chưa phải là giỏi, kẻ không đánh mà khuất phục được địch, đó mới là người tài giỏi nhất trong người tài giỏi. "

B. -Tư tưởng chiến tranh trong "Binh pháp Tôn-Tử".

 Trong binh pháp, "chiến lược" là sách lược tác chiến cố định, c̣n "chiến thuật" là sách lược tác chiến linh hoạt, biến hóa "xuất kỳ chế thắng"không phải do nhu cầu của chiến lược, mà tùy thuộc vào t́nh huấn đặc thù và nhu cầu thực tế trên chiến trường.

Bởi vậy Tôn-Tử đề ra 3 nguyên tắc sau đây:

1. -T́m hiểu địch t́nh, Ông nói: "Biết người biết ta, trăm trận không bại". Ta cần biết rơ ràng chắc chắn những chuyển biến linh hoạt giữa ta và địch, rồi quyết định chiến thuật thích hợp.

2. -Chủ đích việc "biết người biết ta" là để hiểu rơ chổ mạnh chổ yếu của 2 bên, rồi ta bày bố lực lượng theo quan điểm "thực hư" để tạo "thế" mạnh cho quân đội ta.

3. -Tôn-Tư đưa ra những đặc thù dựa vào thực lực 2 bên mà quyết định vấn đề chiến tranh. Như muốn biết trước t́nh h́nh địch, không thể cầu ở quỷ thần, bói toán, mê tín mù mờ, mà cần tin ở người biết rơ t́nh h́nh địch (dung gián, điệp báo). Khi có tin rồi th́ cần so sánh tương quan giữa ta và địch qua 5 vấn đề "chính trị", "thiên thời", "địa lợi", "tướng lănh"và "pháp độ". (kế thiên).

 Trong việc lănh đạo và chỉ huy không v́ nóng giận hay oán thù mà gây nên chiến tranh (hỏa công). Trong chiến tranh cần nhớ "Biết người biết ta, trăm trận không bại". (mưu công). Tướng lănh cần linh động trong "cửu biến" như phán xét lợi hại, thắng thua của cuộc chiến để nắm chắc quyết định thắng bại (hư thực). Về thời tiết phải biết những ngày trăng đi qua 4 sao:Dực, Bich, Cơ, Chuẩn, đó là những ngày có gió thổi đến (thuận tiện cho hỏa công). Tinh toán kỷ lưởng mọi t́nh huấn về điều kiện "h́nh" và "thế". Cần phân tích kỷ tâm lư, sĩ khí, sức chiến đấu quân đội. Cần quán triệt quy luật chiến đấu, "Tránh thực đánh hư, dùng chính chống cự, dùng kỳ quyết thắng".

 Những điều vừa kể cho ta thấy quan điểm chiến tranh của Tôn-Tử cần sinh tồn trong cuộc chiến, chiến trường chỉ có sự chết, "Tử sanh chi địa", muốn chiến thắng th́ cần phải biết "Tồn vong chi đạo". Đây đúng là tư tưởng đạo đức hơn là ư tưởng chuyên về chiến tranh, nói rơ quan điểm Ḥa b́nh trong Chiến tranh.

 Quyển "Binh pháp Tôn-Tử" được truyền sang Triều-Tiên và Nhật từ lâu, nhưng măi đến năm 1660 mới dịch sanh tiếng Nhật. Năm 1772 dịch sang tiếng Pháp với tựa đề "Nghệ thuật quân sự Trung-Quốc". Năm 1889 được dịch sang tiếng Nga trong tập 15 dưới chủ đề "Giáo huấn của tướng Trung-Quốc đối với tướng dưới quyền"nằm trong "Tổng tập quân sự" của Nga. Năm 1905 được dịch sang tiếng Anh, bởi thượng úy pháo binh Hoàng gia Anh E. F Calthrop dịch từ ấn bản chữ Nhật xuất bản tại Tokyo, đến năm 1910 Lionel Giles cho rằng cách dịch của E. F Calthrop qúa dở, là sự phỉ báng nặng nề với Tôn-Tử, và được dịch lại có chú giải tường tận, kèm theo các kiến giải riêng và thành qủa nghiên cứu của dịch giả trong nhiều năm. Năm 1910 dịch sang tiếng Đức bởi Bruno Navarro với cái tựa "Sách bàng về chiến tranh của binh gia cổ điển Trung Quốc", quyển sách này ảnh hưởng sâu sắc đến Cart von Clausewitch, một chuyên gia b́nh luận quân sự nổi tiếng của Đức với quan niệm "chiến tranh hủy diệt". Măi sau thế chiến thứ hai, các nhà quân sự Mỹ nhận thấy "Hệ thống lư luận chiến lược truyền thống Âu-Châu lổi thời, thế nhưng "Binh pháp Tôn-Tử"vẩn hàm chứa một triết lư quân sự cực kỳ uyên thâm, như trong "Cửu biến thiên" có ghi:"Ta đừng nghĩ là địch không tấn công ta, hoặc không bao giờ tấn công ta v́ ta mạnh, ta phải luôn luôn đề pḥng và cần chuẩn bị địch sẽ tấn công", đó là tư tưởng siêu việt về chiến tranh, "Ngừa chiến tranh để giữ lấy ḥa b́nh". Bởi thế Bộ quốc pḥng Mỹ chú tâm nghiên cứu về "Tư tưởng chiến tranh của Tôn-Tử". Sau thế chiến thứ hai, ngày 01/10/1949 đảng cộng sản Trung-Quốc chiếm toàn Hoa-lục, chính phủ Tưởng-giới-Thạch chạy đến Đài-Loan cố thủ giữ nền độc lậpTrung-Hoa Dân-Quốc, qua năm 1950 Liên-Bang Xô-Viết giúp Cộng sản Triều-Tiên xua quân Nam tiến và sắp chiếm luôn cả Hán-Thành.

Chính phủ Mỹ thấy nguy cơ Cộng sản quốc-tề bành trướng ảnh hưởng cả vùng Á-Châu, nên Mỹ tham chiến giúp Nam Triều-Tiên chận đứng sự tiến quân Bắc Triều-Tiên và đánh ngược họ qua khỏi vĩ tuyến 38 bắc và dồn họ gần đến sông Áp-Lục-giang, đầu năm 1951 Trung-Quốc tham chiến giúp Bắc Triều-Tiên thay quân đội Xô-Viết, trong trận chiến Nam-Bắc Triều-Tiên Trung-Quốc dùng "chiến thuật biển người", đến năm 1953 chiến tranh chấm dứt, lấy vĩ tuyến 38 bắc làm mức phân ranh Bắc Triều-Tiên và Nam Triều-Tiên, chỉ hơn 2 năm chiến tranh, Trung-Quốc hy sinh hơn triệu quân nhân với "chiến thuật biển người" (Toán quân nhân không mang vũ khí đi tiên phong, chỉ mang trái độn che chở thân và chỉ biết xông lên rồi chết, toán sau dùng xác người tạo thành "mô"chống đở đạn cho tốp có vũ khí xử dụng để tấn công". Cách tạo "thế" thảm khốc này làm cho thế giới xét lại quan điểm chiến tranh trong "Binh pháp Tôn-Tư".  

Để hiểu rơ "Chiến thuật biển người" có phải ảnh hưởng bởi quan điểm chiến tranh của Tôn-Tử không? Th́ chúng ta cần đọc qua quyển "Binh pháp Tôn-Tử". Khi đọc xong lần đầu tôi chỉ nhận rơ quyển sách có 13 chương, trong 7 chương đầu nói về cách tổ chức quân đội, tổ chức thế nào để có một quân đội hùng mạnh, thiên hẳn về phần chiến lược. Trong 6 chương sau nói về giao tiếp giữa 2 bên liên hệ, tức nói về chiến tranh, làm thế nào để giành chiến thắng trên chiến trường, thiên hẳn về phần chiến thuật. V́ có vài điểm không rơ ràng nên chưa thấu triệt ư của tác giả, như trong "kế thiên" mục "tính toán" ghi "tính toán" tức là "miếu toán", (tác giả viết "Miếu toán" có nghĩa là trước khi xuất quân giao chiến, thủ lĩnh cấp cao của quân đội mỗi bên đều phải đến miếu đường hội hợp, phán đoán lực lượng, tính toán. . . ), điều này cho thấy tác giả quá nông cạn, c̣n người dịch không biết ǵ cả, thế mà cũng dịch cho hết cuốn sách, muốn đầu độc người Việt sao đây, ngu ơi là ngu cái thằng dịch này, có biết Trung-Quốc muốn gieo mầm bại hoại cho cả dân tộc không, (v́ sách không có tên dịch giả cũng không có tên tác giả, nhưng biết chắc tác giả là người Trung-Quốc) nên tôi ngông chút cho vui, "Miếu toán" nghĩa thực của nó là "Tính toán tuyệt diệu, vượt hơn tính toán khác", vả lại Tôn-Tử chủ trương không tin ở thánh thần, bói dịch, vậy cần ǵ vào miếu đường chứ. Cũng trong "kế thiên" ghi "5 vấn đề 7 t́nh huấn" th́ "5 vấn đề" có tŕnh bày, c̣n "7 t́nh huấn" th́ không có giải thích, nên tác giả lấy tích thời Tây-Chu Vơ-Vương phạt vua Trụ nhà Thương làm dẫn chứng, thời này trước thời Xuân-Thu của Tôn-Tử 600 năm, và những lời dẫn chứng cứ ṿng quanh "5 vấn đề"để giải thích thành "7 t́nh huấn", rơ ràng người viết chưa biết "7 t́nh huấn" là ǵ?

Như người Trung -Quốc thường nói :"Biết th́ nói biết, không biết nói không biết, đó là biết vậy"vậy đọc giả nào đă đọc qua "Binh pháp Tôn-Tử" mà vẩn không thấy rơ "7 t́nh huấn" th́ người đọc đă không quán triệt tư tưởng Tôn-Tử rồi đó, các bạn biết tại sao không? Bởi "7 t́nh huấn" chính là 7 chương đầu của quyển sách, nên ta nói sách viết không trung thực. Sáu chương sau nói về chiến trường. Trong chương 8 "Cửu biến", dịch giả viết "cửu biến" không phải là 9 lần biến mà là nhiều lần biến, ư nghiă không rơ ràng, v́ ư nghĩa caủ "cửu biến" có nghĩa là:biến đổi liên tục, thay đổi không ngừng để phù hợp chiến thuật trong lúc hành quân tác chiến tranh giành thắng lợi, biết ứng dụng địa thế phối hợp thuận tiện cho việc công thủ, đây là tuyệt đích của trận chiến, người biết ứng dụng là thiên tài chỉ huy, người không biết th́ tai họa không chừng, như chiến tranh Việt-Nam chiến trận Hạ-Lào, với trận chiến da beo, địch ta lẩn lộn, chỉ huy quân đội VNCH gọi máy bay đến giúp, máy bay đến lại không phân biệt rơ ta với thù, rồi bom thả xuống làm chết cả chùm toàn là người Việt.  

 Trong trận chiến nhân dân Afghanistan chống quân đội Liên-Bang Xô-Viết xâm lược, Mỹ là đồng minh của quân Taliban, mà sau chiến tranh, Taliban và đồng minh Hồi giáo lại câm thù Mỹ v́ Mỹ áp dụng chiến thuật như ở Việt-Nam gây tổn thương cho đồng minh Hồi giáo, đây là nguyên nhân của vấn đề chính trị của Hoa-Kỳ và người Hồi giáo cực đoan và sau năm 1984 chiến tranh khũng bố chuyên nhắm vào Mỹ. Điều này cho ta thấy trong cuộc chiến, chiến thuật phải "cửu biến" đừng nghĩ rằng chiến thắng nơi này cũng sẽ thắng lợi nơi kia mà không nghĩ đến những tác hại sau này, cho nên trong chương 8 có nói đến "Đôi khi lệnh vua không nghe theo" c̣n hàm ư người chỉ huy cần phải biết "việc làm cứ theo xưa ấy, sẽ có những chuyện xẩy ra không ngờ được". Nếu ai thấy được mới là diệu toán. Trong chương 13 phần "Tử gián" tác giả đưa ra chuyện Lịch-Sinh đi thuyết khách để hàng phục Tề-Vương, nhưng v́ Hàn-Tín ganh tị, tấn binh đánh Tề, khiến Tề Vương tức giận giết Lịch-Sinh, th́ không hợp t́nh, nếu Hàn-Tín không ganh tị th́ Lịch-Sinh có là "tử gián"không?Cho nên ở đây chỉ mượn lời E. F Calthrop phê b́nh Lionel Giles "Qúa dở, là sự phỉ báng đến Tôn-Tử". Cũng trong ví dụ này cho ta thấy Hàn-Tín v́ ganh tị để rồi Lưu-Bang hồ nghi tham vọng muốn làm Tề Vương của Hàn-Tín, cho nên sau này nghe mưu thần Trần-B́nh lập kế cùng Lữ hậu bắt Hàn-Tín(trong mưu công), dẫn chứng này cho ta thấy người viết bài không biết ǵ về tư tưởng Tôn-Tử, v́ trong "mưu công" nói về bày mưu chống ngoại xâm chứ không phải lập mưu hại người của ḿnh, v́ đây là hành động của kẻ tiểu nhân thâm độc, từ đây ta suy ra "Chiến thuật biển người" làm cho cả thế giới biết "Trung-Quốc cộng sản có tướng ghê tởm và bất tài nhất trong hàng tướng từ xưa đến nay", khác với Tôn-Tư là "Thiên tài quân sự nhân loại từ hơn 2, 500 năm trước". Tôn-Tử đă thực sự phân tích rơ ràng ranh giới giữa chiến tranh và ḥa b́nh. "Muốn có ḥa b́nh th́ phải có một quân đội hùng mạnh có quân kỷ". Quan điểm này khuất phục được Carl von Clausewitz chuyên gia chiến lược người Đức trong quan niệm "Ḥa b́nh là thời gian ngưng nghỉ để chuẩn bị chiến tranh", một tư tưởng thiên về "chiến tranh hủy diệt", khác với Tôn-Tử "Dùng chiến tranh để giữ lấy ḥa b́nh". Cũng chính v́ "ḥa b́nh" nên tư tưởng về "chiến tranh" thiên về triết lư "tồn vong", từ điểm này quan điểm chiến tranh của Tôn-Tử xếp thành hệ thống được ghi lại trong 13 chương. Từ chương 1 đến chương 7, quy hoạch tổ chức và kế hoạch chu toàn nội bộ chuẩn bị khởi chiến. Từ chương 8 đến chương 13 nói đến giao tiếp giữa 2 bên, tức là nói đến trận chiến thật sự. Nếu ta hiểu "Binh pháp Tôn-Tử" trong chiều hướng này th́ ta có thể áp dụng nó trong mọi lănh vực, quân sự, kinh tế, kinh doanh, nghiên cứu, học đường. . . v. v. . V́ 13 chương trong "Binh pháp Tôn-Tử" là chu tŕnh thực tiển để đào tạo những người xuất sắc nhất, một tập thể vững mạnh nhất mà khoa học ngày nay đang ứng dụng.  

Sau đây là 13 chương trong "Binh pháp Tôn-Từ" được tóm gọn để tiện việc nghiên cứu.

I. -Kế thiên. (kế hoạch trước khi hành động).

A. -Chiến tranh luận "Tử sanh chi địa, tồn vong chi đạo", nơi trận địa là nơi chết chóc cả 2 bên lâm chiến, muốn thắng được trận th́ phải biết đạo "tồn-vong", cần đắng đo cân nhắc kỷ lưởng mới có sự chiến thắng cuối cùng, đây là trách nhiệm của người chỉ huy, phải biết hậu quả của cuộc chiến mà kế hoạch công việc cần làm để chắc chắn thành công.

B. -Có 5 yếu tố để quyết định cục diện thắng bại của chiến tranh. Tôn-Tử nói:"Trước khi tác chiến, ta cần tiến hành so sánh các điều kiện khách quan giữa 2 bên ta và địch, như thế sự phán đoán mới chính xác để xây dựng kế hoạch đứng đắn. Các điều kiện cần nghiên cứu là:"Đạo, thiên, địa, tướng và pháp".

1. -Chính trị (Đạo):tức là tư-tưởng về quan niệm hành xử của quốc gia làm thế nào để cả nước cùng ưnguyện"dân-quân hợp nhất, tướng-sĩ đồng tâm", như thế mới có lợi thế trong cuộc chiến.

2. -Thiên thời. Hành động phải thuận thời tiết, Mạnh-Tử nói:"Không khởi binh tác chiến vào mùa xuân, mùa thu để khỏi mất việc canh tác đồng áng, không hành quân vào mùa đông mùa hạ để tránh sự mệt nhọc cho binh sĩ ". Thật ra bên trong "thiên thời" hàm ư là lúc thuận tiện quốc gia sung túc cho binh sĩ đủ no đủ ấm là có thể khởi sự hành động.

3. -Địa lợi. Trong nghĩa dụng binh cần biết áp dụng những địa h́nh thuận lợi cho từng đoàn quân khác biệt trên chiến trường có thể công đánh dễ dàng, cũng có thể rút lui an toàn.

4. -Tướng lănh. Phải thực có mưu-lược, tài-trí, uy-tín, nhân-từ, dũng cảm và nghiêm minh

5. -Pháp chế:Chỉ chế độ tổ chức trong quân đội, quản lư tướng-sĩ, cung cấp quân nhu, hậu cần chỉnh tề, điều binh có phép đều là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thắng bại.

Trên nguyên tắc 5 vấn đề trên ngang bằng như nhau, nhưng trong sắp xếp tŕnh bày cho ta thấy có sự khác nhau, như ta thấy Tôn-Tử xếp "đạo" đầu tiên, trùng hợp với quan niệm Mạnh-Tử:"Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân ḥa", (điều này cho ta thấy tư tưởng Mạnh-tử có ảnh hưởng đến tư tưởng của Tôn-Tử, vậy quyển "Binh pháp Tôn-Tử" là quyển nói về tư tưởng đạo đức của chiến tranh hơn là "quyển sách nói về binh pháp, ta nh́n xem Lảo-Tử (570tcn-510tcn), Khổng-Tử (551tcn-479tcn), Tôn-Tử (540tcn-?) là những tử tưởng gia thời Xuân-thu Đông-Châu, c̣n Mạnh-Tử (372tcn-298tcn), Trang-Tử (369tcn-?), Tăng-Tử (300tcn-230tcn), đều là tư tưởng gia thời Chiến quốc Đông-Châu. ). Căn cứ vào mức độ hoàn bị 5 vấn đề trên rồi tạo thành một "Quân đội nhân nghĩa có kỷ luật dưới sự chỉ huy một tướng lănh đầy mưu trí trong một quốc gia có một pháp chế rơ ràng.

C. -Việc binh là ngụy trá. Có 12 cách ngụy trá:1. -Có thể đánh được, làm như không đánh. 2. -Muốn đánh, làm như không cần đánh. 3. -Muốn áp sát lại gần, tỏ ra cần lùi. 4. -Muốn tránh xa, làm như muốn tiến tới. 5. -Đối với kẽ địch tham lam, ta cần hối lộ. 6. -Đối với kẻ địch hổn loạn, ta cần thừa cơ. 7. -Khi địch mạnh, ta cần né tránh. 8. -Khi địch sung túc, ta cần đề pḥng. 9. -Khi địch ưa giận, ta cần khiêu khích. 10. -Khi địch rụt rè thận trọng, ta cần làm chúng kiêu căng. 11. -Khi địch nhàn hạ, ta cần làm chúng mệt mỏi. 12. -Khi địch đoàn kết, ta cần ly gián họ.

D. -Cần tính toán có kế hoạch quyết định thắng bại.

1. -Cần tính toán trước khi hành động. Phải tính toán kỹ lưỡng rồi, cân nhắc lợi hại giữa vấn đề đánh hay không đánh rồi mới tiến hành kế hoạch. Tôn-Tử thuộc phái binh gia mưu lược, nên chú trọng về việc tính toán cẩn thận, quan niệm tính toán chu đáo trước khi hành động

2. -Tinh toán chi thiết nhỏ sẽ thắng hơn tính toán sơ sài. Trước tiên cần so sánh thực lực 2 bên, "nghiên cứu 5 vấn đề và 7 t́nh huấn", để tiến hành phán đoán về khả năng thắng bại từ nhiều gốc độ trong kế sách chiến lược. Kế đến là mưu bày kế sách tác chiến dựa trên các điều kiện có lợi để ứng biến linh hoạt, giành quyền chủ động chiến trường.

3. -Tổng kết. Nghiên cứu lại các kế hoạch rồi quyết định và cần thứ tự thi hành. Đây là phương thức "tính toán" trong kế hoạch hành quân, đồng thời vẩn được áp dụng trên lĩnh vực kinh-tế, văn-hóa, chính trị và thương mại để thiết kế hoạch tŕnh từng ngành nghề.

II. -Tác chiến thiên. (Chuẩn bị tác chiến)

Chiến tranh là thảm khóc, là nguồn căn của sự tiêu diệt, dù thắng hay bại cũng gây nhiều tang thương, nên ta cần biết qua:

A. -Hậu qủa của chiến tranh. Chiến tranh không những chỉ thảm khóc nơi chiến trường, mà c̣n liên lụy đến sinh hoạt hậu phương, v́ cần chiến thắng nên hậu phương không ngừng tiếp ứng tiền tuyến, nhưng nếu chiến tranh quá lâu mà hậu phương không thể đáp ứng kịp th́ có thể hại đến công việc tác chiến tiền tuyến, như thế ta thấy chiến tranh thật đúng là con dao 2 lưỡi, sát hại được đối phương nhưng cũng có thể tổn hại đến ḿnh, bởi thế người có trách nhiệm với quốc gia dân tộc phải nghĩ đến tồn vọng của đất nước, cần am hiểu vai tṛ chiến tranh trong quyết định an nguy của quốc-gia. Bởi vậy:

B. -Tác chiến cần "Tốc chiến tốc thắng". Chiến tranh tạo nhiều liên lụy đến đời sống của quốc gia, cho nên chiến tranh trong Tôn-Tử chỉ là cứu cánh của ḥa b́nh, nên Tôn-Tử chủ trương tốc chiến tốc thắng để tránh sự thiệt hại đến quốc gia, nên mổi một cuộc chiến, lúc nào ông cũng đề ra phương sách an toàn để chiến thắng, điều kiện sinh tốn để chiến đấu, phải biết lấy tài vật từ bên địch để phục dưỡng quân ḿnh.

C. -Biết tận dụng quân dụng địch để bổ xung quân đội ḿnh. Đây là mục đích then chốt trong cuộc chiến lâu dài, v́ mọi chi phí chiến tranh sẽ giảm đi rất nhiều.

1. -Lấy lượng tài nguyên địch làm tiếp liệu của ḿnh. Tôn-Tử ước tính:"Công xử dụng cho 1 thạch cỏ của địch tương đương 20 công để chuyển 1 thạch cỏ từ nước ḿnh chuyển sang. Nói rơ ra là cần chiếm lấy những yếu điểm của địch như tiếp liệu lương thực, pḥng chuẩn bị cuộc chiến lâu dài. Đó là phương pháp khôn khéo trong phương thức chiến tranh trên đất địch:"Lấy lương nước địch, đoạt lợi từ địch, tạo thế mạnh cho ḿnh".

2. -Khuyến khích thưởng công cho người đầu tiên lấy được. Để hoàn tất công tác "giải quyết lương thực trên đất địch" nhằm"thắng được đối phương tăng thêm sức mạnh chính ḿnh". Tôn-Tử cổ vũ binh sĩ tích cực cướp lấy của cải đối phương, trong trường hợp đánh bằng xe, "nếu cướp được 10 xe chiến trở nên, th́ thưởng cho người đầu tiên cướp được". Như vậy các binh sĩ sẽ tích cực xông pha chiến trường, hăng hái chiến đấu. (Trong mục này có người hiểu sai câu"cổ vũ binh sĩ tích cực cướp lấy của cải đối phương", "Đối phương" ở đây là "binh lính địch" chứ không phải dân sống trên đất địch, cho nên ta thấy câu tiếp "Thưởng ai cướp được 10 xe chiến trở lên", v́ mổi "binh lính địch" đều có mang lương thực pḥng hờ trên ḿnh, khi họ chết rồi ta sẽ dùng lương thực đó. V́ sách viết không rơ ràng, nếu không hiểu ư, đội quân viển chinh sẽ trở thành đội quân không chính nghĩa.)

III. -Mưu công thiên. (kế sách, địch không biết).

 

Nói về kế sách cần thiết để thắng địch, Tôn-Tử quan-niệm:"Thượng sách là thuyết sách kiến địch quy phục, thứ nữa là dụng mưu làm địch kính phục, kế đó là thắng bằng ngoại giao, kế nữa là dùng binh giao chiến chót cùng là công thành, công thành là hạ sách, v́ tốn nhiều của cải và vật lực, cho nên người giỏi dùng binh là khiến địch khuất phục không cần giao chiến.

A. -Không đánh mà khuất phục địch. Ta đánh địch có nghĩa là ta muốn địch đầu hàng, nếu ta thuyết phục được địch mà không cần đánh là thượng sách, nếu địch muốn tấn công ta, ta làm sao cho địch rút quân không cần đánh là thượng sách, vấn đề này cần ở mưu lược của người chỉ huy, cho nên Tôn-Tử coi việc "không đánh mà thuyết phục địch" là thượng sách, kế đến mới dùng vũ lực để tấn công. Tôn-Từ coi trọng dụng mưu, chủ trương "Dùng chiến lược để giành chiến thắng trong thiên hạ". Thuyết phục địch có nhiều cách, chung quy là làm cho địch tin tưởng ta và hiểu được đạo quân ta là đạo quân chính nghĩa.

B. -Dùng mưu để thắng địch. Tôn-Tử phân chia cách thức dụng binh thành 4 cấp độ:Thượng sách là đấu mưu, kế đến là phương pháp ngoại giao, sau nữa là đấu vũ lực, cuối cùng mới xử dụng đến tấn công thành, tấn công thành là hạ sách, hao tốn nhiều tiền của, nên trong binh pháp Tôn-Tử nói về cách thức tấn công, ông chọn việc dụng mưu là thượng sách, như việc Ngô-Quyền dụ quân Nam-Hán vào sâu trên sông Bạch-Đằng trong lúc thủy triều cao, đến khi con nước ṛng, thuyền quân Nam-Hán bị cọc gỗ đầu bọc sắt của quân Ngô-Quyền gài sẳn mà đâm thủng thuyền Nam-Hán, rồi quân ta quay ngược lại chiến thắng quân Nam-Hán. (Trong quyển sách này đưa ví dụ của Lưu-Bang theo kế của Trần-B́nh để bắt Hàn-Tín, đây không phải là mưu lược chiến tranh mà là thủ đoạn của nhưng tên hèn hạ, nên tôi không ghi lại đầy đủ, và c̣n nhiều ví dụ khác sách này tŕnh bày không hợp lư về chiến thuật).

C. -Phương pháp tấn công cơ-bản nhất (lấy mạnh đánh yếu). Đó là cuộc chiến xẩy ra thực sự, Tôn-Tử chu trương an toàn trước tiên, cần nghiên cứu kỷ lưởng mới tiến hành giao chiến với địch, như thế mới chiếm ưu thế, ông đề ra nguyên tắc:Quân ta gấp 10 địch là bao vây, gấp 5 lần địch là tấn công, quân lực gấp đôi địch th́ giao chiến, quân lực tương đương th́ cần phân tán địch, quân lực ít hơn địch là pḥng thủ, quân lực yếu kém hơn địch cần tránh giao chiến"

D. -Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng. Để đạt đến mục đích này trong việc tác chiến là nắm chắc mọi thông tin về địch cũng như của ta. "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Không biết địch mà chỉ biết ta, trận thắng trận bại. Không biết địch mà cũng chẳng biết ta, chắc chắn là bại".

E. -Tập trung binh lực chiếm ưu thế. Tiêu diệt từng phần quân địch. Quân ta phải cần chiếm ưu thế trong mọi trường hợp để giành lấy chiến thắng, dù rằng ta đang ở trong t́nh trạng nguy khốn, như trong thế trận địch muốn bao vây ta, ta phải t́m cách ứng phó thối lui trong diều kiện yếu thế hơn địch, ta cần cân nhắc kỷ lưỡng về t́nh huấn đương thời cần nhất là phải biết rơ địch t́nh và trận thế hiện tại, cùng địa thế bố quân của ta và địch. Ư niệm "thực", "hư" trong binh pháp phải linh hoạt hành xử, phải biết cách tập trung binh lực để đánh bại từng phần bên địch, đây là phương pháp "bố trí chiến thuật", những nơi được rút quân cũng cần ngụy chứng để đánh lừa địch, để địch vẩn tưởng ta bất biến, như thế mới tạo được thế mạnh để tấn công từng phần của địch, trong lúc này những nơi khác vẩn tiếp tục kiềm giữ các lực lượng địch không thể rời vị trí đang chiếm đóng, điều cần nhất là không được tấn công truy khích địch, v́ ta biết rơ phần lớn quân ta đă tăng viện cho các cánh quân khác.

 

Tôn-Tử thường nhắc "Biết địch biết ta, trăm trận không bại".

 

 

Xem PHẦN 2

 

 

 

 

LINÊ KHÔI CHƯƠNG

(LKC)

Ngày 28/9/2014

 

Trở về Trang Tác giả

 

 

 

 


 


Trang BIÊN KHẢO LINH TINH